Chủ Nhật, 23 tháng 2, 2014

Vốn cố định

Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
Từ những nội dung trình bày trên, có thể rút ra định nghĩa về TSCĐ trong
doanh nghiệp nh sau:
Tài sản cố định trong các doanh nghiệp là các t liệu lao động chủ yếu có giá trị
lớn, tham gia vào nhiều chu kỳ sản xuất, còn giá trị của nó thì đợc chuyển dịch dần
từng phần vào giá trị sản phẩm trong các chu kỳ sản xuất.
Trong điều kiện nền kinh tế thị trờng, các TSCĐ của doanh nghiệp cũng đợc
coi nh một loại hàng hoá thông thờng khác. Nó không chỉ có giá trị mà còn có giá
trị sử dụng. Thông qua mua bán, trao đổi các TSCĐ có thể đợc chuyển dịch quyền
sở hữu và quyền sử dụng từ chủ thể này sang chủ thể khác trên thị trờng.
1.1.3. Các tiêu thức chủ yếu dùng trong phân loại TSCĐ.
Phân loại TSCĐ là việc phân chia toàn bộ TSCĐ của doanh nghiệp theo những
tiêu thức nhất định nhằm phục vụ yêu cầu quản lý của doanh nghiệp. Trong doanh
nghiệp, TSCĐ có thể đợc phân loại theo nhiều tiêu thức khác nhau tuỳ thuộc vào
hình thức quản lý và sử dụng TSCĐ của mỗi doanh nghiệp.
Thông thờng có những cách phân loại chủ yếu sau:
1.1.3.1. Phân loại TSCĐ theo hình thái biểu hiện:
Theo phơng pháp này TSCĐ của doanh nghiệp đợc chia thành 2 loại: TSCĐ
có hình thái vật chất (TSCĐ hữu hình) và TSCĐ không có hình thái vật chất (TSCĐ
vô hình). Trong quyết định số 166/QĐ-BTC ngày 30 tháng 12 năm 1999 của Bộ tr-
ởng Bộ Tài chính có đa ra khái niệm về TSCĐ nh sau:
- TSCĐ hữu hình: là những t liệu lao động chủ yếu có hình thái vật chất (từng
đơn vị tài sản có kết cấu độc lập hoặc là một hệ thống gồm nhiều bộ phận tài sản
liên kết với nhau để thực hiện một hay một số chức năng nhất định) có giá trị lớn và
thời gian sử dụng lâu dài, tham gia vào nhiều chu kỳ kinh doanh nhng vẫn giữ
nguyên hình thái vật chất ban đầu nh nhà cửa, vật kiến trúc, máy móc, thiết bị
- TSCĐ vô hình: là những TSCĐ không có hình thái vật chất cụ thể, thể hiện
một lợng giá trị đã đợc đầu t có liên quan trực tiếp đến nhiều chu kỳ kinh doanh của
5
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
DN nh: chi phí thành lập DN; chi phí về sử dụng đất; chi phí về bằng phát minh,
bằng sáng chế, bản quyền tác giả, nhãn hiệu thơng mại, giá trị lợi thế thơng mại
Cách phân loại này giúp cho doanh nghiệp thấy đợc cơ cấu đầu t vào TSCĐ
hữu hình và TSCĐ vô hình. Từ đó lựa chọn các quyết định đầu t hoặc điều chỉnh cơ
cấu đầu t sao cho phù hợp và hiệu quả nhất.
1.1.3.2. Phân loại TSCĐ theo mục đích sử dụng:
Theo tiêu thức này, toàn bộ TSCĐ của DN đợc chia làm 3 loại:
- TSCĐ dùng cho mục đích kinh doanh: là những TSCĐ dùng trong sản xuất
kinh doanh cơ bản và hoạt động sản xuất kinh phụ của doanh nghiệp .
- TSCĐ dùng cho mục đích phúc lợi, sự nghiệp, an ninh, quốc phòng: đó là
những TSCĐ do doanh nghiệp quản lý và sử dụng cho các hoạt động phúc lợi, sự
nghiệp, bảo đảm bảo an ninh, quốc phòng của doanh nghiệp.
- Các TSCĐ bảo quản hộ, giữ hộ, cất giữ hộ Nhà nớc: là những TSCĐ doanh
nghiệp bảo quản hộ, giữ hộ cho đơn vị khác hoặc cho Nhà nớc theo quyết định của
cơ quan Nhà nớc có thẩm quyền.
Cách phân loại này giúp cho doanh nghiệp thấy đợc cơ cấu TSCĐ của mình
theo mục đích sử dụng. Từ đó có biện pháp quản lý TSCĐ theo mục đích sử dụng
sao cho có hiệu quả nhất.
1.1.3.3. Phân loại TSCĐ theo công dụng kinh tế: toàn bộ TSCĐ của doanh nghiệp có
thể chia thành các loại sau:
- Nhà cửa, vất kiến trúc: là những TSCĐ của doanh nghiệp đợc hình thành sau
quá trình thi công xây dựng nh: nhà xởng, trụ sở làm việc, nhà kho, tháp nớc, sân
bay, đờng xá, cầu cảng
- Máy móc, thiết bị: là toàn bộ các máy móc, hiết bị dùng trong hoạt động sản
xuất kinh doanh của doanh nghiệp nh: máy móc, thiết bị động lực, máy móc công
tác, thiết bị chuyên dùng, những máy móc đơn lẻ
6
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
- Phơng tiện vận tải, thiết bị truyền dẫn: là các loại phơng tiện vận tải nh: ph-
ơng tiện đờng sắt, đờng thuỷ, đờng bộ, đờng không, đờng ống và các thiết bị truyền
dẫn nh hệ thống điện, hệ thống thông tin, đờng ống dẫn nớc, khí đốt, băng tải
- Thiết bị, dụng cụ quản lý: là những thiết bị, dụng cụ dùng trong công tác quản
lý hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp nh máy vi tính, thiết bị điện tử,
dụng cụđo lờng, kiểm tra chất lợng, máy hút bụi, hút ẩm
- Vờn cây lâu năm, súc vật làm việc hoặc cho sản phẩm: là các vờn cây lâu năm
nh: vờn chề, cà phê, cao su, vờn cây ăn quả, thảm cỏ, thảm cây xanh, súc vật làm
việc hoặc cho sản phẩm nh đàn voi, đàn bò, đàn ngựa
- Các loại TSCĐ khác: là toàn bộ các TSCĐ cha liệt kê vào 5 loại trên nh các
tác phẩm nghệ thuật, tranh ảnh
Cách phân loại này cho thấy công dụng cụ thể của từng loại TSCĐ trong
doanh nghiệp, tạo điều kiện thuận lợi cho việc quản lý, sử dụng TSCĐ và tính toán
khấu hao TSCĐ chính xác.
1.1.3.4. Phân loại TSCĐ theo tình hình sử dụng: bao gồm:
- TSCĐ đang sử dụng: đó là những TSCĐ doanh nghiệp đang sử dụng cho các
hoạt động sản xuất kinh doanh hoặc các hoạt động phúc lợi, sự nghiệp hoặc an ninh,
quốc phòng của doanh nghiệp.
- TSCĐ cha cần dùng: là những TSCĐ cần thiết cho hoạt động sản xuất kinh
doanh hay các hoạt động khác của doanh nghiệp song hiện tại cha cần dùng, đang đ-
ợc dự trữ để sử dụng sau này.
- TSCĐ không cần dùng: là những TSCĐ không cần thiết hay không phù hợp
với nhiệm vụ sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, cần đợc thanh lý, nhợng bán để
thu hồi vốn đầu t đã bỏ ra ban đầu.
Cách phân loại này cho thấy mức độ sử dụng có hiệu quả các TSCĐ của doanh
nghiệp nh thế nào, từ đó có biện pháp nâng cao hơn nữa hiệu quă sử dụng chúng.
7
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
Mỗi cách phân loại cho phép đánh giá, xem xét kết cấu TSCĐ của doanh
nghiệp theo các tiêu thức khác nhau. Kết cấu TSCĐ là tỷ trọng giữa nguyên giá của
một loại TSCĐ nào đó so với tổng nguyên giá các loại TSCĐ của doanh nghiệp tại
một thời điểm nhất định.
Kết cấu TSCĐ giữa các doanh nghiệp trong các ngành sản xuất kkhác nhau
thậm chí trong cùng một ngành sản xuất cũng không hoàn toàn giống nhau. Sự khác
biệt hoặc biến động của kết cấu TSCĐ của doanh nghiệp trong các thời kỳ khác
nhau chịu ảnh hởng của nhiều nhân tố nh quy mô sản xuất, khả năng thu hút vốn
đầu t, khả năng tiêu thụ sản phẩm trên thị trờng, trình độ tiến bộ khoa học kỹ thuật
trong sản xuất Tuy nhiên đối với các doanh nghiệp, việc phân loại và phân tích kết
cấu TSCĐ là một việc làm cần thiết giúp doanh nghiệp chủ động điều chỉnh kết câú
TSCĐ sao cho có lợi nhất cho việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn cố định của
doanh nghiệp.
1.1.4. Vốn cố định và các đặc điểm luân chuyển của vốn cố định.
Quản trị vốn cố định là một nội dung quan trọng trong quản lý vốn kinh doanh
của các doanh nghiệp. Điều đó không chỉ ở chỗ vốn cố định thờng chiếm một tỷ
trọng lớn trong tổng số vốn kinh doanh của doanh nghiệp, có ý nghĩa quyết định tới
năng lực sản xuất của doanh nghiệp mà còn do việc sử dụng vốn cố định thờng gắn
liền với hoạt động đầu t dài hạn, thu hồi vốn chậm và dễ gặp rủi ro.
Trong điều kiện nền kinh tế thị trờng, việc mua sắm, xây dựng hay lắp đặt các
TSCĐ của doanh nghiệp đều phải thanh toán, chi trả bằng tiền. Số vốn đầu t ứng trớc
để mua sắm, xây dựng hay lắp đặt các TSCĐ hữu hình và vô hình đợc gọi là vốn cố
định của doanh nghiệp. Đó là số vốn đầu t ứng trớc vì số vốn này nếu đợc sử dụng
có hiệu quả sẽ không bị mất đi và doanh nghiệp sẽ thu hồi lại đợc sau khi tiêu thụ
các sản phẩm hàng hoá hay dịch vụ của mình.
Là số vốn ứng trớc để mua sắm, xây dựng các TSCĐ nên quy mô của vốn cố
định nhiều hay ít sẽ quyết định quy mô của TSCĐ, ảnh hởng rất lớn đến trình độ
trang bị kỹ thuật và công nghệ, năng lực sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Song ngợc lại những đặc điểm kinh tế của TSCĐ trong quá trình sử dụng lại có ảnh
8
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
hởng quyết định, chi phối đặc điểm tuần hoàn và chu chuyển của vốn cố định. Có
thể khái quát những nét đặc thù về sự vận động của vốn cố định trong quá trình sản
xuất kinh doanh nh sau:
Một là: Vốn cố định tham gia vào nhiều chu kỳ sản xuất sản phẩm, điều này do
đặc điểm của TSCĐ đợc sử dụng lâu dài trong nhiều chu kỳ quyết định.
Hai là: Vốn cố định đợc luân chuyển dần dần từng phần trong các chu kỳ sản
xuất. Khi tham gia vào quá trình sản xuất, một bộ phận vốn cố định đợc luân chuyển
và cấu thành chi phí sản xuất sản phẩm (dới hình thức chi phí khấu hao) tơng ứng
với phần giá trị hao mòn của TSCĐ.
Ba là: Sau nhiều chu kỳ sản xuất vốn cố định mới hoàn thành một vòng luân
chuyển. Sau mỗi chu kỳ sản xuất, phần vốn đợc luân chuyển vào mỗi chu kỳ sản
phẩm dần dần tăng lên, song phần vốn đầu t ban đầu vào TSCĐ lại dần giảm xuống
cho đến khi TSCĐ hết thời gian sử dụng, giá trị của nó đợc chuyển dịch hết vào giá
trị sản phẩm đã sản xuất thì vốn cố định mới hoàn thành một vòng luân chuyển.
Nội dung quản lý việc bỏ vốn để tạo ra hệ thống TSCĐ trong doanh nghiệp đợc
thực hiện thông qua hoạt động đầu t xây dựng cơ bản (XDCB) và công tác XDCB để
thực hiện quá trình đầu t đó. Quá trình này đợc bắt đầu từ việc xác định nhiệm vụ
đầu t, tiếp đến là tổ chức công tác XDCB để biến vốn dới hình thái tiền tệ thành vốn
biểu hiện dới hình thái hiện vật - TSCĐ nh: nhà cửa, vật kiến trúc, máy móc thiết bị,
phơng tiện vận tải sẽ đa vào quá trình sử dụng trong quá trình sản xuất kinh doanh.
Quá trình đó có thể mô hình hoá bằng sơ đồ có nguyên tắc sau:

TLSX
T{ XDCB P
xd
TSCĐ T'.
SLĐ
t
1
t
2
t
1
: giai đoạn hình thành TSCĐ.
t
2
: giai đoạn sử dụng TSCĐ và thu hồi vốn trong quá trình sxkd.
Những đặc điểm luân chuyển trên đây của vốn cố định đòi hỏi việc quản lý
vốn cố định phải luôn gắn liền với việc quản lý hình thái hiện vật của nó là các
TSCĐ của doanh nghiệp.
9
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
Từ những phân tích nêu trên có thể đa ra khái niệm về vốn cố định nh sau:
Vốn cố định của doanh nghiệp là một bộ phận của vốn đầu t ứng trớc về TSCĐ mà
đặc điểm của nó là luân chuyển dần dần từng phần trong nhiều chu kỳ sản xuất và
hoàn thành một vòng tuần hoàn khi TSCĐ hết thời gian sử dụng.
Việc nghiên cứu một cách kỹ lỡng về TSCĐ và vốn cố định là cơ sở để xem xét
tổ chức, quản lý sản xuất đa ra các giải pháp đẩy mạnh sản xuất kinh doanh nâng
cao hiệu quả sử dụng vốn cố định trong mỗi doanh nghiệp.
1.2. Hiệu quả sử dụng vốn cố định và sự cần thiết của việc
nâng cao hiệu quả sử dụng vốn cố định của các doanh
nghiệp trong điều kiện nền kinh tế thị trờng.
1.2.1. Hiệu quả sử dụng vốn cố định.
Hiệu quả kinh tế là phạm trù phản ánh trình độ và khả năng đảm bảo thực hiện
có kết quả cao những nhiệm vụ kinh tế - xã hội nhất định với chi phí nhỏ nhất. Về
mặt lợng, hiệu quả kinh tế biểu hiện mối tơng quan giữa kết quả thu đợc với chi phí
bỏ ra để thực hiện nhiệm vụ sản xuất kinh doanh. Kết quả thu đợc càng cao, chi phí
bỏ ra còn nhỏ, hiệu quả kinh tế thu đợc càng lớn. Về mặt chất, việc đạt đợc hiệu quả
cao phản ánh năng lực và trình độ quản lý, đồng thời cũng đòi hỏi sự gắn bó giữa
việc đạt đợc những mục tiêu kinh tế với việc đạt đợc những mục tiêu XH.
Vốn là điều kiện vật chất cần thiết cho hoạt động sản xuất kinh doanh và điều
thực sự cần quan tâm là vốn đợc sử dụng với hiệu quả nh thế nào? Ngời ta thờng so
sánh doanh thu và lợi nhuận với số vốn đợc huy động và sử dụng bình quân trong
năm. Tuy nhiên, dù tính bằng cách nào thì cũng cần thiết xuất phát từ mục tiêu kinh
doanh của doanh nghiệp. Doanh nghiệp có thể đạt đợc một doanh thu lớn nhng
không có lợi nhuận hoặc bị lỗ thì điều đó cũng không thể nói rằng kinh doanh có
hiệu quả. Do vậy, hiệu quả của vốn đợc thể hiện bằng lợi nhuận tạo ra trên 1 đồn
vốn. Trong kinh tế thị trờng, chỉ tiêu này rất quan trọng, nó sẽ chỉ cho nhà doanh
10
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
nghiệp rằng: doanh nghiệp nên tiếp tục sản xuất hay chuyển sang sản xuất ở lĩnh
vực khác, khả năng còn có thể tồn tại và đi lên hoặc là tuyên bố phá sản.
Trong các doanh nghiệp, vốn cố định là một bộ phận quan trọng của vốn đầu t
nói riêng và vốn sản xuất nói chung. Nó chiếm một tỷ trọng lớn trong tổng tài sản
của doanh nghiệp. Vì vậy, quản trị và sử dụng hợp lý vốn cố định có ảnh hởng rất
quan trọng đối với việc hoàn thành nhiệm vụ chung của doanh nghiệp và là nhân tố
quyết định đến trình độ trang bị kỹ thuật của doanh nghiệp.
Đặc điểm của vốn cố định là phải trải qua một thời gian dài mới hoàn thành đ-
ợc một vòng luân chuyển. Vấn đề đặt ra đòi hỏi sự quan tâm của các nhà quản lý
doanh nghiệp là làm thế nào để vốn cố định trong suốt thời gian dài tham gia vào
quá trình sản xuất tạo ra đợc nhiều sản phẩm mang lại nhiều lợi nhuận cho doanh
nghiệp. Hay nói cách khác là làm thế nào để sử dụng vốn cố định một cách có hiệu
quả, nhằm thực hiện đợc mục đích kinh doanh của doanh nghiệp là làm ra càng
nhiều lợi nhuận càng tốt.
Hiệu quả sử dụng vốn cố định là mối quan hệ giữa kết quả đạt đợc trong quá
trình đầu t, khai thác sử dụng vốn cố định vào sản xuất và số vốn cố định đã sử dụng
để đạt đợc kết quả đó. Nó thể hiện lợng giá trị sản phẩm, hàng hoá lao vụ sản xuất ra
trên 100 đồng vốn cố định tham gia vào sản xuất, hay mức vốn cố định cần tham gia
vào quá trình sản xuất kinh doanh để đạt một lợng giá trị sản phẩm hàng hoá lao vụ,
dịch vụ.
Để đánh giá hiệu quả sử dụng vốn cố định trong các DN cần phải kết hợp các
chỉ tiêu tổng hợp với các chỉ tiêu phân tích để rút ra những quyết định chính xác.
1.2.2. Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn cố định của doanh nghiệp. bao
gồm các chỉ tiêu tổng hợp và các chỉ tiêu phân tích sau đây:
1.2.2.1. Các chỉ tiêu tổng hợp:
a, Chỉ tiêu hiệu suất sử dụng vốn cố định: là tỷ số giữa doanh thu hoặc doanh thu
thuần trong kỳ so với số vốn cố định bình quân trong kỳ.
Hiệu suất sử dụng
=
Doanh thu (hoặc doanh thu thuần) trong kỳ
11
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
vốn cố định Số vốn cố định bình quân trong kỳ
Chỉ tiêu này phản ánh 1 đồng vốn cố định có thể tạo ra bao nhiêu đồng doanh
thu hoặc doanh thu thuần trong kỳ.
b, Số vốn cố định bình quân trong kỳ: đợc tính theo phơng pháp bình quân số học
giữa số vốn cố định ở đầu kỳ và cuối kỳ:
Số vốn cố định


=
Số vốn cố định đầu kỳ + Số vốn cố định cuối kỳ
bình quân trong kỳ

2
Trong đó số vốn cố định ở đầu kỳ hoặc cuối kỳ đợc tính theo công thức:
Số vốn cố định ở đầu
=
Nguyên giá TSCĐ ở
+
Số tiền khấu hao luỹ kế
kỳ (hoặc cuối kỳ) đầu kỳ (hoặc cuối kỳ) ở đầu kỳ (hoặc cuối kỳ)
Nguyên giá TSCĐ
=
Nguyên giá
+
Nguyên giá TSCĐ

_
Nguyên giá TSCĐ
cuối kỳ TSCĐ đầu kỳ tăng trong kỳ giảm trong kỳ
Số tiền Số tiền Số tiền Số tiền
Khấu hao luỹ kế
=
Khấu hao
+
Khấu hao tăng

_

Khấu hao giảm
ở cuối kỳ ở đầu kỳ trong kỳ trong kỳ
c, Chỉ tiêu hàm lợng vốn cố định: là đại lợng nghịch đảo của chỉ tiêu hiệu suất sử
dụng vốn cố định. Nó phản ánh để tạo ra 1 đồng doanh thu hoặc doanh thu thuần
cần bao nhiêu đồng vốn cố định:
Hàm lợng
=
Số vốn cố định bình quân trong kỳ
vốn cố định Doanh thu (hoặc doanh thu thuần) trong kỳ
d, Chỉ tiêu tỷ suất lợi nhuận vốn cố định: Chỉ tiêu này phản ánh cứ 1 đồng vốn cố
định bình quân trong kỳ tham gia tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhận trớc thuế (hoặc lợi
nhuận sau thuế thu nhập).
Tỷ suất lợi nhuận
=
Lợi nhuận trớc thuế (hoặc lợi nhuận sau thuế thu nhập)
vốn cố định Số vốn cố định bình quân trong kỳ
Đây đợc coi là một chỉ tiêu quan trọng để đánh giá chất lợng và hiệu quả đầu t
cũng nh chất lợng sử dụng vốn cố định của doanh nghiệp.
1.2.2.2. Các chỉ tiêu phân tích.
12
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
Ngoài các chỉ tiêu tổng hợp nêu trên, ngời ta còn sử dụng một số chỉ tiêu phân
tích sau đây:
a, Hệ số hao mòn TSCĐ: chỉ tiêu này phản ánh mức độ hao mòn của TSCĐ trong
doanh nghiệp so với thời điểm đầu t ban đầu, cho phép đánh giá mức thu hồi vốn cố
định của doanh nghiệp. Hệ số càng lớn cứng tỏ mức độ hao mòn TSCĐ càng cao,
máy móc thiết bị đã cũ và ngợc lại.
Hệ số hao mòn
=
Số tiền khấu hao luỹ kế của TSCĐ
TSCĐ Nguyên giá TSCĐ ở thời điểm đánh giá
b, Hiệu suất sử dụng TSCĐ: chỉ tiêu này phản ánh một đồng TSCĐ trong kỳ tham gia
tạo ra đợc bao nhiêu đồng doanh thu (hoặc doanh thu thuần trong kỳ). Hiệu suất
càng lớn chứng tỏ hiệu suất sử dụng TSCĐ càng cao. Đây cũng là một chỉ tiêu rất
quan trọng trong việc đánh giá hiệu quả sử dụng TSCĐ.
Hiệu suất sử dụng
=
Doanh thu (hoặc doanh thu thuần) trong kỳ
TSCĐ Nguyên giá TSCĐ bình quân trong kỳ
c, Hệ số trang bị TSCĐ cho một công nhân trực tiếp sản xuất: phản ánh giá trị TSCĐ
bình quân trang bị cho một công nhân trực tiếp sản xuất. Hệ số càng lớn phản ánh
mức độ trang bị TSCĐ cho sản xuất của doanh nghiệp càng cao.
Hệ số trang bị
=
Nguyên giá TSCĐ bình quân trong kỳ
TSCĐ Số lợng công nhân trực tiếp sản xuất
d, Tỷ suất đầu t TSCĐ: phản ánh mức độ đầu t vào TSCĐ trong tổng giá trị tài sản
của doanh nghiệp. Nói một cách khác là trong một đồng giá trị TSCĐ của doanh
nghiệp có bao nhiêu đồng đợc đầu t vào TSCĐ. Tỷ suất càng lớn chứng tỏ doanh
nghiệp đã chú trọng đầu t vào TSCĐ.
Tỷ suất đầu t
=
Giá trị còn lại của TSCĐ
ì

100%
vào TSCĐ Tổng tài sản
Ngoài ra còn có tỷ suất tự tài trợ TSCĐ: tỷ suất này cung cấp thông tin cho biết
số vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp dùng để trang bị TSCĐ là bao nhiêu:
Tỷ suất tự tài trợ
=

Vốn chủ sở hữu
TSCĐ TSCĐ và đầu t dài hạn
13
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
Tỷ suất này nếu lớn hơn 1 chứng tỏ doanh nghiệp có khả năng tài chính vững
vàng và lành mạnh. Khi tỷ suất này nhỏ hơn 1 thì một bộ phận của TSCĐ sẽ đợc tài
trợ bằng nguồn vốn vay và thông thờng các doanh nghiệp vay dài hạn để đầu t cho
TSCĐ.
e, Kết cấu TSCĐ của doanh nghiệp: Chỉ tiêu này phản ánh quan hệ giữa giá trị từng
nhóm, từng loại TSCĐ trong tổng số giá trị TSCĐ của doanh nghiệp ở thời điểm
đánh giá. Chỉ tiêu này giúp cho doanh nghiệp đánh giá mức độ hợp lý trong cơ cấu
TSCĐ đợc trang bị ở doanh nghiệp.
Kết cấu
=

Giá trị của từng nhóm (từng loại) TSCĐ
TSCĐ Tổng số giá trị của TSCĐ tại thời điểm đánh giá
Vốn cố định của doanh nghiệp có thể đợc sử dụng cho các hoạt động đầu t dài
hạn (mua sắm, lắp đặt, xây dựng các TSCĐ hữu hình và TSCĐ vô hình) và các hoạt
động kinh doanh thờng xuyên (sản xuất các sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ) của doanh
nghiệp. Vì thế, việc đánh giá hiệu quả sử dụng vốn cố định cần phải kết hợp giữa
các chỉ tiêu tổng hợp và các chỉ tiêu phân tích từ đó mới có thể rút ra đ ợc các kết
luận đúng đắn. Ngoài ra còn phải đánh giá kết hợp với các chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật
của từng loại cụ thể để đánh giá đợc một cách toàn diện và chính xác.
Qua các chỉ tiêu xác định hiệu quả vốn cố định trên đây chúng ta có thể thấy
rằng: Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn cố định có nghĩa là khai thác một cách triệt
để khả năng hiện có của doanh nghiệp, phát huy hết công suất của máy móc, thiết
bị, tận dụng một cách tối đa giờ máy để từ đó tạo ra đợc nhiều sản phẩm, tăng
doanh thu, tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp làm cho kết quả thu đợc trên một đồng
chi phí về TSCĐ (VCĐ) là cao nhất và ngày một tăng. Điều đó có nghĩa là khi hiệu
quả sử dụng vốn cố định đợc tăng lên thì với một đồng vốn bỏ ra sẽ mang lại kết quả
nhiều hơn cho doanh nghiệp.
1.2.3. Sự cần thiết và yêu cầu của việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn cố định
trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
1.2.3.1. Sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả sử dụng vốn cố định trong hoạt động
kinh doanh của doanh nghiệp.
14

Xem chi tiết: Vốn cố định


Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét