Thứ Ba, 18 tháng 2, 2014

TÁC ĐỘNG CỦA GIAO TIẾP ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU

Trường ĐH Công Nghiệp TP.HCM Tiểu luận: Giao tiếp kinh doanh
 Ngôn ngữ nói: Là công cụ giao tiếp được sử dụng phổ biến nhất.
Qua ngôn ngữ nói ta có thể nhận biết con người thông minh hay dốt nát,
người nóng nảy hay nhã nhặn, kẻ ích kỷ kiêu kăng hay người độ lượng
khiêm tốn.
 Ngôn ngữ viết: Được sử dụng rộng rãi trong giao tiếp dưới danh
thông báo, chỉ thị, nghị quyết, báo cáo, ký kết hợp đồng, thiếp mời, thiếp
chúc mừng, nội dung báo cáo…
 Ngôn ngữ biểu cảm: Là sự biểu lộ tình cảm, thái độ của con người
trong giao tiếp, thông qua dáng điệu, nét mặt, ánh mắt, nụ cười, cử chỉ…
1.2.3 Phong cách giao tiếp
Là hệ thống phương thức mà con người sử dụng khi giao tiếp và quan
hệ với nhau. Nó bao gồm một hệ thống các hành vi, cử chỉ, lời nói được sử
dụng trong quá trình giao tiếp.
Phong cách giao tiếp của con người có những nét đặc trưng sau:
 Mang tính ổn định cá nhân
 Mang tính ổn định xã hội
 Mang tính linh hoạt, mềm dẻo
1.3 Lý luận giao tiếp trong kinh doanh
1.3.1 Khái niệm, đặc điểm
• Khái niệm
Giao tiếp trong kinh doanh là mối quan hệ hay sự tiếp xúc giữa những
con người với nhau trong hoạt động kinh doanh như: Trong sản xuất, thương
mại, dịch vụ…
• Đặc điểm
 Mang tính nhận thức: Mỗi người đều ý thức được mục đích giao
tiếp nhiệm vụ, nội dung của tiến trình giao tiếp.
GVHD: Ts. Phạm Duy Hiếu SVTH: Lớp CDQT10TB
5
Trường ĐH Công Nghiệp TP.HCM Tiểu luận: Giao tiếp kinh doanh
 Trao đổi thông tin: Trong kinh doanh khi giao tiếp giúp thông tin
được lan từ người này sang người khác.
 Giao tiếp trong kinh doanh là một quan hệ xã hội,mang tính xã hội:
Mối quan hệ giữa cấp trên với cấp dưới, giữa doanh nghiệp với đối tác, đối
thủ…
 Giao tiếp trong kinh doanh mang tính chất lịch sử xã hội: Giao tiếp
bao giờ cũng được các cá nhân, doanh nghiệp thực hiện với nội dung cụ thể,
không gian thời gian xác định.
 Giao tiếp trong kinh doanh mang tính kế thừa và chọn lọc: thông
qua giao tiếp sẽ lưu giữ những dấu ấn về cấp trên,cấp dưới, đồng nghiệp,
khách hàng để những lần giao tiếp có thể vững vàng hơn chủ động hơn.
 Tính chủ thể trong giao tiếp: mỗi cá nhân trong giao tiếp đóng vai
trò khác nhau khi là người nói,khi là người nghe
 Sự lan truyền lây lan cảm xúc và tâm trạng: Con người có khả
năng đồng cảm khi giao tiếp, khi tiếp xúc tâm trạng của người này sẽ ảnh
hưởng đến người khác.
1.3.2 Một số nguyên tắc cơ bản trong giao tiếp
 Trong kinh doanh ai cũng quan trọng
 Phải nghiêm túc trong công việc và giao tiếp
 Kín đáo, thận trọng
 Không phung phí thời gian của mình và người khác
 Phải duy trì chữ tín
1.3.3 Các hoạt động giao tiếp chủ yếu trong kinh doanh
 Hội họp
 Tiếp khách
 Giao tiếp qua điện thoại,máy fax
 Đối thoại
GVHD: Ts. Phạm Duy Hiếu SVTH: Lớp CDQT10TB
6
Trường ĐH Công Nghiệp TP.HCM Tiểu luận: Giao tiếp kinh doanh
 Thư từ giao dịch
 Tiếp xúc với báo chí
CHƯƠNG II
TÁC ĐỘNG CỦA GIAO TIẾP ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG
XUẤT KHẨU
2.1 Những vấn đề chung về hoạt động xuất khẩu
2.1.1 Khái niệm xuất khẩu
Hoạt động xuất khẩu hàng hoá là việc bán hàng hoá và dịch vụ cho
một quốc gia khác trên cơ sở dùng tiền tệ làm phương tiên thanh toán, với
mục tiêu là lợi nhuận. Tiền tệ ở đây có thể là ngoại tệ đối với một quốc gia
hoặc với cả hai quốc gia. Mục đích của hoạt động này là khai thác được lợi
thế của từng quốc gia trong phân công lao động quốc tế. Khi việc trao đổi
hàng hoá giữa các quốc gia đều có lợi thì các quốc gia đều tích cực tham gia
mở rộng hoạt động này.
Hoạt động xuất khẩu là hoạt động xuất khẩu là hoạt động cơ bản của
hoạt động ngoại thương. Nó đã xuất hiện từ rất sớm trong lịch sử phát triển
của xã hội và ngày càng phát triển mạnh mẽ cả về chiều rộng và chiều sâu.
Hình thức sơ khai của chúng chỉ là hoạt động trao đổi hàng hoá nhưng cho
đến nay nó đã phát triển rất mạnh và đước biểu hiện dưới nhiều hình thức.
Hoạt động xuất khẩu diễn ra trên mọi lĩnh vực, trong mọi điều kiện
của nền kinh tế, từ xuất khẩu hàng tiêu dùng cho đến tư liệu sản xuất, máy
móc hàng hoá thiết bị công nghệ cao. Tất cả các hoạt động này đều nhằm
mục tiêu đem lại lợi ích cho quốc gia nói chung và các doanh nghiệp tham
gia nói riêng.
Hoạt động xuất khẩu diễn ra rất rộng về không gian và thời gian. Nó
có thể diễn ra trong thời gian rất ngắn song cũng có thể kéo dài hàng năm, có
thể đước diễn ra trên phậm vi một quốc gia hay nhiều quốc gia khác nhau.
GVHD: Ts. Phạm Duy Hiếu SVTH: Lớp CDQT10TB
7
Trường ĐH Công Nghiệp TP.HCM Tiểu luận: Giao tiếp kinh doanh
2.1.2 Vai trò của xuất khẩu đối với nền kinh tế
Xuất khẩu là một trong những tố tạo đà, thúc đẩy sự tăng trưởng và
phát triển kinh tế của mỗi quốc gia.
Theo như hầu hết các lý thuyết về tăng trưởng và phát triển kinh tế
đều khẳng định và chỉ rõ để tăng trưởng và phát triển kinh tế mỗi quốc gia
cần có bốn điều kiện là nguồn nhân lực, tài nguyên, vốn, kỹ thuật công nghệ.
Nhưng hầu hết các quốc gia đang phát triển (như Việt Nam ) đều thiếu vốn,
kỹ thuật công nghệ. Do vậy câu hỏi đặt ra làm thế nào để có vốn và công
nghệ
• Xuất khẩu tạo nguồn vốn cho nhập khẩu, phục vụ công nghiệp hoá, hiện
đại hoá đất nước.
Đối với mọi quốc gia đang phát triển thì bước đi thích hợp nhất là
phải công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước để khắc phục tình trạng nghèo
làn lạc hậu chận phát triển. Tuy nhiên quá trình công nghiệp hoá phải có một
lượng vốn lớn để nhập khẩu công nghệ thiết bị tiên tiến.
Thực tế cho thấy, để có nguồn vốn nhập khẩu một nước có thể sử dụng
nguồn vốn huy động chính như sau:
 Đầu tư nước ngoài, vay nợ các nguồn viện trợ
 Thu từ các hoạt động du lịch dịch vụ thu ngoại tệ trong nước
 Thu từ hoạt động xuất khẩu
Tầm quan trọng của vốn đầu tư nước ngoài thì không ai có thể phủ
nhận được, song việc huy động chúng không phải rễ dàng. Sử dụng nguồn
vốn này, các nước đi vay phải chịu thiệt thòi, phải chịu một số điều kiện bất
lợi và sẽ phải trả sau này.
GVHD: Ts. Phạm Duy Hiếu SVTH: Lớp CDQT10TB
8
Trường ĐH Công Nghiệp TP.HCM Tiểu luận: Giao tiếp kinh doanh
Bởi vì vậy xuất khẩu là một hoạt động tạo một nguồn vốn rất quan
trọng nhất. Xuất khẩu tạo tiền đề cho nhập khẩu, nó quyết định đến qui mô
tốc độ tăng trưởng của hoạt động nhập khẩu. ở một số nước một trong những
nguyên nhân chủ yếu của tình trạng kém phát triển là do thiếu tiềm năng về
vốn do đó họ cho nguồn vốn ở bên ngoài là chủ yếu, song mọi cơ hội đầu tư
vay nợ và viện trợ của nước ngoài chỉ thuận lợi khi chủ đầu tư và người cho
vay thấy được khả năng sản xuất và xuất khẩu –nguồn vốn duy nhất để trả
nợ thành hiện thực .
• Xuất khẩu thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế thúc đẩy sản xuất phát
triển
Dưới tác động của xuất khẩu, cơ cấu sản xuất và tiêu dùng của thế
giới đã và đang thay đổi mạnh mẽ. Xuất khẩu làm chuyển dịch cơ cấu kinh
tế của các quốc gia từ nông nghiệp chuyển sang công nghiệp và dịch vụ.
Có hai cách nhìn nhận về tác động của xuất khẩu đối với sản xuất và
chuyển dịch cơ cấu kinh tế.
Thứ nhất, chỉ xuất khẩu những sản phẩm thừa so với nhu cầu tiêu
dùng nội địa. Trong trường hợp nền kinh tế còn lạc hậu và chậm phát triển
sản xuất về cơ bản chưa đủ tiêu dùng, nếu chỉ thụ động chờ ở sự dư thừa ra
của sản xuất thì xuất khẩu chỉ bó hẹp trong phạm vi nhỏ và tăng trưởng
chậm, do đó các ngành sản xuất không có cơ hội phát triển.
Thứ hai, coi thị trường thế giới để tổ chức sản xuất và xuất khẩu.
Quan điểm này tác động tích cực đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế thúc đẩy
xuất khẩu. Nó thể hiện:
 Xuất khẩu tạo tiền đề cho các ngành cùng có cơ hội phát triển.
Điều này có thể thông qua ví dụ như khi phát triển ngành dệt may xuất khẩu,
các ngành khác như bông, kéo sợi, nhuộm, tẩy…sẽ có điều kiện phát triển.
GVHD: Ts. Phạm Duy Hiếu SVTH: Lớp CDQT10TB
9
Trường ĐH Công Nghiệp TP.HCM Tiểu luận: Giao tiếp kinh doanh
 xuất khẩu tạo điều kiện mở rộng thị trường sản phẩm, góp phầnổn
định sản xuất, tạo lợi thế nhờ quy mô.
 Xuất khẩu tạo điều kiện mở rộng khả năng cung cấp đầu vào cho
sản xuất, mở rộng thị trường tiêu dùng của một quốc gia. Nó cho phép một
quốc gia có rthể tiêu dùng tất cả các mặt hàng với số lương lớn hơn nhiều
lần giới hạn khả năng sản xuất của quốc gia đó thậm chí cả những mặt hàng
mà họ không có khả năng sản xuất được.
 Xuất khẩu góp phần thúc đẩy chuyên môn hoá, tăng cường hiệu
quả sản xuất của từng quốc gia. Nó cho phép chuyên môn hoá sản xuất phát
triển cả về chiều rộng và chiều sâu. Trong nền kinh tế hiện đại mang tính
toàn cầu hoá như ngày nay, mỗi loại sản phẩm người ta nghiên cứu thử
nghiệm ở nước thứ nhất, chế tạo ở nước thứ hai, lắp ráp ở nước thứ ba, tiêu
thụ ở nước thứ tư và thanh toán thực hiện ở nước thứ 5. Như vậy, hàng hoá
sản xuất ra ở mỗi quốc gia và tiêu thụ ở một quốc gia cho thấy sự tác động
ngược trở lại của chuyên môn hoá tới xuất khẩu.
Với đặc điêm quan trọng là tiền tệ sản xuất sử dụng làm phương tiện
thanh toán, xuất khẩu góp phần làm tăng dự trữ ngoại tệ một quốc gia. Đặc
biệt với các nước đang phát triển đồng tiền không có khả năng chuyển đổi
thì ngoại tệ có được nhờ xuất khẩu đóng vai trò quan trọng trong việc điều
hoà về cung cấp ngoại tệ, ổn định sản xuất, qua đó góp phần vào tăng trưởng
và phát triển kinh tế.
• Xuất khẩu có tác động tích cực tới việc giải quyết công ăn việc làm, cải
thiện đời sống nhân dân.
Đối với công ăn việc làm, xuất khẩu thu hút hàng triệu lao động thông
qua việc sản xuất hàng xuất khẩu. Mặt khác, xuất khẩu tạo ra ngoại tệ để
nhập khẩu hàng tiêu dùng đáp ứng yêu cầu ngay càng đa dạng và phong phú
của nhân dân.
GVHD: Ts. Phạm Duy Hiếu SVTH: Lớp CDQT10TB
10
Trường ĐH Công Nghiệp TP.HCM Tiểu luận: Giao tiếp kinh doanh
• Xuất khẩu là cơ sở để mở rộng và thúc đẩy sự phát triển các mối quan hệ
kinh tế đối ngoại.
Xuất khẩu và các mối quan hệ kinh tế đối ngoại, ngoại giao có tác
động qua lại, phụ thuộc lẫn nhau. Hoạt động xuất khẩu là cơ sở tiền đề vững
chắc để xây dựng các mối quan hề kinh tế đối ngoại sau này, từ đó kéo theo
các mối quan hệ khác phát triển như du lịch quốc tế, bảo hiểm quốc tế, tín
dụng quốc tế… ngược lại sự phát triển của các ngành này lại tác động trở lại
hoạt động xuất khẩu làm cơ sở hạ tầng cho hoạt động xuất khẩu phát triển.
Có thể nói xuất khẩu nói riêng và hoạt động thương mại quốc tế nói
chung sẽ dẫn tới những sự thay đổi trong sinh hoạt tiêu dùng hàng hoá của
nền kinh tế bằng hai cách:
 Cho phép khối lượng hàng tiêu dùng nhiều hơn với số hàng hoá
được sản xuất ra.
 Kéo theo sự thay đổi có lợi cho phù hợp với các đặc điểm của sản
xuất
Tuy nhiên, tuỳ thuộc vào điều kiện cụ thể của từng quốc gia mà các
tác động của xuất khẩu đối với các quốc gia khác nhau là khác nhau.
2.1.3 Vai trò của hoạt động xuất khẩu đối với các doanh nghiệp
Cùng với sự bùng nổi của nền kinh tế toàn cầu thì xu hướng vươn ra
thị trường quốc tế là một xu hướng chung của tất cả các quốc gia và các
doanh nghiệp.
Xuất khẩu là một trong những con đường quen thuộc để các doanh
nghiệp thực hiện kế hoạch bành trướng, phát triển, mở rộng thị trường của
mình.
Xuất khẩu tạo điều kiện cho các doanh nghiệp mở rộng thị trường tiêu
thụ sản phẩm do doanh nghiệp sản xuất ra. Nhờ có xuất khẩu mà tên tuổi của
GVHD: Ts. Phạm Duy Hiếu SVTH: Lớp CDQT10TB
11
Trường ĐH Công Nghiệp TP.HCM Tiểu luận: Giao tiếp kinh doanh
doanh nghiệp không chỉ được các khách hàng trong nước biết đến mà còn có
mặt ở thị trường nước ngoài.
Xuất khẩu tạo nguồn ngoại tệ cho các doanh nghiệp, tăng dự trữ qua
đó nâng cao khả năng nhập khẩu, thay thế, bổ sung, nâng cấp máy móc, thiết
bị, nguyên vật liệu… phục vụ cho quá trình phát triển.
Xuất khẩu phát huy cao độ tính năng động sáng tạo của cán bộ XNK
cũng như các đơn vị tham gia như: tích cực tìm tòi và phát triển các mặt
trong khả năng xuất khẩu các thị trường mà doanh nghiệp có khả năng thâm
nhập.
Xuất khẩu buộc các doanh nghiệp phải luôn luôn đổi mới và hoàn
thiện công tác quản trị kinh doanh. Đồng thời giúp các doanh nghiệp kéo dài
tuổi thọ của chu kỳ sống của một sản phẩm.
Xuất khẩu tất yếu dẫn đến cạnh tranh, theo dõi lần nhau giữa các đơn
vị tham gia xuất khẩu trong và ngoài nước. Đây là một trong những nguyên
nhân buộc các doanh nghiệp tham gia xuất khẩu phải nâng cao chất lượng
hàng hoá xuất khẩu, các doanh nghiệp phải chú ý hơn nữa trong việc hạ giá
thành của sản phẩm, từ đó tiết kiệm các yếu tố đầu vào, hay nói cách khác
tiết kiệm các nguồn lực.
Sản xuất hàng xuất khẩu giúp doanh nghiệp thu hút được thu hút được
nhiều lao động bán ra thu nhập ổn định cho đời sống cán bộ của công nhân
viên và tăng thêm thu nhập ổn định cho đời sống cán bộ của công nhân viên
và tăng thêm lợi nhuận.
Doanh nghiệp tiến hành hoạt động xuất khẩu có cơ hội mở rộng quan
hệ buôn bán kinh doanh với nhiều đối tác nước ngoài dựa trên cơ sở đôi bên
cùng có lợi.
2.1.4 Nhận xét
GVHD: Ts. Phạm Duy Hiếu SVTH: Lớp CDQT10TB
12
Trường ĐH Công Nghiệp TP.HCM Tiểu luận: Giao tiếp kinh doanh
Như vậy hoạt động xuất khẩu có vai trò đặc biệt đối với nền kinh tế
cũng như tạo ra giá trị cao hơn cho các doanh nghiệp. Tuy nhiên để có được
một hợp đồng xuất khẩu không phải là dễ. Trước tiên nó phải trải qua những
vòng thương thảo đầy gây cấn trong đó nhà xuất khẩu sẽ phải thể hiện được
hết những gì tốt nhất của sản phẩm của mình dựa vào khả năng giao tiếp,
thuyết phục được người khác.
Như vậy giao tiếp đóng vai trò quyết định trong sự thành bại của một
hợp đồng xuất khẩu, vì thế các doanh nghiệp cần phải nhìn rõ sự quan trọng
của giao tiếp để có một sự chuẩn bị tốt hơn và giành một lợi thế nhất định.
2.2 Vai trò và ý nghĩa của giao tiếp trong xuất khẩu
2.2.1 vai trò của hoạt động xuất khẩu
 Để đàm phán, thảo luận, bàn bạc, đi đến ký kết các hợp đồng xuất
khẩu, để thực hiện quá trình mua bán… giao tiếp giúp truyền đạt các chỉ thị,
mệnh lệnh… hay nói một cách khác là để thực hiện chức năng giao tiếp cơ
bản của hoạt động xuất khẩu.
 Trên thương trường giao tiếp giúp con người tìm hiểu, tiếp nhận
các thông tin, từ đó đề ra những quyết định chính xác và kịp thời cho hoạt
động xuất khẩu.
 Trong cuộc sống, giao tiêp giúp con người trao đổi, tâm sự tình
cảm, ý nghĩ với nhau.
 Ngày nay giao tiếp trong hoạt động xuất khẩu càng có tầm quan
trọng đặc biệt do môi trường kinh doanh đang có những biến đổi lớn, tổ
chức, đối tác, phong cách và nội dung quản lý…cũng đã thay đổi nhiều đòi
hỏi các nhà quản trị kinh doanh cần phải xác lập các chuẩn mực về úng xử
để phù hợp với hoàn cảnh trong và ngoài nước.
2.2.2 Ý nghĩa của giao tiếp trong hoạt động xuất khẩu.
GVHD: Ts. Phạm Duy Hiếu SVTH: Lớp CDQT10TB
13
Trường ĐH Công Nghiệp TP.HCM Tiểu luận: Giao tiếp kinh doanh
Giao tiếp trong hoạt động xuất khẩu sẽ tạo được mối quan hệ tốt đẹp
với các đối tác, với bạn hàng, với cấp trên, với cộng sự và đó cũng là những
tiêu chuẩn quan trọng để tuyển chọn người lãnh đạo kinh doanh.
Giao tiếp trong kinh doanh có tác dụng truyền bá, giao lưu văn hóa,
văn minh giữa các dân tộc trên Thế giới, là tấm gương phán ánh trình độ con
người, đất nước về lối sống, phong tục, tập quán… của mỗi dân tộc, thúc
đẩy xã hội ngày càng phát triển, tạo điều kiện hòa nhập với Thế giới.
Đặc biệt trong kinh doanh, giao tiếp còn là môi trường thuận lợi để
học hỏi, nâng cao trình độ, nghệ thuật kinh doanh, xóa bỏ thói quen ích kỷ,
hẹp hòi, bảo thủ, lạc hậu….
2.3 Hạn chế giao tiếp trong hoạt động xuất khẩu
2.3.1 Các hạn chế trong giao tiếp
 Nói nửa chừng rồi dừng lại hoặc cướp lời người đang nói, làm
nhiễu thứ tự hoặc luồng suy nghĩ của người đó.
 Không nói rõ và giải thích đầy đủ làm người nghe cảm thấy đột
ngột, khó hiểu đề tài nói chuyện của bạn.
 Nói sai đề tài, không quan tâm đến điều mình nói.
 Nói thao thao bất tuyệt, không ngừng nêu các câu hỏi làm người
tiếp chuyện có cảm giác mình yêu cầu hơi nhiều quá.
 Không trả lời thẳng vào câu hỏi mà người khác nêu ra, quanh co,
dài dòng, gây nên cảm giác không trung thực cho người hỏi.
 Tự cho rằng mọi điều mình đều biết cả.
 Làm ra vẻ hiểu biết sâu rộng.
 Phát triển câu chuyện không tập trung vào chủ đề chính làm cho
người tiếp chuyện cảm thấy nhàm chán.
 Ngắt bỏ hứng thú nói chuyện của người khác để ép người đó phải
chuyển sang nói về đề tài mà bạn thích.
GVHD: Ts. Phạm Duy Hiếu SVTH: Lớp CDQT10TB
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét