Trường Đại học Kinh Tế Quốc Dân
Giáo viên hướng dẫn : Th.s Lê Thu Thuỷ
được chấp nhận chung trong việc thanh toán hàng hoá hoặc dịch vụ
hoặc trong việc hoàn trả các món nợ.
Trong cuộc sống hàng ngày đồng tiền là tiền giấy hay tiền kim
loại và hầu hết chúng nói về “tiền” tức là họ đang nói về tiền mặt. Định
nghĩa về tiền đơn thuần là tiền mặt ( Tiền giấy hay tiền kim loại ) thì
quá hẹp với các nhà kinh tế. Do séc cũng được chấp nhận như tiền trả
khi mua, nên các món gửi ở dạng tài khoản séc cũng được coi là tiền,
ngoài ra chúng ta còn có những khoản khác như séc du lịch hay tiền gửi
tiết kiệm đôi khi có thể dùng để trả cho hàng hoá, dịch vụ hoặc có thể
có tác dụng hữu hiệu như tiền nếu chúng có thể chuyển đổi một cách
nhanh chóng và dễ dàng thành tiền mặt hoặc thành món gửi ở dạng tài
khoản séc.
* Các chức năng của tiền:
Dù tiền là vỏ sò, đá, vàng hay giấy…trong nền kinh tế nó có chức
năng sau:
- Phương tiện trao đổi :
Chức năng quan trọng nhất làm cho tiền tệ khác với những tài sản
khác là vai trò làm phương tiện trao đổi. Tiền tệ là một trong những
phát minh quan trọng nhất trong lịch sử loài người vì nó cho phép xã
Sinh viên : Bùi Hoàng Phương
Lớp : Tài chính - Doanh nghiệp 46Q
5
Trường Đại học Kinh Tế Quốc Dân
Giáo viên hướng dẫn : Th.s Lê Thu Thuỷ
hội vượt qua phương thức trao đổi cồng kềnh quen biết ở chế độ đổi
khác.
Trong hầu hết các giao dịch trong nền kinh tế của chúng ta, tiền
trong dạng tiền mặt hay tiền séc, thẻ thanh toán…là một phương tiện
trao đổi có nghĩa là nó được dùng để thanh toán, lấy hàng hoá hoặc
dịch vụ. Việc dùng tiền làm một phương tiện trao đổi giúp đẩy mạnh
hiệu quả của nền kinh tế qua việc loại bỏ được nhiều thời gian dành cho
việc trao đổi hàng hoá hay dịch vụ. Để nhận thức được vấn đề này,
chúng ta hãy nhìn vào một nền kinh tế trao đổi tức là một nền kinh tế
không có tiền trong đó hàng hoá hay dịch vụ được đổi trực tiếp lấy
hàng hoá hay dịch vụ khác.
Thời gian tiêu hao khi gắng sức để trao đổi hàng hoá hay dịch vụ
được gọi là một chi phí giao dịch. Trong một nền kinh tế trao đổi, các
chi phí giao dịch là cao bởi vì người ta phải thoả mãn 2 ý muốn trùng
khớp đó là họ phải tìm ai đó có hàng hoá hay dịch vụ mà họ muốn và
người đó cũng muốn hàng hoá hay dịch vụ mà họ chào mời.
Chúng ta thấy tiền thúc đẩy hiệu quả kinh tế qua việc loại bỏ
được nhiều thời gian chi phí khi trao đổi hàng hoá và dịch vụ. Nó cũng
thúc đẩy hiệu quả kinh tế qua việc cho phép người ta chuyên làm cái
công việc mà người ta làm tốt nhất. Bởi vậy chúng ta thấy tiền là một
yếu tố cơ bản trong nền kinh tế sản xuất hàng hoá. Nó tác dụng như
một thứ dầu mỡ bôi trơn cho phép nền kinh tế chạy trơn tru hơn nhờ
Sinh viên : Bùi Hoàng Phương
Lớp : Tài chính - Doanh nghiệp 46Q
6
Trường Đại học Kinh Tế Quốc Dân
Giáo viên hướng dẫn : Th.s Lê Thu Thuỷ
giảm thiểu chi phí giao dịch, từ đó khuyến khích chuyên môn hoá và
phân công lao động.
Để một hàng hoá hoạt động một cách hữu hiệu như tiền thì phải
đạt được một số chuẩn mực:
• Nó phải tạo ra hàng loạt một cách dễ dàng, làm dễ dàng cho
việc xác định giá trị của nó.
• Nó phải được chấp nhận một cách rộng rãi.
• Nó phải, có thể chia nhỏ được để dễ dàng trao đổi.
• Nó phải dễ chuyên chở
• Nó phải không bị hư hỏng một cách nhanh chóng
- Thước đo giá trị (Đơn vị đánh giá):
Chức năng thứ 2 của tiền là làm đơn vị đánh giá nghĩa là nó được
dùng để đo giá trị trong nền kinh tế. Chúng ta đo các giá trị của hàng
hoá và dịch vụ bằng tiền. Chức năng này rất quan trọng trong nền kinh
tế sản xuất hàng hoá và chỉ có ở nền kinh tế sản xuất hàng hoá thì tiền
tệ mới có chức năng này. Chúng ta thử nhìn lại nền kinh tế trao đổi khi
hàng hoá chưa phát triển. Ví dụ nền kinh tế này chỉ có 3 mặt hàng thì
chúng ta phải cần có 3 giá để chúng ta biết phải làm thế nào để trao đổi
thứ này với thứ khác, nếu có 10 mặt hàng thì ta phải cần bao nhiêu giá?
phải cần 45 giá để trao đổi một thứ hàng hoá này với một thứ hàng
khác và nếu có 100 mặt hàng thì ta cần tới 4950 giá ( Công thức để tính
Sinh viên : Bùi Hoàng Phương
Lớp : Tài chính - Doanh nghiệp 46Q
7
Trường Đại học Kinh Tế Quốc Dân
Giáo viên hướng dẫn : Th.s Lê Thu Thuỷ
số giá chúng ta cần khi có N mặt hàng là N(N-1)/2 ) và cứ thế tăng lên
nếu không có vật trung gian là tiền tệ để định giá bằng đơn vị tiền cho
tất cả các mặt hàng. Chúng ta có thể nhận thấy rằng việc dùng tiền làm
một đơn vị đánh giá giảm được chi phí thời gian để giao dịch trong một
nền kinh tế nhờ giảm số giá cần phải xem xét. Cái lợi của chức năng
này của tiền tăng lên khi nền kinh tế hàng hoá phát triển phức tạp hơn.
- Nơi chứa giá trị ( Nơi chứa sức mua hàng hoá qua từng thời
gian ):
Tiền cũng có tác dụng như một nơi chưa giá trị nghĩa là một nơi
chứa sức mua hàng hoá qua thời gian. Một nơi chứa giá trị được dùng
để tách thời gian từ lúc mà người ta nhận được thu nhập tới lúc người
ta sử dụng nó. Chức năng này của tiền là hữu ích vì phần lớn chúng ta
đều không muốn sử dụng ngay thu nhập của mình khi nhận được nó,
mà muốn đợi đến khi chúng ta có thời gian và có ý mua sắm.
Tiền không phải duy nhất là nơi chứa đựng giá trị vì một tài sản
bất kỳ như tiền mặt, cổ phiếu, đất đai, nhà cửa, tác phẩm nghệ thuật
hoặc châu báu, đều là một phương tiện chứa của cải. Nhiều trong số
những loại tài sản này có lợi hơn so với tiền xét về mặt chứa giá trị,
chúng thường đem lại cho chủ nhân một khoản lợi tức cao hơn tiền
mang lại, ví dụ như buôn bán cổ phiếu, trái phiếu, kinh doanh bất động
sản…Thế thì tại sao mọi người giữ tiền làm gì khi mà những tài sản
này là nơi chứa đựng giá trị đáng ưa chuộng hơn so với tiền.
Sinh viên : Bùi Hoàng Phương
Lớp : Tài chính - Doanh nghiệp 46Q
8
Trường Đại học Kinh Tế Quốc Dân
Giáo viên hướng dẫn : Th.s Lê Thu Thuỷ
Chúng ta có thể giải thích vấn đề này liên quan đến một khái
niệm kinh tế quan trọng được gọi là tính lỏng ( liquidity - khả năng dễ
chuyển thành tiền mặt ) có nghĩa là có sự tương đối dễ dàng và nhanh
chóng, nhờ đó một tài sản có thể chuyển đổi thành một phương tiện
trao đổi. Tiền là tài sản có tính chất lỏng nhất bởi bản thân nó là
phương tiện trao đổi tức là nó không giống những tài sản khác, nó
không cần được chuyển thành thứ gì khác với mục đích để mua hàng
hoá. Những tài sản khác đòi hỏi chi phí giao dịch khi cần chuyển sang
tiền ví dụ : khi bạn bán nhà của bạn, bạn cần phải quảng cáo hoặc trả
tiền cho người môi giới một khoản tiền nào đó (ở Việt Nam hiện nay là
từ 2% đến 5% ). Do tiền là tài sản có tính chất lỏng nhất nên đây là câu
trả lời cho câu hỏi tại sao người ta có ý định giữ nó ngay cả nếu nó
không phải là nơi chứa giá trị một cách hấp dẫn nhất. Tiền là nơi chứa
giá trị tốt đến mức nào tuỳ thuộc vào mức giá cả do giá trị của nó được
ấn định theo mức giá cả. Nếu các giá đều tăng gấp 2 chẳng hạn nghĩa là
giá trị của tiền đã sụt một nửa và ngược lại.
1.1.2.Vai trò của thanh toán không dùng tiền mặt trong nền
kinh tế :
Qua nghiên cứu sự tiến triển của hệ thống thanh toán chúng ta có
thể thấy sự cần thiết khách quan và rất quan trọng của thanh toán không
dùng tiền mặt đối với nền kinh tế sản xuất hàng hoá nhất là trong giai
đoạn phát triển có nhiều mối quan hệ đa chiều rất phức tạp đó là:
Sinh viên : Bùi Hoàng Phương
Lớp : Tài chính - Doanh nghiệp 46Q
9
Trường Đại học Kinh Tế Quốc Dân
Giáo viên hướng dẫn : Th.s Lê Thu Thuỷ
- Tổ chức tốt công tác thanh toán không dùng tiền mặt sẽ góp
phần đẩy nhanh tốc độ thanh toán và tốc độ chu chuyển vốn của nền
kinh tế.
- Thúc đẩy sản xuất và lưu thông hàng hoá phát triển.
- Thanh toán không dùng tiền mặt góp phần làm giảm khối lượng
tiền trong lưu thông, kìm hãm và đẩy lùi lạm phát.
- Thanh toán không dùng tiền mặt sẽ làm giảm thiểu tới mức tối
đa các chi phí giao dịch trong xã hội.
- Thanh toán không dùng tiền mặt tạo điều kiện cho Ngân hàng
tập trung tăng cường nguồn vốn để đầu tư đúng chỗ có hiệu quả cho sự
phát triển kinh tế. Qua hình thức thanh toán không dùng tiền mặt sẽ tập
trung được các khoản thanh toán giữa các khách hàng mở tài khoản ở
các Ngân hàng, muốn thanh toán được thì trên tài khoản thanh toán
phải luôn có số dư, điều này đã tạo ra được một nguồn vốn nhàn rỗi và
tập trung vào Ngân hàng. Càng nhiều khách hàng tham gia vào hoạt
động thanh toán này thì số vốn càng lớn và bằng kênh tín dụng riêng
của mình ngân hàng có thể đầu tư khi nền kinh tế kêu gọi vốn để phát
triển…
Sinh viên : Bùi Hoàng Phương
Lớp : Tài chính - Doanh nghiệp 46Q
10
Trường Đại học Kinh Tế Quốc Dân
Giáo viên hướng dẫn : Th.s Lê Thu Thuỷ
- Thanh toán không dùng tiền mặt tạo điều kiện cho ngân hàng
dự đoán và kiểm soát bằng đồng tiền đối với nền kinh tế để sử dụng và
phát huy các đòn bẩy kinh tế như lãi suất, tỉ trọng tín dụng trung và dài
hạn, tỉ giá hối đoái…mà không cần phải dùng tới các mệnh lệnh hành
chính để điều tiết, kiểm soát và định hướng nền kinh tế.
1.1.3.Những quy định mang tính nguyên tắc không dùng tiền
mặt :
Thanh toán không dùng tiền mặt có tác dụng to lớn đối với nền
kinh tế. Tuy nhiên, việc thanh toán không dùng tiền mặt qua Ngân hàng
phải được tuân theo các nguyên tắc chặt chẽ, nhằm tạo điều kiện tổ
chức công tác thanh toán được an toàn, nhanh chóng, thuận tiện, chính
xác. Muốn vậy, các tổ chức kinh tế, các doanh nghiệp và Ngân hàng
phải thực hiện tốt các quy định có tính nguyên tắc sau:
1.1.3.1. Những quy định chung :
Hiện nay việc tổ chức thanh toán không dùng tiền mặt đang được
thực hiện theo số 22/QD-NH1 ngày 21/01/1994 của Thống đốc Ngân
hàng Nhà nước Việt Nam có thông tư hướng dẫn kèm theo thể lệ thanh
toán không dùng tiền mặt số 08/TT-NH2 ngày 02/06/1994. Cụ thể quy
định theo điều 1 quyết định 22/QD-NH1 có ghi : Tổ chức thanh toán
không dùng tiền mặt cho tất cả các tổ chức cá nhân hoạt động trên lãnh
Sinh viên : Bùi Hoàng Phương
Lớp : Tài chính - Doanh nghiệp 46Q
11
Trường Đại học Kinh Tế Quốc Dân
Giáo viên hướng dẫn : Th.s Lê Thu Thuỷ
thổ Việt Nam có nhu cầu thanh toán không dùng tiền mặt đều có quyền
lựa chọn ngân hàng để thanh toán. Đồng thời có 1 số qui định cụ thể
như sau : Tại điều 1 quyết định 22/QD-NH1 có ghi : Các doanh nghiệp,
cơ quan, đoàn thể, đơn vị vũ trang, công dân Việt Nam được quyền lựa
chọn ngân hàng để mở tài khoản giao dịch và thực hiện thanh toán.
1.1.3.2. Những quy định đối với khách hàng (Đơn vị và cá
nhân) :
- Các doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức đoàn thể, đơn vị vũ trang,
công dân Việt Nam và người nước ngoài hoạt động trên lãnh thổ Việt
Nam (Gọi chung là đơn vị và cá nhân) được quyền lựa chọn Ngân hàng
để mở tài khoản giao dịch và thanh toán…
- Các đơn vị dự toán Ngân sách Nhà nước mở tài khoản tại kho
bạc Nhà nước
- Để đảm bảo thực hiện thanh toán đầy đủ kịp thời, các chủ khoản
(bên trả tiền) phải có đủ tiền trên tài khoản. Mọi trường hợp thanh toán
vượt quá số dư tài khoản tiền gửi tại Ngân hàng, Kho bạc Nhà nước là
phạm pháp và phải bị xử lý theo pháp luật.
- Việc thanh toán giữa các đơn vị phải dựa trên hợp đồng kinh tế.
Ngân hàng được quyền từ chối thanh toán khi 2 bên mua và bán không
có hợp đồng hoặc không đủ các giấy tờ hợp lệ.
Sinh viên : Bùi Hoàng Phương
Lớp : Tài chính - Doanh nghiệp 46Q
12
Trường Đại học Kinh Tế Quốc Dân
Giáo viên hướng dẫn : Th.s Lê Thu Thuỷ
- Tất cả các chứng từ thanh toán qua Ngân hàng do khách hàng
nộp vào Ngân hàng phải được lập trên mẫu do Ngân hàng ấn hành,
nhượng bản. Phải lập đủ liên, viết rõ ràng, đầy đủ, chính xác các yếu tố
theo quy định. Mọi giấy tờ phải có dấu, chữ ký của chủ tài khoản, của
kế toán trưởng đúng với mẫu dấu, chữ ký đã đăng ký tại Ngân hàng.
- Khách hàng phải thực hiện đầy đủ và đúng đắn những quy định
trong thể lệ thanh toán của Ngân hàng.
1.1.3.3.Những quy định đối với Ngân hàng và Kho bạc Nhà
nước :
- Phải cung cấp đầy đủ và kịp thời các loại mẫu giấy tờ thanh
toán cho khách hàng.
- Thực hiện các uỷ nhiệm thanh toán của chủ tài khoản, bảo đảm
chính xác, an toàn, thuận tiện. Các Ngân hàng và Kho bạc Nhà nước có
trách nhiệm chi trả tiền mặt hoặc chuyển khoản trong phạm vi số dư
tiền gửi theo yêu cầu của chủ tài khoản.
- Kiểm tra khả năng thanh toán của chủ tài khoản (bên trả tiền)
trước khi thực hiện thanh toán và được quyền ttừ chối thanh toán nếu
tài khoản không đủ tiền; đồng thời không chịu trách nhiệm về những
nội dung liên đới của 2 bên khách hàng.
Sinh viên : Bùi Hoàng Phương
Lớp : Tài chính - Doanh nghiệp 46Q
13
Trường Đại học Kinh Tế Quốc Dân
Giáo viên hướng dẫn : Th.s Lê Thu Thuỷ
- Thực hiện việc kiểm tra, giám sát khả năng chi trả của chủ tài
khoản, xử lý kịp thời các trường hợp vi phạm.
- Nếu do thiếu sót trong quá trình thanh toán gây thiệt hại cho
khách hàng thì Ngân hàng và Kho bạc Nhà nước phải bồi thường thiệt
hại và tuỳ theo mức độ vi phạm có thể bị xử lý theo pháp luật.
- Để việc thanh toán của khách hàng có tài khoản tiền gửi tại
Ngân
hàng (Kho bạc) được thông suốt không bị ách tắc, Ngân hàng (Kho
bạc) phải duy trì thường xuyên số dư trên tài khoản tiền gửi thanh toán
tại Ngân hàng Nhà nước tối thiểu bằng mức an toàn vốn và tiền gửi
thanh toán.
- Khi thực hiện các dịch vụ thanh toán cho khách hàng, Ngân
hàng được thu phí dịch vụ theo quy định của Thống đốc Ngân hàng
Nhà nước.
1.1.3.4.Quy định đối với người chi trả:
Để đảm bảo đủ điều kiện chi trả phải có đủ số dư trên tài khoản
tiền gửi ở Ngân hàng. Chủ tài khoản có toàn quyền sử dụng số tiền trên
tài khoản để chi trả cho người thụ hưởng hoặc rút tiền mặt.
Sinh viên : Bùi Hoàng Phương
Lớp : Tài chính - Doanh nghiệp 46Q
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét