− Đặc trưng của đất mặn là lượng Cl
-
cao 0.05-0.25% vào mùa khô, pH ít chua đến
hơi kiềm, hàm lượng mùn từ trung bình đến hơi khá, ít thoát nước. Đất mặn phân bố
nhiều ở các tỉnh Kiên Giang, Cà Mau.
I.4.4 Vùng đất phèn mặn (SM)
Đất phèn mặn là loại đất bị nhiễm mặn muối. Đất này thường phân bố ở địa hình
trung bình và tương đối thấp. Đặc biệt tập trung nhiều ở Bạc Liêu, Cà Mau, Kiên Giang.
I.4.5 Vùng đất giồng cát (C
z
)
Là loại đất cát biển tập trung ở ĐBSCL.Thường gặp ở Bến Tre, Tiền Giang, Vĩnh
Long, Trà Vinh, Bạc Liêu
I.4.6 Vùng đất xám trên phù sa cổ (X)
ĐBSCL có 64.705ha, Long An (46.195ha), Đồng Tháp (15.484ha). Phân bố trên
các bậc thềm phù sa cổ, chạy dọc theo biên giới Việt Nam-Campuchia như ở Đồng Tháp
Mười. Đây là nhóm đất nghèo dinh dưỡng nhất ở ĐBSCL, hàm lượng chất hữu cơ thấp.
Thích hợp trồng các loại cây công nghiệp, hoa màu, cây họ đậu Được phân bố theo thứ
tự Long An, Đồng Tháp, An Giang, Kiên Giang
I.4.7 Vùng đất núi (F)
Ở ĐBSCL, khu vực đồi núi tập trung ở An Giang, có diện tích 26.200 ha.Nhìn
chung loại đất này có hàm lượng mùn rất thấp, nghèo dinh dưỡng.
I.5 Thủy văn
Mọi hiện tượng thủy văn và các đặc trưng tài nguyên nước mặt ĐBSCL là hậu quả
của chế độ mưa mùa tập trưng trên toàn bộ lưu vực sông Cửu Long và mối tương tác giữa
các quá trình sông và quá trình biển.
Hai quá trình chuyển động và ngược chiều này giao thoa, phối hợp và khống chế
lẫn nhau. Mối tương tác này còn bị ảnh hưởng bởi hệ thống thủy văn và các kiến trúc
nhân tạo khiến chế độ thủy văn ĐBSCL mang một sắc thái đặc biệt và biến động không
ngừng.
I.5.1 Yếu tố chủ đạo của quá trình sông
Lưu lượng trên dòng chính: chủ yếu là do 2 sông Tiền và sông Hậu. Sự phân bố
của 2 sông này trong năm là không đều, tùy thuộc lượng nước ở Tân Châu, Châu Đốc do
5
sự điều tiết của biển Hồ từ Campuchia bắt nguồn mang đến. Nước sông thường lên cao từ
tháng 7 đến tháng 11, cao nhất là vào tháng 9 và 10, mực nước có thể chênh lệch so với
mùa cạn đến 4 m.
I.5.2 Yếu tố chủ đạo của quá trình biển
− Triều biển Đông thuộc loại bán nhật triều không đều, biên độ từ 2m - 3.5m. Cực
đại có thể lên đến 4m.
− Ngược lại triều biển Tây thuộc loại triều hỗn hợp thiên về nhật triều có biên độ
triều nhỏ (nhỏ hơn 1m).
− Dạng bán nhật triều và dao động mạnh của biển Đông có tác dụng lớn trong việc
đẩy nước, tích nước trong lúc triều cao, trong khi ấy dạng nhật triều yếu của biển Tây có
lợi cho việc tiêu nước. Các sông chính rộng và sâu đều chảy ra biển Đông, đó là lý do
khiến triều biển Đông tác dụng lên phần lớn diện tích ĐBSCL
− Do những tác động khác nhau về lưu lượng của sông, địa hình dòng sông, hình
thái và mạng lưới kênh rạch nên khi truyền vào nội địa qua các sông chính thì hình
dạng, biên độ và tốc độ truyền triều trên mỗi sông khác nhau và thay đổi trên từng đoạn
sông. Do đó, diện tích có khả năng tự chảy trên 9 tháng/năm chỉ giới hạn ở vùng ven và
giữa sông Tiền, sông Hậu. Các khu vực khác muốn đưa nước lên vườn, ruộng trong mùa
kiệt phải sử dụng động lực vào các thời điểm khác nhau.
− Mực nước bình quân ở biển Đông cao hơn biển Tây nên sự chuyển nước từ Đông
sang Tây là hợp quy luật.
− Biên độ giảm khi đi sâu vào vườn ruộng.
− Tốc độ truyền triều trên các sông khá lớn, biến đổi theo mùa, lớn nhất là trên sông
Tiền (trung bình: 20km/g, có đoạn 40km/g) và giảm nhanh khi triều truyền vào vườn,
ruộng.
− Hậu quả là tuy cùng nguồn triều, các điểm khác nhau trên các dòng chính và nội
đồng có thể khác pha do triều truyền theo nhiều đường khác nhau.
I.5.3 Chế độ thủy văn mùa kiệt và ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp
− Trong mùa cạn, toàn bộ sông rạch ở ĐBSCL chịu tác dụng của thủy văn và hầu
như không có kênh chính nào chảy một chiều trong mùa cạn, những kênh nào lợi dụng
được các quy luật truyền triều và ít bị nhiễu động bởi các kênh ngang đều có chế độ tải
nước tốt trong mùa cạn.
− Ngoài nguồn của sông Tiền vào mùa nắng, cần lưu ý khai thác nước của các
nguồn từ sông rạch Campuchia đổ về.
6
I.5.4 Chế độ thủy văn mùa lũ và ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp
− Ngập úng là hiện tượng khá thường xuyên đối với ĐBSCL, nhất là ở các vùng
trũng và khu vực giữa sông Tiền và sông Hậu.Vì thế cũng ảnh hưởng đến diện tích, năng
suất trồng vườn và ruộng. Nước sông vào mùa lũ không đục như sông Hồng do hàm
lượng phù sa nhỏ (0,100 kg/m
3
vào các tháng 3,4; 0,300 kg/m
3
- tháng 9,10). Tuy vậy tổng
lượng của các con sông này hợp lại lên đến một con số khổng lồ, khoảng 100 triệu
tấn/năm, nghĩa là gấp khoảng vài lần tổng lượng phù sa sông Hồng và tổng lượng trung
bình nhiều năm lên đến 475-500 tỉ m
3
. Vì vậy, sau mấy trăm năm khai khẩn, vùng ĐBSCL
đã trở thành vựa lúa lớn nhất của Việt Nam và là nơi trồng hoa quả với năng suất cao nhờ
hệ thông dẫn thuỷ nhập điền quy mô và phức tạp biến những vùng đất phèn trở thành đất
phù sa phì nhiêu, ngăn chặn những luồng nước mặn từ biển.
− Trong những năm gần đây, chúng ta chứng kiến nạn lũ lụt xảy ra tại ĐBSCL
thường hơn những thập niên trước, với một nhịp độ ngày càng tăng, gần như ngập lụt xảy
ra hằng năm.
− Vùng ngập sâu nhất (>2m) là Tân Châu, Châu Đốc.Vùng ít ngập nhất (<0.3m) là
Bạc Liêu, Mỹ Tho, Bến Tre và các vùng núi.
I.5.6 Vấn đề xâm nhập mặn:
− Sự xâm nhập của nước mặn trong sông ngòi là một hiện tượng tự nhiên trong các
con sông mà cao độ của đáy sông thấp hơn mặt nước biển. Hiện tượng này xảy ra do sự
khác biệt về tỉ trọng của nước mặn (khoảng 1,03) và nước ngọt (khoảng 1,00). Ngoài ra
còn chịu ảnh hưởng của các yếu tố khác như lưu lượng và thời lượng của sông, độ dốc
của lòng sông, biên độ thủy triều, vận tốc và chiều gió cũng như nhiệt độ của nước, trong
đó lưu lượng và thời lượng là yếu tố quyết định.
− Nước mặn sẽ xâm nhập một cách dễ dàng nếu không có đủ lưu lượng và thời
lượng của nước sông. Lưu lượng thấp và kéo dài có thể do hạn hán, nhưng cũng có thể do
các dự án thủy nông, cấp thuỷ và rẽ nước ra khỏi lưu vực ở thượng lưu.
− Sự xâm nhập mặn trên các sông chính: là do nước biển theo dòng triều oh god
− Truyền ngược vào trong lòng sông nên sự thay đổi mặn cũng mang tính chất chu
kì.
− Xâm nhập mặn trong nội đồng: sự xâm nhập mặn ở các ruộng, vườn còn phức tạp
hơn nhiều so với sông chính vì chịu tác động của nhiều nguồn mặn và các điều kiện khí
hậu, địa hình các nơi có ảnh hưởng khá lớn.Tuy nhiên độ mặn bị giảm nhanh vào đầu
mùa mưa.
− Hậu quả là mất đi nguồn nước gia dụng và trồng trọt duy nhất hoa màu và cây trái
bị hủy hoại. Thực vật sẽ chết nếu độ mặn của nước trồng trọt vượt quá 0,36 g/l. Ngoài ra,
nước có độ mặn cao cũng ảnh hưởng đến gia súc và cá nước ngọt.
7
− Sông Cửu Long và các sông khác trong vùng ĐBSCL có tất cả các yếu tố thuận lợi
cho cho sự xâm nhập của nước mặn:đáy sông thấp hơn mặt nước biển, độ dốc lòng sông
rất bằng phẳng, biên độ thủy triều cao( khoảng 3m ở biển Đông) và gió chướng thổi từ
đất liền vào mùa khô .Vì sông Cửu Long có một lưu lượng tự nhiên cao trong một thời
gian dài ,nhất là trong mùa nươc nổi, cho nên sự xâm nhập của nước mặn trong sông Cửu
Long ngày trước chỉ giới hạn ở vùng cửa sông và không tạo nên một vấn đề nghiêm trọng
cho vùng ĐBSCL vào thời điểm đó.
− Ngày nay sự xâm nhập mặn trong sông Cửu Long là một trong những yếu tố tối
quan trọng có ảnh hưởng đến việc khai thác và phát triển ĐBSCL. Dữ kiện đo đạc gần
đây, tuy không đầy đủ đã cho thấy sự nghiêm trọng của vấn đề. Ví dụ tại Mỹ Tho nơi mà
trước đây có nước ngọt quanh năm, độ mặn trong sông Tiền đã lên đến 5,3g/l vào đầu
tháng 4 /1999 và còn có thể lên cao hơn .Độ mặn này vượt quá tiêu chuẩn 2,0 g/l cho
nước gia dụng ở các nước đang phát triển ,0,36 g/l cho nước trồng trọt và 3,0 g/l cho
nước chăn nuôi. Nước mặn đang xâm nhập sâu vào sông Cửu Long, nhất là trong mấy
năm vừa qua.Trong năm 1995 ,nước mặn đã tiến sâu vào sông Cửu Long 50 km, nhưng
đến năm 1999 nước mặn tiến sâu 70km, một hiện tượng chưa từng thấy trong lịch sử.
− Có nhiều phương pháp có thể dùng để đối phó với sự xâm nhập của nước mặn
trong sông Cửu Long .Phương pháp trước tiên có thể nghĩ đến là gia tăng lưu lượng của
sông Cửu Long trong lãnh thổ Viêt Nam, nhất là trong mùa khô. Có thể thực hiện bằng
cách giảm số lượng nước dẫn vào kinh dùng cho việc canh tác,nhất là những vùng có
năng suất thấp. Lưu lượng của sông Cửu Long cũng có thể được gia tăng bằng các hồ
chứa nước nhân taọ trong vùng. Một phương pháp rất thông dụng đã được thực hiện là
trong vùng ĐBSCL là cống ngăn mặn.
− Một giải pháp thỏa đáng cho sự xâm nhập nước mặn trên sông Cửu Long có thể là
một sự kết hợp của tất cả các phương pháp bao gồm sự gia tăng lưu lượng của sông, cống
ngăn mặn ,đập và điều kiện tự nhiên…
− Tất cả phải nhằm một mục đích là làm sao cho việc khai thác và phát triển mang
lại nhiều lợi ích nhất trong khi giảm thiểu các ảnh hưởng tai hại của các dự án thủy lợi
trong toàn lưu vực sông Meekong lên dân cư và hệ thông sinh thái của sông Cửu Long và
vùng ĐBSCL.
I.5.7 Tình hình chua phèn trên kênh mương
Quá trình oxi hóa, thủy phân và rửa trôi các thành phần độc hại trong đất chua đã
làm cho nước kênh có độ pH rất thấp, với hàm lượng Al
3+
, Fe
2+
, Fe
3+
rất cao. Hai biện
pháp để cải tạo nước chua trong kênh rạch là cô lập ém phèn tại chỗ, và tạo thủy để đẩy
nước chua đi nhanh ra sông lớn.
I.5.8 Phù sa và sự chuyển tải phù sa vào nội đồng
8
− Lượng phù sa của sông Cửu Long cao nhất vào mùa lũ. Thuộc loại phù sa hạt
mịn.
− Quá trình chuyển tải phù sa vào nội đồng bị chi phối hoàn toàn bởi động lực
của các dòng chảy ở các khu vực bị lũ ảnh hưởng. Phù sa vào nội đồng sâu nhất vào mùa
lũ khi nước trong các kênh chảy một chiều, song lượng bùn cát này chưa được bồi đắp
vào đồng ruộng vì nước chưa tràn lên đồng.
− Khi lũ đã cao, nước lũ từ phía biên giới Campuchia về tạo ra các sông lũ ngăn
cản không cho phù sa vào sâu.
− Các vùng đất có nước phù sa chảy mạnh qua thường là đất tốt cho nông nghiệp
vì được cải tạo và bồi tích. Muốn tăng lượng phù sa và trong vườn, ruộng cần phải tăng
tốc độ của dòng nước.
I.5.9 Nước ngầm
Các kết quả nghiên cứu địa chất, thủy văn đồng vị, thủy địa hóa đã khẳng định
các vỉa nước ngầm ở ĐBSCL không phải là các túi nước cô lập bị chôn vùi mà liên tục
được bổ sung từ nhiều nguồn khác nhau. Nước ngầm đóng vai trò quan trọng trong nông
nghiệp.
I.6 Khí hậu
ĐBSCL mang tính chất khí hậu gió mùa cận xích đạo. Các yếu tố khí hậu như ẩm
độ, không khí, bốc hơi, nắng, bức xạ, nhiệt độ tuy có thay đổi theo mùa nhưng tương đối
ổn định.
Nhiệt độ: Nhiệt độ hằng năm tương đối điều hòa, trung bình khoảng 27
0
C. Nhiệt độ tháng
cao nhất và thấp nhất chênh lệch không quá 3-4
0
C
Độ ẩm : độ ẩm trung bình trong khoảng 80-86%
Mưa
− Lượng mưa biến động theo từng trạm. Lượng mưa trung bình tháng vào khoảng
130-150 mm trong các tháng mùa mưa và vài chục mm trong các tháng mùa khô.
− Có hai đợt hạn đáng kể: đợt hạn tháng 5,6 DL(gọi là đầu vụ) hay tháng 7, 8 DL
(gọi là hạn Bà Chằng).
Bốc hơi: Nơi có lượng bốc hơi trung bình năm thấp nhất là Cần Thơ: 693.5 mm, TPHCM
: 1.300mm
Ánh sáng: Ở ĐBSCL số giờ nắng trung bình năm khoảng 2.500 giờ.
Bức xạ: cán cân bức xạ năm đạt 75-80 kcal/cm
2
Gió: có 3 hướng gió chính: Tây Tây Nam, Đông Bắc và Đông Nam.
9
Bão: quanh năm ít có bão xảy ra.
I.7 Hệ sinh vật
I.7.1 Thực Vật
Rừng nước mặn ven biển chiếm diện tích 30.000 ha, đứng thứ ba trên thế giới có
giá trị kinh tế cao.
I.7.1.1 Thảm thực vật tự nhiên vùng đất hoang
− Kiểu thảm thực vật trên vùng phù sa cổ và núi sót: phân bố trên vùng có địa hình
cao.
− Kiểu thảm thực vật vùng ngập nước:
o Rừng ngập mặn
o Trảng cỏ ngập mặn
o Trảng cỏ Năng Xoắn
o Kiểu thảm thực vật ven sông rạch
o Kiểu phụ Mấm, Đước
o Kiểu phụ dừa nước
o Kiểu phụ bần chua
o Kiểu phụ chiếc
− Kiểu thảm thực vật ngập nước định kỳ: phân bố ở vùng trung bình thấp hoặc
trũng.Kiểu sinh cảnh này chiếm diện tích trong vùng ngập lũ.
I.7.1.2 Thảm thực vật trên vùng đất canh tác
Trên vùng đất canh tác thảm thực vật tự nhiên bị thay thế hoàn toàn bằng thảm
thực vật nhân tạo. Gồm: đất địa hình cao ngập ít, đất ruộng, đất ven biển nhiễm mặn.
I.7.2 Động Vật:
I.7.2.1 Chăn nuôi
− Trên cạn: các loại gia súc gia cầm
− Dưới nước: phần lớn là thủy hải sản.
10
I.7.2.2 Tự nhiên
Hệ động vật hoang dã ở đây bao gồm 23 loài thú, 386 loài và loài phụ chim., 35
loài bò sát, 6 loài ếch nhái và 260 loài cá chủ yếu thấy ở rừng U Minh và các rừng đước ở
Nam Căn.
I.8 Khoáng sản:
− ĐBSCL có triển vọng dầu khí trong thềm lục địa tiếp giáp thuộc biển Đông và
Vịnh Thái Lan:
o Bể trầm tích Cửu Long: thềm lục địa tiếp giáp Đông Nam Bộ ở phía Bắc,
ĐBSCL ở phía Nam. Dự báo khoảng 2 tỷ tấn dầu quy đổi.
o Bể trầm tích Nam Côn Sơn: Tiềm năng dự báo địa chất khoảng 3 tỷ tấn dầu
quy đổi.
o Bể trầm tích Thổ Chu - Mã Lai thuộc Vịnh Thái Lan có trữ lượng dự báo
không lớn, khoảng vài trăm triệu tấn dầu.
− Đá vôi có trữ lượng khoảng 130 đến 440 triệu tấn.
− Đá Granit, Andesit có khoảng 450 triệu m3.
− Sét gạch ngói có trữ lượng đến 40 triệu m3.
− Cát sỏi có trữ lượng đến 10 triệu m3/năm
− Than bùn có lượng 370 triệu tấn, trong đó U Minh khoảng 300 triệu tấn
− Nước khoáng có ở Long An, Tiền Giang, Vĩnh Long, Sóc Trăng, Minh Hải.
II KINH TẾ-XÃ HỘI
II.1 Dân số-lao động
− Là vùng có dân số đông nhất trong các vùng của cả nước, chiếm 22% dân số cả
nước.
− Dân cư ở ĐBSCL phân bố không đều và không ổn định. Dự báo dân số đô thị năm
2010 khoảng 7,4 triệu người, chiếm 35% dân số vùng.
− Về lực lượng lao động: ĐBSCL có hơn 6 triệu lao động xã hội có khoảng 4.5 triệu
làm nông nghiệp.
− Tỷ lệ chết còn cao có thể do ảnh hưởng mức sống bị giảm sút và thiếu thuốc men
chữa bệnh.
11
− Nhân dân ĐBSCL giàu truyền thống cách mạng, thông minh sáng tạo, có kinh
nghiệm trong sản xuất hàng hoá có thể thích ứng nhanh nhạy với điều kiện và đòi hỏi mới
của thời đại khoa học công nghệ tiên tiến.
II.2 Văn hoá xã hội
II.2.1 Văn hoá:
ĐBSCL là vùng đất thuộc nền văn hóa Óc eo của cư dân bản địa thuộc vương Phù Nam.
Người Việt miền Bắc đến khai phá vào khoảng thế kỷ 16. Khoảng thế kỷ 17, nhóm người
Hoa thuộc gia tộc Mạc Cửu đến khai phá vùng đất Hà Tiên. Cư dân ĐBSCL hầu hết là
người Việt, ngoài ra còn có các dân tộc Khmer, Chăm, Hoa, Mạ, Stieng, Chơro,
Mnông…trong đó người Việt đóng vai trò chủ thể quyết định sự phát triển.
II.2.1.1 Văn hóa nông ngiệp:
− Thiên về quảng canh nhằm sử dụng diện tích đất khai hoang còn quá rộng, nhằm
trừ hao do chim chóc…
− Hệ thống thuỷ lợi không có đê, chủ yếu dựa vào chế độ thuỷ triều đề đưa nước
ngọt và phù sa lên diện tích đất canh tác. Mỗi lần có lũ là một lần cải tạo chất lượng
nước, vệ sinh ruộng đồng.
− Ngoài trồng lúa còn trồng nhiều loại hoa màu, cây ăn trái nổi tiếng như bưởi Năm
Roi, xoài cát Hòa Lộc. Bên cạnh nông nghiệp, cư dân ĐBSCL còn chăn thả gia súc, gia
cầm, nuôi trồng đánh bắt thuỷ sản
II.2.1.2 Tập quán ăn uống:
Văn hoá ẩm thực của người Tây Nam Bộ không đi vào sự cầu kì mà thiên về sự dư dật,
phong phú, thề hiện sự dung hợp hài hòa giữa các dân tộc.
II.2.1.3 Tập quán trang phục:
Trang phục đặc trưng là áo bà ba, bên cạnh là trang phục của các dân tộc Hoa, Chăm,
Khmer nhất là các vùng có các dân tộc này sống tập trung như Châu Đốc, Sóc Trăng.
Trang phục cũng thể hiện lối ứng xử thích nghi với môi trường tự nhiên với các chất liệu
bằng vải sợi, thoáng mỏng như truyền thống của người Việt nhưng cũng mang những sắc
thái riêng.
12
II.2.1.4 Ăn ở - đi lại:
Về nhà ở, điều kiện tự nhiên bắt buộc xây dựng nhà trên đồi, gò, gồng và nhà dọc trên
kênh rạch, mặt nhà hướng ra lộ hay kênh rạch. Có 4 loại nhà chủ yếu là nhà đất, nhà sàn,
nhà nửa sàn nửa đất trong đó nhà sàn là phổ biến nhất. Vật liệu xây nhà trước kia lấy từ
các loại vật liệu tự nhiên: tràm, đước, lá dừa nước …sau này thêm các loại cây khác,
gạch, đá…
II.2.2 Xã hội
II.2.2.1 Y tế:
− Hệ thống y tế phát triển tương đối rộng khắp. Toàn vùng có 11 bện viện đa khoa,
103 trung tâm y tế tuyến huyện và 100% xã có trạm y tế. Chương trình tiêm chủng mở
rộng được thực hiện rộng khắp và thu được nhiều kết quả khả quan. Tình hình sức khoẻ
cộng đồng có nhiều vấn đề, cần giải quyết vấn đề bệnh dịch liên quan đến nguồn nước do
thiếu nước sạch. Bệnh AIDS lan truyền mạnh ở khu vức biên giới do người dân thiếu
hiểu biết và tệ nạn xã hội.
− Trong những năm gần đây dịch cúm gà lan rộng, ĐBSCL cũng là vùng có tốc độ
lây truyền cao và phải gánh chịu nhiều thiệt hại nặng nề. Điều đó đòi hỏi công tác y tế,
tiêm phòng, vệ sinh dịch tễ cần được nâng cao và mở rộng để bảo vệ sức khoẻ cộng
đồng.
II.2.3 Giáo dục:
− Mạng lưới giáo dục ở ĐBSCL khá đầy đủ. Tính đến 30/4/2000 có 3.458 triệu
người đến trường. Trong đó, trường tiểu học và phổ thông cơ sở là 4.034 và phổ thông
trung học là 324 triệu. Mỗi xã thường có trường trung học. Bên cạnh đó, mạng lưới các
trường trung học chuyên nghiệp, cao đẳng, đại học khá nhiều gồm: đại học Cần Thơ, 5
trường kinh tế, 86 trường cao đẳng dạy nghề.
− Tuy nhiên, những vùng sâu, vùng xa đầu tư cho giáo dục chưa nhiều, số lượng trẻ
em đến trường còn thầp so với cả nước. Tỷ lệ tốt nghiệp phổ thông trung học thấp, chỉ
cao hơn Tây Nguyên (ĐBSCL 97,01%, Tây Nguyên 7.,01%, đồng bằng sông Hồng
93,28%)
− Nhìn chung, hệ thống giáo dục chưa phát triển đồng bộ giữa các cấp học và các
vùng dân cư.
II.3 Kinh tế
13
II.3.1 Nông nghiệp
− ĐBSCL là một vùng lương thực, thực phẩm quan trọng nhất cả nước hội tụ
nhiều trọng điểm sản phẩm hàng hóa.
− ĐBSCL có diện tích đất nông nghiệp lớn nhất trong cả nước. Diện tích đất phù
sa ngọt thuận lợi và tương đối thuận lợi cho nông nghiệp-chủ yếu là lúa nước. Đặc biệt,
trồng lúa đang là thế mạnh của ĐBSCL, diện tích trồng lúa là 4 triệu ha, xuất khấu 2-3
triệu tấn gạo mỗi năm. Lượng gạo xuất khẩu trong 10 năm tăng lên đến 22 triệu tấn.
ĐBSCL chiếm một nửa sản lượng lương thực của cả nước trong khi dân số chiếm 22%.
(hình 1.1)
− ĐBSCL là vùng sản xuất nông nghiệp lớn nhất của cả nước, nông nghiệp
ĐBSCL đã góp phần quan trọng vào tăng trưởng chung của nền kinh tế trong vùng, đồng
thời góp phần ổn định nền kinh tế chung của đất nước.
− Khu vực ĐBSCL là vựa lúa lớn nhất cả nước, đây cũng là vườn cây ăn trái
rộng lớn của Việt Nam, chính vì vậy đây cũng là nơi dùng rất nhiều các loại thuốc bảo vệ
thực vật (TBVTV), phân bón hóa học(PBHH). Các hóa chất này không chỉ gây ô nhiễm
nguồn nước, đất mà còn gây hại cho con người, đặc biệt những người tiếp xúc trực tiếp
với chúng .
− Việc sử dụng TBVTV và PBHH quá nhiều sẽ gây ra rất nhiều hậu quả về môi
trường như đất, không khí, đặc biệt là tác động mạnh đến nguồn nước ngầm, nước mặt
khu vực, nếu sử dụng không đúng chúng cũng có phản tác dụng lên cây trồng như vàng
lá, khô cây, giảm sức nảy mầm, ảnh hưởng xấu tới sinh trưởng của cây…
− Các ảnh hưởng thông thường như các bệnh ngoài da, ung thư, thần kinh, vô
sinh, nội tạng…hoặc tử vong, ngoài ra con có những biểu hiện mãng tính khi mới tiếp
xúc như muốn ói, hoa mắt, xanh xao, mẩn ngứa…
II.3.2 Công nghiệp
− Tuy không là thế mạnh của vùng nhưng công nghiệp ở ĐBSCL cũng đã và đang
phát triển rất mạnh mẽ: Cần Thơ, Vĩnh Long, Long An
− Công nghiệp chủ yếu tập trung vào chế biến gạo, thủy sản. Ngành khai thác vật
liệu xây dựng đang phát triển mạnh. Tuy nhiên, trang thiết bị và công nghệ còn lạc hậu,
nhất là ngoài quốc doanh.
II.3.3 Thủy sản:
Với lợi thế về nguồn nước mặt phong phú từ hệ thống sông ngòi kênh rạch, chằng
chịt ĐBSCL có nhiều loại cá nước ngọt có chất lượng. Giá trị xuất khấu thủy hải sản
đạt 50-60% so với cả nước.
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét