Thứ Tư, 26 tháng 2, 2014

Giải pháp thu hút vốn đầu tư và nâng cao hiệu quả hoạt động cả các khu công nghiệp tập trung ở Quảngngãi




5



Hai nhân tố trên là điều kiện cần thiết có ý nghĩa tiên quyết cho việc thu hút FDI.
Song thực tế nó cũng là điểm yếu mà tất cả các nước đang phát triển gặp phải,mà
không dễ gì khắc phục trong một sớm một chiều. Các nước đang phát triển chưa có
được hệ thống Pháp luật hoàn hảo cùng với môi trường kinh doanh thuận lợi nên việc
đáp ứng những điều kiện của nhà đầu tư nước ngoài không thể thực hiện trong thời
gian gắn. Yếu tố gây nên tình hình này chính là những hạn chế về vốn đầu tư cho kết
cấu hạ tầng bao gồm cả hạ tầng “cứng” và hạ tầng “mềm”.
Giải pháp để khắc phục mâu thuẫn trên đã được nhiều nước đang phát triển tìm
kiếm lựa chọn và thực tế đã thành công ở nhiêu nước đã dựng kết KCN tập trung, qua
đó thu hút FDI trong khi chưa tạo được môi trường đầu tư hoàn chỉnh trên phạm vi cả
nước.
Sản xuất công nghiệp phải xây dựng thành từng khu, bởi vì hoạt động công
nghiệp là loại hoạt động khẩn trương, nhanh nhạy, kịp thời thích ứng với sự biến đổi
của thị trường, của những tiến bộ kỹ thuật- công nghệ, là một loại hoạt động rất chính
xác, ăn khớp và đồng bộ. Hơn nữa, theo quan niệm của CNH – HĐH thì quy mô xí
nghiệp phần nhiều là vừa và nhỏ nhưng không phải tồn tại tản mạn, đơn độc mà nằm
trong sự phân công sản xuất liên hoàn ngày càng rộng rãi.
Tình chất đặc thù đó của hoạt động công nghiệp đòi hỏi tính đồng bộ, chất lượng
cao của cơ sở hạ tầng, đòi hỏi sự quản ký và điều hành nhanh nhạy, ít đâu mối, thủ tục
đơn giản. Hơn nữa, sự tồn tại tập chung của công nghiệp sẽ tại điều kiện thuận lợi cho
quản ký Nhà nước như kịp thời nắm bắt tình hình, kịp thời xử lý các vụ việc phát sinh
.Những xí nghiệp quy mô lớn với khả năng và sức mạnh của nó, có thể tồn tại riêng
biệt trên một địa điểm nhất định. Còn xí nghiệp vừa và nhỏ, muốn hoạt động có hiệu
quả cần được quy tụ vào một khu vực nhất định, nơi đã có sẵn cơ sở hạ tầng và dịch
vụ, có sẵn bộ máy quản lý, được hưởng những thủ tục đơn giản, nhanh nhạy.



6



Về cơ bản,KCN tập trung nhằm mục tiêu thu hút vốn đầu tư, chủ yếu là vốn đầu
tư trực tiếp nước ngoài vào các ngành chế tạo , chế biến gia công xuất khẩu. Bên cạnh
đó, mục tiêu quan trọng của việc hình thành KCN tập trung là để tăng hiệu quả vốn
đầu tư hạ tầng. Trong KCN tập trung các Doanh nghiệp dùng chung các công trình hạ
tầng nên giảm bớt chi phí trên một đơn vị diện tích và đơn vị sản phẩm, thực hiện phát
triển theo một quy hoạch thống nhất kết hợp với quy hoạch phát triển ngành và phát
triển lãnh thổ. Mặt khác, việc tập trung các Doanh nghiệp trong KCN tập trung sẽ tạo
điều kiện dễ dàng hơn trong việc xử lý chất thải công nghiệp, bảo vệ môi trường sinh
thái, nâng cao hiệu quả sử dụng đất. Các Doanh nghiệp công nghiệp có điều kiện thuận
lợi liên kết hợp tác với nhau, trao đổi công nghệ mới nâng cao hiệu quả hoạt động và
sức cạnh tranh.
Ngoài ra KCN tập trung còn là mô hình kinh tế năng động phù hợp với nền kinh
tế thị trường. Trong việc phát triển và quản lý các khu này, các thủ tục hành chính
đang được giảm thiểu đến mức tối đa thông qua cơ chế “một cửa” tập trung vào ban
quản lý các khu đó. Những chính sách áp dụng trong KCN tập trung gắn quyền lợi và
nghĩa vụ nhà đầu tư với một hợp đồng, giảm thiểu thủ tục hành chính, cùng với hệ
thống quy định hữu hiệu cho sản xuất kinh doanh, do đó tạo được sự an toàn , yên tâm
cho các nhà đầu tư.
1.2 MỘT SỐ VẤN ĐỀ PHÁP LÝ VỀ KHU CÔNG NGHIỆP TẬP TRUNG Ở
VIỆT NAM.
1.2.1 Các văn bản pháp quy liên quan đến hoạt động của Khu công nghiệp
tập trung.
Tháng 12năm 1987, Quốc hội nước ta thông qua luật đầu tư nước ngoài ,tạo điều
kiện pháp lý quan trọng thu hút đầu tư nước ngoài, làm tiền đề cho sự gia đời của KCN
ở nước ta.



7



Ngày 28/12/1994, quy chế KCN theo nghị định 129/CP của Chính phủ được ban
hành.
Ngày 24/4/1997, Chính phủ ban hành nghị định 36/CP về quy chế KCN, KCX,
KCNC.
Bộ Kế Hoạch và Đầu Tư, Bộ Xây Dựng, Bộ Công Nghiệp, Bộ Thương Mại, Bộ
Khoa Học Công Nghệ và Môi Trường, Bộ Tài Chính, Bộ Lao Động – Thương Binh và
Xã Hội, Tổng Cục Hải Quan, Phòng Thương Mại và Công nghệp Việt Nam đã ban
hành thông tư các thông tư hướng dẫn thực hiện nghị định 36/ CP điều kiện thuận lợi
cho Ban quản lý cấp tỉnh thực hiện quản lý Nhà nước đối với các KCN tập trung.
Theo quy định trong nghị định 36/CP ngày 24/4/1997 có một số khái niệm cơ bản
sau:
+ KCN tập trung là các doanh nghiệp KCN chuyên sản xuất hàng công nghiệp và
thực hiện các dịch vụ sản xuất cho công nghiệp, có ranh giới xác định không có dân cư
sinh sống do Chính Phủ hoặc Thủ Tướng Chính Phủ quyết định thành lập. Trong KCN
có thể có doanh nghiệp chế xuất.
+ Doanh nghiệp KCN: là doanh nghiệp được thành lập và hoạt động trong KCN,
gồm doanh nghiệp sản xuất và doanh nghiệp dịch vụ , doanh nghiệp KCN thuê đất
hoặc nhà xưởng trong KCN, sử dụng có trả tiền các công trình kết cấu hạ tầng, tổ chức
sản xuất kinh doanh và xuất nhập khẩu trực tiếp theo quy định của Nhà nước.
+ Công ty phát triển hạ tầng KCN: là một doanh nghiệp Việt Nam thuộc các
thành phần kinh tế trong nước hoặc các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đầu tư
xây dựngvà kinh doanh các công trình kết cấu hạ tầng KCN.
+ Ban quản lý địa phương: là cơ quan trực tiếp quản lý KCN, có trách nhiệm quản
lý các công ty phát triển hạ tầng KCN và các doanh nghiệp KCN theo điều lệ quản lý
KCN.



8



Bên cạnh nghị định 36/CP quy định quy định quy chế hoạt động của KCN, các
văn bản pháp quy khác có liên quan đến hoạt động của KCN có thể phân thành các
nhóm :
+ Các văn bản liên quan đến hoạt động đầu tư vào KCN trong đó đáng chú
ý nhất là Luật đầu tư nước ngoài và luật khuyến khích đầu tư trong nước.
+ Các văn bản liện quan đến hoạt động xuất khẩu .
+ Các văn bản liên quan đến hoạt động tài chính .
+ Các văn bản liên quan đến quản lý lao động.
+ Các văn bản liên quan đến hoạt động trong lĩnh vực Khoa học – Công
nghệ – Môi trường .
+ Các văn bản liên quan đến lĩnh vực quản lý đất đai và xây dựng cơ bản.
1.2.2. Một số quy định chung
12.2.1 Những doanh nghiệp được phép thành lập trong Khu công
nghiệp tập trung
Theo quy định của nghị định 36/CP ngày 24/4/1997 của Chính phủ ban hành kèm
theoquychế KCN, KCX, KCNC trong KCN có các loại hình Doanh nghiệp KCN sau:
+ Doanh nghiệp Việt Nam thuộc các thành phần kinh tế .
+ Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài .
+ Các bên tham gia hợp đồng hợp tác kinh doanh theo luật đầu tư nước
ngoài tại Việt Nam.
Các Doanh nghiệp công nghiệp muốn dược phép thành lập trong KCN phải đáp
ứng được các điều kiện phù hợp với quy hoạch về ngành nghề, tỷ lệ xuất khẩu sản
phẩm, đảm bảo nhu cầu về ngoại tệ, sử dụng thiết bị công nghệ, bảo đảm môi trường
môi sinh an toàn lao động.
1.2.2.2. Các lĩnh vực được phép đầu tư



9



Trong KCN tập trung, các nhà đầu tư trong nước và nước ngoài, các Doanh
nghiệp Việt Nam thuộc các thành phần kinh tế, Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước
ngoài được đầu tư vào các lĩnh vực sau:
+ Xây dựng và kinh doanh các công trình kết cấu hạ tầng.
+ Sản xuất, gia công, lắp ráp các sản phẩm công nghiệp xuất khẩu ,
tiêu thụ tại thị trường trong nước, phát triển và kinh doanh bằng sáng chế, bí quyết kỹ
thuật, quy trình công nghệ.
+ Dịch vụ và hỗ trợ sản xuất công nghiệp.
+ Nghiên cứu triển khai khoa học công nghệ để nâng cao chất lượng
sản phẩm và tạo ra sản phẩm mới.
Trong đó các ngành công nghiệp được Nhà nước khuyến khích đầu tư là : cơ khí,
luyện kim, công nghệ thông tin, hoá chất, hoá dầu, công nghệ hàng tiêu dùng và một số
ngành khác.
1.2.3 Quản lý Nhà nước đối với Khu công nghiệp tập trung.
* Nội dung và cơ chế quản lý Nhà nước đối với KCN tập trung
Tham gia quản lý Nhà nước đối với KCN tập trung gồm Bộ Kế Hoạch và Đầu Tư
, Bộ Xây dựng , Bộ khoa học – Công nghệ và môi trường Bộ công nghiệp và Bộ
Thương Mại, Ban tổ chức Chính phủ , Ban quản lý KCN Việt Nam và tỉnh thành phố
nơi có KCN.
Về cơ bản, quản ký Nhà nước đối với KCN tập trung cũng có những nội dung chủ
yếu như quản ký nhà nước trong lĩnh vực đầu tư trực tiếp nước ngoài, Tuy nhiên, xét
dưới giác độ quả trình hình thành và phát triển của KCN, KXC nội dung quản ký Nhà
nước đối với KCN, KCX có thể chia làm ba giai đoạn:
+ Vận động đầu tư thành lập KCN, KCX và Doanh nghiệp trong đó.
+Thẩm định và cấp giấy phép đầu tư.



10



+ Quản ký hoạt động của KCN, KCX sau khi đã thành lập.
KCN tập trung được quản lý theo cơ chế dịch vụ một cửa. Mục đích của cơ chế
này là giúp các Doanh nghiệp trong KCN tập trung tránh được tối đa tệ quan liêu, hành
chính giấy tờ, thủ tục rườm rà .Quản lý theo cơ chế một cửa là tạo ra một cơ quan
quản lý Nhà nước có thể đứng ra giải quyết, hoặc phối hợp với các cơ quan khác giải
quyết mọi công việc liên quan đến hoạt động sản xuất kinh doanh của các Doanh
nghiệp trong khu .
Ban quản ký KCN, KCX là cơ quan quản lý Nhà nước được Thủ Tướng Chính
phủ thành lập để quản lý các KCN, KCX theo cơ chế một cửa. Ban quản lý KCN,
KCX có quyền hạn và nhiệm vụ như sau:
+ Xây dựng điều lệ hoạt động KCN, KCX.
+Xây dựng và tổ chức thực hiện quy hoạch chi tiết KCN, KCX.
Vận động đầu tư vào KCN, KCX.
+ Hướng dẫn đầu tư thẩm định và cấp giấy phép đầu tư vào KCN, KCX
theo uỷ quyền.
+ Theo dõi kiểm tra, thanh tra việc thực hiện giấy phép đầu tư, hợp đồng
gia công sản phẩm, hợp đồng cung cấp dịch vụ, hợp đồng kinh doanh , các tranh chấp
kinh tế trong KCN,KCX
+ Phối hợp với các cơ quan quản lý Nhà nước về lao động , kiểm tra,
thanh tra việc thực hiện các quy định của Pháp luật về lao động, thoả ước lao động tập
thể, an toàn lao động, tiền lương.
+ Quản lý hoạt động dịch vụ trong KCN, KCX.
+ Thoả thuận với công ty phát triển hạ tầng định giá cho thuê lại đất đã
được xây dựng hạ tầng trong KCN, KCX.



11



+ Cấp, điều chỉnh thu hồi các loại giấy phép chứng chỉ đã cấp cho
Doanh nghiệp trong KCN, KCX.
+ Ban quản lý KCN,KCX cũng được các bộ, ngành chức năng Nhà nước
uỷ quyền giải quyết những nhiệm vụ của Bộ, ngành trong phạm vi được uỷ quyền
trong KCN, KCX.
+ Bộ thương mại uỷ quyền cấp giấy phép, nhập khẩu và xử lý những vấn
đề xuất khẩu , nhập khẩu .
+ Bộ Lao Động ,Thương binh - Xã hội uỷ quyền về chọn ,giới thiệu và
quản lý lao động.
*Thẩm định và cấp giấy phép đầu tư vào KCN tập trung
+ Điều kiện dự án: Ban quản lý KCN, KCX là đầu mối hướng dẫn các
nhà đầu tư vào KCN, KCX theo hồ sơ dự án của Bộ Kế Hoạch và Đầu Tư và được uỷ
quyền tiếp nhận hồ sơ của các dự án đầu tư nước ngoài đầu tư vào KCN, KCX và thẩm
định, cấp giấy phép đầu tư cho các dự án đủ điều kiện ( được phép đầu tư theo quy
định đã nêu ở mục 1.3.2).
+ Nội dung thẩm định. Việc thẩm định dự án do ban quản lý với sự phối
hợp chặt chẽ với Sở KH & ĐT và các cơ quan chức năng địa phương theo nội dung
quy định ở điều 92 nghị định 12/ CP ngày 18/2/1997của Chính Phủ.Nội dung thẩm
định gồm những vấn đề sau:
- Tư cách pháp nhân và năng lực tài chính của các chủ đầu tư .
- Mục tiêu và quy mô của dự án .
- Điều kiện thực hiện dự án:vốn, công nghệ,thiết bị.
- Tỷ lệ nội, ngoại tiêu.
- Thu hút lao động.
- Nghĩa vụ tài chính đối với Nhà nước.



12



- Các biện pháp bảo vệ môi trường.
+ Thời gian thẩm định: Nếu dự án đáp ứng được các điều kiện trên và có
quy mô vốn đầu tư dưới 5 triệu USD thì trong thời hạn 15 ngày kể từ khi tiếp nhận hồ
sơ, Ban quản lý KCN cấp giấy phép đầu tư . Những dự án đáp ưnng được các điều kiện
quy định trên về thẩm định quy mô trên 5 triệu USD, khi tiếp nhận hồ sơ dự án, Bộ
quản lý gửi tới Bộ Kế Hoạch và Đầu Tư để lấy ý kiến. Trong thời hạn là 7 ngày kể từ
khi nhận được hồ sơ dự án, Bộ Kế Hoạch và Đầu Tư có ý kiến bằng văn bản. Trong
trường hợp phải lấy ý kiến các Bộ, ngành về dự án theo quy định thì trong vòng 5 ngày
kể từ khi tiếp nhận hồ sơ, Ban quản lý gửi tới các Bộ, ngành liên quan . Các Bộ , ngành
xem xét và trả lời bằng văn ban trong thời hạn 7 ngày kể từ ngày tiếp nhận văn bản của
các Bộ, Ban quản lý quyết định về dự án đầu tư và thông báo cho chủ đầu tư biết.
1.3 KINH NGHIỆM CỦA MỘT SỐ NƯỚC TRONG XÂY DỰNG VÀ PHÁT
TRIỂN KCN TẬP TRUNG
1.3.1 Kinh nghiệm phát triển đặc khu kinh tế của Trung Quốc.
Mô hình đặc khu kinh tế của Trung quốc cũng có những đặc trưng cơ bản giống
các KCN ở các nước khác nhưng mục tiêu của đặc khu kinh tế của Trung quốc được đề
ra lớn hơn và lĩnh vực kinh doanh rộng hơn.
Đến nay Trung quốc đã xây dựng được 05 đặc khu kinh tế là Chu Hải, Sán Dầu,
Thẩm Quyến, Hạ Môn và tỉnh đảo Hải Nam. Mục tiêu của việc hình thành đặckhu kinh
tế cả Trung Quốc là cửa ngõ mở ra bên ngoài, thu hút vốn đầu tư …
Đặc khu kinh tế là nơi thực thực hiện các chính sách thể chế mới của Trung Quốc,
nếu thành công sẽ áp dụng cho các khu vực khác trong nước.
Sau gần 20 năm thành lập, mô hình đặc khu kinh tế của Trung Quốc tỏ ra rất
thành công, được các nước đánh giá cao. Khimới thành lập, xuất pháp điểm của các
đặc khu kinh tế rất kém nhưng đến cuối năm 1996, 05 đặc khu kinh tế của Trung Quốc



13



có diện tích 35 nghìn km
2
và dân số 10,2 triệu người chiếm 0,36%diện tích cả nước và
0,78% dân số đsản xuất đạt được giá trị xuất nhập khẩu và thu hút vốn đầu tư nước
ngoài xấp xỉ bằng 1/3 cả nước.
Nguyên nhân thành công của các đặc khu kinh tế ở Trung Quốc có thể kể đến
như sau.
+ Sự quan tâm đặc biệt và quết tâm cao của Đảng, Nhà Nước và chính
quyền địa phương.
+ Thực hiện nhất quán chính sách đầu tư nước ngoài, lấy lợi ích cơ bản và
lâu dài làm chính.
+ Tiến hành thực hiện cơ chế quản lýmới theo nguyên tắc “một cửa một
đầu mối” đơn giản, gọn nhẹ và bình đẳng.
+ Hình thức huy động vốn phong phú.
1.3.2 Kinh nghiệm của Đài Loan
Có thể nói, Đài Loan là một trong trong những nước đi tiên phong vừa có thành
công trong công việc phát triển KCN tập trung.Từ cuối những năm50, các nhà hoạch
định chính sách Đài loan dsản xuất nhậnđịnh vị thế của Đài Loan trong hệ thống kinh
tế khu vực. Theo họ, Đài Loan thuộc loại hình kinh tế hải đảo, đất hẹp, người đông, tài
nguyên khoáng sản nghèo nàn, mức độ phụ thuộc của nền kinh tế vào hoạt động ngoại
thương rất lớn. Vì vậy, để tồn tại và phát triển thì việc hình thnàh một cơ cấu kinh tế
hướng ngoại mang ý nghĩa sống còn đối với Đài Loan.
Các xí nghiệp công nghiệp được xây dựng với quy mô vừa và nhỏ là phổ biến và
dược tập trung ở các khu vực , nhất định gọi là KCN, KCX, các xí nghiệp ở trong các
KCN có nhiều thuận lợi. Điều kiện kỹ thụât hạ tầng(điện nước, giao thông, thông tin
liên lạc …)hoàn hảo, được hưởng nhiều ưu đãi về tài chính như miễm giảm thuế một
số năm…Trong hơn 30 năm qua, nhiều hoạt động của các KCN đsản xuất đóng vai trò



14



rất quan trọng đối với tiến trình Công nghiệp hoá - Hiện đại hoá (CNH- HĐH) ,
chuyển đổi cơ cấu kinh tế Đài Loan.Phần lớn các KCN ở Đài Loan do Nhà nước trực
tiếp đầu tư xây dựng hạ tầng kỹ thuật, còn lạido tư nhân và tổ chức đoàn thể xây dựng.
Hiện nay Bộ kinh tế ( cụ thể là cục Công nghiệp ) thống nhất quản lý Nhà nước đối với
các KCN và có phân cấp như sau: Chíh quyền trung ương trực tiếp quản lý 12 KCN có
tầm quan trọng nhất nằm trong quy hoạch được Chính Phủ phê duyệt, các KCN còn
lạido địa phương hoặc tư nhân quản lý ( theo hình thức ban điều hành KCN do các xí
nghiệp trong khu cử đại diện tham gia). Loại hình KCN rất da dạng, có các KCN
chuyên ngành về dầu khí, ôtô, xi măng, công nghệ cao…
Trong những năm tới ở Đài Loan, cùng với đổi mới thiết bị kỹ thuật, thay đổi
ngành nghề các xí nghiệp và hiện đại hoá hạ tầng kỹ thuật các KCN hiện có, sẽ tiếp
tục xây dựng một số KCN để đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế trong thế kỷ 21.
Bài học đối với Việt Nam ở đây là : Muốn công nghiệp hoá, hiện đại hoá với tốc
độ cao và hiệu quả, nhất thiết phải đẩy mạnh việc xây dựng KCN tập trung ( bao gồm
cả KCX, KCNC ) .Tuỳ theo mỗi kiều kiện cụ thể , mỗi tỉnh có thể có nhiều KCN điều
cốt lõi ở đây là phải làm tốt công tác quy hoạch phát triển công nghiệp nói chung và
quy hoạch KCN trên phạm vi cả nước đảm bảo tính thống nhất và mối liên hệ liên
hoàn tương hỗ trong phát triển các KCN với hoạt động sản xuất nông, lâm ngư nghiệp
và quá trình đô thị hoá . Mục tiêu cần đạt đến là mỗi KCN tập trung có tác dụng thúc
đẩy mọi hoạt động kinh tế xã hội trong vùng theo xu hướng mở.

1.3.3 Kinh nghiệm của Thái Lan
Ý tưởng xây dựng KCN của Thái Lan được hình thành từ đầu những năm 1960,
15 năm sau khi có luật KCN. đến nay, Thái Lan đsản xuất có 40 KCN hoạt động trong
đó có 7 KCN do cục quản lý các KCN Thái Lan (gọi tắt là IEAT) đầu tư , 01 KCN do

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét