Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
vốn của TCTD so với vốn tự có, quy định các hình thức huy động vốn Bên
cạnh những bộ luật này, chính sách tiền tệ của quốc gia cũng ảnh hưởng rất lớn
đến huy động vốn của các TCTD. Điều đó được thể hiện ở một số khía cạnh:
+ Mục tiêu của chính sách tiền tệ: Mục tiêu của chính sách tiền tệ bao
gồm: kiểm soát lạm phát, bình ổn giá cả, ổn định sức mua của đồng tiền, tăng
trưởng kinh tế, tạo công ăn việc làm. Tuỳ thuộc vào việc thực hiện mục tiêu của
chính sách tiền tệ mà sự ảnh hưởng của nó đến hoạt động huy động vốn là khác
nhau. Chẳng hạn, khi lạm phát tăng, Nhà nước có chính sách thắt chặt tiền tệ
bằng cách tăng lãi suất tiền gửi để thu hút tiền ngoài xã hội thì các TCTD huy
động vốn dễ dàng hơn. Hoặc khi Nhà nước có chính sách khuyến khích đầu tư,
mở rộng sản xuất thì TCTD khó huy động vốn hơn vì người có tiền nhàn rỗi sẽ
bỏ tiền vào sản xuất vì làm như vậy có lợi hơn gửi ngân hàng
+ Việc sử dụng các công cụ chính sách tiền tệ: Trong quá trình vận hành
các công cụ để thực hiện chính sách tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước, mỗi một
công cụ đều tác động đến hoạt động huy động vốn của các TCTD. Cụ thể là:
Lãi suất chiết khấu: Ngân hàng nhà nước thực hiện tái cấp vốn để cung
ứng tiền ra lưu thông bằng biện pháp tái chiết khấu. Nếu chính sách tiền tệ nhằm
chống lạm phát thì lúc đó Ngân hàng Nhà nước cung ứng tiền ra lưu thông với
lãi suất tái chiết khấu cao. Và như vậy sẽ hạn chế việc các TCTD vay Ngân
hàng Nhà nước.
Dự trữ bắt buộc: Khi tăng hoặc giảm tỷ lệ dự trữ bắt buộc tức là Ngân
hàng Nhà nước cho hoặc không cho các TCTD sử dụng khối lượng tiền Trung
ương bị coi là thiếu hay dư thừa, tức là thắt chặt hay nới lỏng khả năng tạo tiền
của TCTD.
- Chính sách đầu tư của Nhà nước
Chính sách đầu tư của Nhà nước có hợp lý hay không đều ảnh hưởng trực
tiếp đến môi trường kinh doanh không chỉ của khách hàng mà ngay cả đối với
các TCTD. Bởi vì, khi chính sách đầu tư hợp lý sẽ tạo điều kiện cho sản xuất
phát triển dẫn đến các TCTD có môi trường đầu tư thuận lợi và đòi hỏi các
TCTD phải tìm mọi cách để mở rộng hoạt động huy động vốn của mình.
5
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
- Tình hình kinh tế - xã hội trong và ngoài nước
Nền kinh tế ở vào thời kỳ tăng trưởng, sản xuất phát triển từ đó tạo điều
kiện tích luỹ nhiều hơn, do đó tạo môi trường thuận lợi cho việc thu hút vốn của
các TCTD. Ngược lại, khi nền kinh tế không tăng trưởng, sản xuất kìm hãm, nền
kinh tế bị suy thoái làm cho môi trường đầu tư của TCTD bị thu hẹp. Bên cạnh
đó, lạm phát làm cho đồng tiền bị mất giá, người dân sẽ không gửi tiền vào ngân
hàng mà dùng tiền để mua hàng cất trữ, vì vậy cũng ảnh hưởng đến hoạt động
huy động vốn của các TCTD.
- Tâm lý thói quen tiêu dùng của người gửi tiền
Tập quán tiêu dùng cũng ảnh hưởng đến nghiệp vụ tạo vốn của TCTD.
Nếu ở những vùng dân cư quen sử dụng số tiền nhàn rỗi dưới hình thức cất trữ
là chính thì việc huy động vốn của TCTD gặp khó khăn hơn. Chẳng hạn, vào
thời kỳ vàng có giá trị, người ta dùng tiền nhàn rỗi để mua vàng cất trữ còn khi
người gửi tiền có nhu cầu hưởng lãi hoặc bảo quản tài sản thì họ gửi tiền vào
ngân hàng nhiều hơn và cơ hội huy động vốn của các TCTD tăng lên. Ngoài ra,
mức thu nhập của người dân cũng là một yếu tố trực tiếp quyết định trực tiếp
đến lượng tiền gửi vào ngân hàng. Nhìn chung, thu nhập càng cao, nhu cầu đầu
tư và giao dịch của họ tăng lên tương đối so với nhu cầu tiêu dùng và lúc này
nhu cầu mở tài khoản cũng như tiền gửi vào ngân hàng sẽ tăng lên.
1.2.2. Nhân tố chủ quan
- Hình thức huy động
Hình thức huy động càng đa dạng, đáp ứng được nhu cầu vô cùng phong
phú của khách hàng thì việc huy động vốn dễ dàng hơn.
- Hình thức cho vay
Nếu như hình thức cho vay của TCTD được mở rộng chẳng hạn như
không chỉ có cho vay ngắn hạn, trung hạn và dài hạn mà còn mở rộng sang cả
các hình thức cho vay như cho vay hợp vốn, liên doanh, liên kết, mua bán các
khoản nợ buộc các TCTD phải tìm kiếm nguồn vốn cho chính mình, huy động
vốn thế nào cho phù hợp. Ví dụ: nhu cầu sử dụng nguồn vốn dài hạn lớn thì phải
6
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
tìm cách huy động vốn dài hạn chứ không được vốn ngắn hạn để cho vay trung,
dài hạn.
- Công nghệ thanh toán và tin học
Trước đây công nghệ thanh toán còn lạc hậu, khách hàng chủ yếu thanh
toán bằng tiền mặt. Nhưng ngày nay do công nghệ thanh toán hiện đại, thanh
toán không dùng tiền mặt ngày càng chiếm ưu thế, thay vì thanh toán bằng tiền
mặt khách hàng chuyển sang thanh toán bằng séc, thẻ Để thực hiện thanh toán
không dùng tiền mặt, khách hàng phải mở tài khoản tại ngân hàng nên ngân
hàng thực hiện được việc huy động vốn trên tài khoản của khách hàng.
- Năng lực và trình độ quản lý của cán bộ ngân hàng
Nếu quản lý tốt trong quá trình hoạt động, ngân hàng sẽ đảm bảo được an
toàn vốn, nâng cao uy tín, năng lực cạnh tranh từ đó thu hút được khách hàng
đến gửi tiền. Trình độ nghiệp vụ của cán bộ ngân hàng càng cao, công tác huy
động vốn được thực hiện càng nhanh chóng, chính xác và hiệu quả.
- Mạng lưới phục vụ cho huy động vốn
Mạng lưới huy động vốn càng rộng rãi càng có thể khai thác tối đa nguồn
tiền nhàn rỗi trong dân cư. Do đó, không chỉ cần mở rộng mạng lưới ở vùng
đông dân cư mà còn cần được mở ra ở những nơi cách xa trung tâm thành phố
như nông thôn, vùng xâu, vùng xa Ngược lại, mạng lưới hẹp sẽ gây khó khăn
cho khách hàng muốn gửi tiền do chi phí giao dịch lớn, mất thời gian.
- Lãi suất huy động
Đối với người gửi tiền là doanh nghiệp, gửi tiền vào các TCTD với mục
đích thanh toán thì lãi suất không phải là cái đích mà họ hướng tới. Điều họ
quan tâm lớn nhất là việc sử dụng các dịch vụ từ TCTD. Tuy nhiên bên cạnh bộ
phận gửi tiền với mục đích này thì vốn huy động của các TCTD còn bao gồm cả
tiền gửi có kỳ hạn của các doanh nghiệp và tiền gửi tiết kiệm của dân cư với
mục đích hưởng lãi là chính, vì vậy lãi suất là điều họ rất quan tâm và bộ phận
này rất nhạy cảm với lãi suất. Mặt khác, khi huy động vốn dưới hình thức vay
vốn từ các TCTD khác hoặc vay vốn của Ngân hàng Nhà nước để tạo được
nhiều nguồn vốn đáp ứng cho nhu cầu sử dụng của mình, các TCTD cần phải có
7
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
chính sách lãi suất hợp lý sao cho lãi suất huy động vừa đảm bảo kích thích
người gửi tiền vừa phù hợp với lãi suất cho vay, tránh tình trạng huy động vốn
với giá cao mà đầu tư với giá thấp.
- Việc tham gia Bảo hiểm tiền gửi
Trong hoạt động kinh doanh của các TCTD, rủi ro xảy ra là điều không
thể tránh khỏi. Vì vậy, sự an toàn của các TCTD không chỉ là mối quan tâm của
các cổ đông, các nhà điều hành mà còn là mối quan tâm đặc biệt đối với khách
hàng, vì phần lớn vốn kinh doanh của của TCTD là vốn huy động từ bên ngoài.
Để lấy được niềm tin của người gửi tiền, đồng thời bảo vệ lợi ích của họ khi
TCTD phá sản, các TCTD phải tham gia bảo hiểm tiền gửi và khi sự kiện bảo
hiểm xảy ra, tổ chức Bảo hiểm tiền gửi sẽ đứng ra chi trả toàn bộ số tiền cho
ngươì gửi tiền trong giới hạn được bảo hiểm.
- Ngoài ra còn phải kể đến các yếu tố khác như: uy tín; thái độ phục vụ;
cơ sở hạ tầng; các dịch vụ do TCTD cung ứng cũng có ảnh hưởng đến tâm lý
của người gửi tiền và do đó cũng ảnh hưởng đến hiệu quả của hoạt động huy
động vốn.
1.3. Sự cần thiết phải điều chỉnh bằng pháp luật đối với hoạt động huy động
vốn của các Tổ chức tín dụng ở Việt Nam
Điều chỉnh bằng pháp luật là việc Nhà nước sử dụng công cụ pháp luật tác
động lên các quan hệ xã hội nhằm thực hiện những mục tiêu nhất định của Nhà
nước. Cũng như hàng loạt các quan hệ khác trong xã hội, quan hệ huy động vốn
của các TCTD cần phải được điều chỉnh bằng pháp luật, bởi vì:
Thứ nhất, thông qua các quy định của pháp luật về hoạt động huy động
vốn của TCTD, Nhà nước có thể thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia cho phù
hợp với từng giai đoạn phát triển kinh tế- xã hội. Với việc đưa ra những quy
định về lãi suất, tỷ lệ dự trữ bắt buộc, quy định về bảo hiểm tiền gửi, quy định
điều kiện để được vay vốn Ngân hàng Nhà nước Nhà nước sẽ tác động trực
tiếp đến hoạt động huy động vốn của TCTD bằng cách tạo ra các điều kiện
thuận lợi hoặc hạn chế việc huy động vốn của các TCTD.
8
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
Thứ hai, hoạt động huy động vốn của các TCTD là hoạt động chứa đựng
nguy cơ rủi ro cao, sự tác dộng tích cực hoặc tiêu cực của nó thường mang tính
phản ứng “dây chuyền” do đó ảnh hưởng đến cả hệ thống TCTD và tác động
đến toàn bộ nền kinh tế. Chẳng hạn, hoạt động huy động vốn bằng nhận tiền gửi
mà không được Nhà nước quản lý chặt chẽ thì có thể dẫn đến việc các TCTD lợi
dụng đặc quyền được huy động vốn bằng nhận các loại tiền gửi để lừa đảo dân
chúng trên phạm vi rộng, với số lượng lớn. Mặt khác, các TCTD huy động vốn
mà không sử dụng vốn đó một cách có hiệu quả, để thất thoát vốn sẽ dẫn đến
tình trạng mất khả năng chi trả, thanh toán cho người gửi tiền, từ đó gây tâm lý
hoang mang cho những người gửi tiền khác khiến họ đồng loạt tới các TCTD rút
tiền, đẩy các TCTD khác vào tình trạng thiếu khả năng chi trả. Điều đó dẫn đến
sự đổ vỡ toàn bộ hệ thống TCTD, gây ra khủng hoảng về tài chính- tiền tệ, gây
mất ổn định kinh tế. Dân chúng mất lòng tin vào các TCTD, nguồn vốn nhàn
rỗi không được tập trung cho đầu tư phát triển, nền kinh tế khó mà phát triển
được. Bởi vậy, hoạt động huy động vốn cần phải được Nhà nước quản lý chặt
chẽ.
Thứ ba, để bảo vệ quyền lợi cho các chủ thể khác trong hoạt động huy
động vốn, đồng thời nhằm tạo điều kiện thuận lợi, an toàn cho các TCTD trong
quá trình huy động vốn cần thiết phải có sự điều chỉnh của pháp luật. Mặt khác,
thông qua việc điều chỉnh bằng pháp luật đối với hoạt động huy động vốn của
các TCTD, Nhà nước có thể kiểm soát được tình hình hoạt động kinh doanh của
các TCTD, từ đó kịp thời có biện pháp xử lý, giúp TCTD thoát khỏi tình trạng
khó khăn về tài chính.
2. Kết cấu pháp luật điều chỉnh hoạt động huy động vốn của các tổ chức tín
dụng
Hiện nay, theo quy định của Luật các TCTD năm 1997 (được sửa đổi, bổ
sung theo Luật sửa đổi bổ, sung luật TCTD năm 2004) các TCTD được huy
động vốn dưới các hình thức sau:
- Nhận tiền gửi:
+ Ngân hàng được nhận tiền gửi của tổ chức, cá nhân và các TCTD khác
9
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
+ TCTD phi ngân hàng được nhận tiền gửi có kỳ hạn từ một năm trở lên
của tổ chức, cá nhân theo quy định của Nhà nước.
- Phát hành giấy tờ có giá: TCTD được phát hành chứng chỉ tiền gửi, trái
phiếu và các giấy tờ có giá khác để huy động vốn của tổ chức, cá nhân trong
nước theo quy định của Ngân hàng Nhà nước.
- Vay vốn giữa các TCTD: Các TCTD được vay vốn của nhau và của
TCTD nước ngoài.
- Vay vốn của Ngân hàng Nhà nước: TCTD là ngân hàng được vay vốn
của Ngân hàng Nhà nước dưới hình thức tái cấp vốn theo quy định tại điều 30
của Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.
2.1. Huy động vốn bằng nhận tiền gửi
2.1.1. Khái niệm tiền gửi
Điều 20 khoản 9 Luật các TCTD 1997 (được sửa đổi, bổ sung theo Luật
sửa đổi, bổ sung luật TCTD năm 2004) đưa ra định nghĩa về tiền gửi: “Tiền gửi
là số tiền của tổ chức, cá nhân gửi tại TCTD hoặc các tổ chức khác có hoạt động
ngân hàng dưới hình thức tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi tiết
kiệm và các hình thức khác. Tiền gửi được hưởng lãi hoặc không được hưởng
lãi và phải được hoàn trả cho người gửi tiền”.
Như vậy, trên phương diện pháp lý thì “quan hệ tiền gửi” là quan hệ kinh
tế phát sinh giữa một bên là tổ chức, cá nhân gửi tiền với bên kia là tổ chức được
phép nhận tiền gửi. Xét về bản chất, quan hệ tiền gửi là một quan hệ hợp đồng
vay nợ, bởi vì :
- Quan hệ này được thiết lập trên cơ sở tự nguyện, bình đẳng và tự do thoả
thuận giữa các chủ thể.
- Có sự chuyển giao một lượng tiền nhất định từ người gửi tiền sang tổ
chức nhận tiền gửi để tổ chức này quản lý, sử dụng. Sau đó, tổ chức nhận tiền
gửi có nghĩa vụ phải hoàn trả cho người gửi tiền cả gốc và lãi (nếu có) khi đến
hạn hoặc khi người gửi tiền có yêu cầu.
- Quan hệ gửi tiền phát sinh trên cơ sở có sự tín nhiệm giữa các bên.
10
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
Tuy quan hệ gửi tiền là quan hệ vay nợ nhưng nó có những đặc điểm
riêng giúp ta phân biệt với các quan hệ vay nợ thông thường khác. Đó là:
Thứ nhất, về chủ thể: Quan hệ gửi tiền bao gồm hai loại chủ thể là người
gửi tiền và tổ chức tín dụng.
Người gửi tiền là tổ chức, cá nhân trong xã hội có nhu cầu gửi tiền và có
tiền để gửi. Họ đóng vai trò là người cho vay trong quan hệ này.
Tổ chức nhận tiền gửi là các TCTD và các tổ chức khác có hoạt động
ngân hàng, được Ngân hàng Nhà nước cho phép thực hiện nghiệp vụ nhận tiền
gửi của công chúng (sự cho phép của Ngân hàng Nhà nước được thể hiện bằng
việc ghi nhận nghiệp vụ này trong giấy phép hoạt động). Trong quan hệ gửi tiền,
tổ chức nhận tiền gửi đóng vai trò là bên đi vay. Tuy nhiên, đây là hoạt động đi
vay mang tính kinh doanh chuyên nghiệp được chủ thể này thực hiện thường
xuyên.
Thứ hai, về hình thức của quan hệ: Hình thức của quan hệ gửi tiền được
xác lập theo một cách thức riêng (giấy đề nghị gửi tiền) mang tính nghiệp vụ
chuyên biệt, được lập theo mẫu in có sẵn của TCTD nhận tiền gửi nhằm bảo
đảm tính tiện lợi, nhanh chóng, đơn giản mà vẫn chứa đựng đầy đủ những nội
dung cần thiết của một hợp đồng vay nợ.
Thứ ba, về mục đích: Trong quan hệ gửi tiền mỗi bên đều hướng tới
những mục đích riêng, thậm chí trong mỗi loại tiền gửi khác nhau người gửi tiền
lại hướng đến các mục đích khác nhau.
* Đối với tổ chức nhận tiền gửi: Mục đích của việc nhận tiền gửi là nhằm
huy động vốn để sử dụng cho hoạt động kinh doanh của mình thông qua việc
cấp tín dụng hoặc thực hiện các nghiệp vụ ngân hàng cho khách hàng. Chính từ
hoạt động này các tổ chức nhận tiền gửi được gọi là các “trung gian tài chính”,
đóng vai trò là cầu nối giữa cung - cầu vốn, hoạt động kinh doanh theo phương
thức “đi vay để cho vay”.
* Đối với người gửi tiền: Việc tham gia quan hệ gửi tiền nhằm mục đích
vừa để đảm bảo an toàn cho tiền vốn (tiền gửi vào sẽ được tổ chức nhận tiền gửi
trông giữ, bảo quản hộ) vừa để đồng vốn sinh lời khi chưa có nhu cầu sử dụng
11
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
hoặc để hưởng những tiện ích do tổ chức nhận tiền gửi cung ứng như dịch vụ
thanh toán, chuyển tiền Người gửi tiền có thể hướng tới một, hai hoặc cả ba
mục đích trên. Tuy nhiên, mục đích của họ được thể hiện rõ nhất thông qua hình
thức gửi tiền hay loại tiền gửi mà họ lựa chọn. Ví dụ: Một người gửi tiền không
kỳ hạn tại ngân hàng dưới hình thức thẻ tín dụng thì mục đích mà họ hướng tới
là sử dụng dịch vụ thanh toán qua ngân hàng; nếu họ gửi dưới hình thức tiền gửi
tiết kiệm có kỳ hạn thì mục đích của họ là hưởng lãi suất
Trong các hình thức huy động vốn của TCTD, hình thức huy động vốn
bằng nhận tiền gửi là hình thức chủ yếu, chiếm tỷ lệ lớn trong tổng nguồn vốn
huy động của mỗi TCTD. Việc huy động vốn bằng nhận tiền gửi là một hình
thức huy động vốn đặc trưng riêng có của các TCTD và các tổ chức khác được
Ngân hàng Nhà nước cho phép hoạt động ngân hàng, bởi vì:
Thứ nhất, đây là một nghiệp vụ ngân hàng đặc trưng, chỉ những TCTD và
tổ chức được Ngân hàng Nhà nước cho phép hoạt động ngân hàng mới được tiến
hành. Các loại hình doanh nghiệp khác không được phép huy động vốn bằng
hình thức nhận tiền gửi trong khi họ vẫn có thể phát hành giấy tờ có giá hay vay
vốn từ các TCTD.
Thứ hai, việc huy động vốn bằng nhận tiền gửi có thể tiến hành một cách
thường xuyên, liên tục với mọi khách hàng, không bị giới hạn về số lượng hay
địa giới hành chính Trong khi đó các hình thức huy động vốn khác của các
TCTD chỉ được thực hiện khi đáp ứng đủ những điều kiện nhất định và được
tiến hành một cách không thường xuyên như huy động vốn thông qua việc phát
hành giấy tờ có giá hoặc vay vốn từ Ngân hàng Nhà nước.
Thứ ba, thủ tục của việc huy động vốn bằng nhận tiền gửi giữa TCTD và
khách hàng được thực hiện nhanh chóng, đơn giản, không nhất thiết phải thông
qua quá trình thương lượng hay kiểm tra, thẩm định, đánh giá. Bất kỳ ai có nhu
cầu đều có thể tới TCTD mà mình lựa chọn để gửi tiền, lựa chọn hình thức gửi
tiền phù hợp với mục đích của mình.
Thứ tư, huy động vốn bằng nhận tiền gửi là cơ sở để các TCTD cung ứng
các dịch vụ khác cho khách hàng như dịch vụ thanh toán qua ngân hàng, dịch vụ
12
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
ngân quỹ Đây cũng là một yếu tố thu hút thêm nhiều khách hàng, làm tăng
nguồn vốn huy động cho các TCTD.
Thứ năm, việc huy động vốn bằng nhận tiền gửi của các TCTD được thực
hiện dựa trên cơ sở là uy tín, khả năng tài chính của TCTD, có sự quản lý, giám
sát của Nhà nước mà không cần thực hiện các biện pháp bảo đảm như cầm cố,
thế chấp hay bảo lãnh bằng tài sản như trong các quan hệ vay nợ khác. Người
gửi tiền sẽ lựa chọn TCTD mà mình tin tưởng nhất để gửi tiền dưới bất kỳ hình
thức nào.
2.1.2. Các loại tiền gửi
Khi tham gia quan hệ gửi tiền, người gửi tiền luôn hướng tời một mục
đích nhất định. Nhằm đáp ứng những nhu cầu đa dạng đó của khách hàng , các
TCTD đưa ra nhiều loại tiền gửi khác nhau để người gửi tiền lựa chọn hình thức
gửi thích hợp nhất tuỳ thuộc vào mục đích, tính chất và khả năng nguồn vốn của
họ. Dựa theo từng tiêu chí cụ thể người ta có thể phân chia thành nhiều loại tiền
gửi khác nhau. Cụ thể là:
- Căn cứ theo nghiệp vụ quản lý kinh doanh ngân hàng, tiền gửi được chia
thành:
+ Tiền gửi không kỳ hạn: Là loại tiền gửi được khách hàng gửi vào các
TCTD để thực hiện các khoản chi trả, thanh toán. Tiền gửi không kỳ hạn là
khoản tiền đang chờ thanh toán, không phải là tiền mà khách hàng để dành nên
khách hàng có thể rút ra hoặc sử dụng để thanh toán bất kỳ lúc nào theo yêu cầu.
Thông thường khách hàng gửi loại tiền gửi này sẽ không được trả lãi hoặc trả
mức lãi suất thấp. Tiền gửi không kỳ hạn được quản lý ở các TCTD trên tài
khoản tiền gửi thanh toán hoặc tài khoản vãng lai. Đối với tiền gửi không kỳ
hạn, khách hàng được sử dụng các công cụ thanh toán để chi trả như séc, uỷ
nhiệm chi và các lệnh chi khác
+ Tiền gửi có kỳ hạn: là loại tiền gửi mà khách hàng gửi vào TCTD trên
cơ sở có sự thoả thuận với TCTD về thời gian rút tiền. Về nguyên tắc người gửi
tiền chỉ được rút tiền khi đến hạn thoả thuận. Tuy nhiên, trên thực tế để thu hút
khách hàng gửi loại tiền gửi này, các TCTD có thể cho phép khách hàng đuợc
13
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
rút tiền trước thời hạn (nếu số tiền rút ra lớn thì phải có sự thông báo trước cho
TCTD một vài ngày) trong trường hợp này người gửi tiền chỉ được hưởng mức
lãi suất thấp. Tiền gửi có kỳ hạn là nguồn vốn tín dụng mang tính ổn định, nên
các TCTD thường chú trọng áp dụng các biện pháp kích thích để huy động loại
tiền gửi này bằng việc đưa ra nhiều loại kỳ hạn khác nhau để đáp ứng nhu cầu
của khách hàng. Đối với mỗi loại kỳ hạn, TCTD áp dụng một mức lãi suất tương
ứng trên nguyên tắc kỳ hạn càng dài, lãi suất càng cao.
+ Tiền gửi tiết kiệm: là loại tiền gửi chỉ dành cho cá nhân, nó là khoản
tiền để dành của các cá nhân chứ không phải để thanh toán, nó được ký gửi vào
các TCTD nhằm quản lý cất giữ hộ hoặc để hưởng lãi theo định kỳ.
Pháp luật hiện hành quy định “Tiền gửi tiết kiệm là khoản tiền của cá
nhân được gửi vào tài khoản tiết kiệm, được xác nhận trên thẻ tiết kiệm, được
hưởng lãi theo quy định của tổ chức nhận tiền gửi tiết kiệm và được bảo hiểm
theo quy định của pháp luật về bảo hiểm tiền gửi”.
(1)
Tiền gửi tiết kiệm có hai loại là tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn và tiền
gửi tiết kiệm có kỳ hạn.
• Tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn: là tiền gửi tiết kiệm mà người gửi
tiền có thể rút tiền theo yêu cầu mà không cần thông báo trước vào bất kỳ một
ngày làm việc nào của tổ chức nhận tiền gửi tiết kiệm. Tuy nhiên, tiền gửi tiết
kiệm không kỳ hạn khác với tiền gửi không kỳ hạn (tiền gửi thanh toán) ở chỗ:
Tài khoản tiền gửi tiết kiệm không được sử dụng để phát hành séc và thực hiện
giao dịch thanh toán bằng các công cụ thanh toán không dùng tiền mặt để chi trả
cho người khác, trừ trường hợp tài khoản tiền gửi tiết kiệm bằng đồng Việt Nam
của người cư trú được sử dụng để chuyển khoản thanh toán tiền vay của chính
chủ sở hữu tiền gửi tiết kiệm tại tổ chức nhận tiền gửi tiết kiệm đó, hoặc chuyển
sang tài khoản khác do chính chủ sở hữu tiền gửi tiết kiệm hoặc đồng chủ sở
hữu tiền gửi tiết kiệm là chủ tài khoản tại tổ chức nhận tiền gửi tiết kiệm đó.
• Tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn: là tiền gửi tiết kiệm mà người gửi tiền
chỉ có thể rút tiền mặt sau một kỳ hạn gửi tiền nhất định theo thoả thuận với tổ
(
Khoản1, Điểu 6 Quyết định số 1160/2004/QĐ-NHNN ng y 13/09/2004.à
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét