Thứ Ba, 25 tháng 2, 2014

Giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng đối với Doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Chi nhánh ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Đông Hà Nội

Luận văn tốt nghiệp
TIÊU CHÍ XÁC ĐỊNH DNVVN Ở MỘT SỐ QUỐC GIA
Tên nước Số lao động
Tổng số vốn hoặc
giá trị tài sản
Nhật
< 50 trong bán lẻ
<100 trong bán buôn
< 300 ngành khác
< 10 triệu yên
< 30 triệu yên
< 100 triệu yên
Mỹ < 500
Thái Lan < 100 < 20 triệu bạt
Xin ga po < 100 < 499 triệu SD
Phi líp pin < 200 < 100 triệu pê-sô
In đo nê xia < 100 < 0,6 tỉ ru-pi
Nguồn: Phát triển SME trong quá trình công nghiệp hoá ở Việt Nam và Kinh nghiệm phát
triển DNVVN ở Mỹ – Tạp chí NCKT.
Một số đặc điểm của doanh nghiệp vừa và nhỏ :
Doanh nghiệp vừa và nhỏ tồn tại và phát triển ở mọi thành phần kinh tế. Ở
nước ta, DNVVN chiếm 33,6% trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước
ngoài; 65,9% trong các hợp tác xã và liên hiệp hợp tác xã; 94,6% công ty
trách nhiệm hữu hạn; 99,4% doanh nghiệp tư nhân; 65,9% doanh nghiệp Nhà
nước và gần 100% doanh nghiệp hoạt động ở lĩnh vực nông thôn là các
DNVVN.
Doanh nghiệp vừa và nhỏ có tính năng động và linh hoạt cao trước những thay
đổi của thị trường, có khả năng chuyển hướng kinh doanh và chuyển hướng
mặt hàng nhanh vì vốn đầu tư ít và thu hồi vốn nhanh. Các DNVVN dễ phát
huy bản chất hợp tác, có thể duy trì tự do cạnh tranh và phát huy tiềm lực ở
trong nước.
Các doanh nghiệp vừa và nhỏ có bộ máy tổ chức quản lý gọn nhẹ, có hiệu quả.
Các quyết định quản lý được đưa ra và thực hiện nhanh chóng, không ách tắc
và tránh phiền hà nên có thể tiết kiệm tối đa chi phí quản lý DN.
5
5
Luận văn tốt nghiệp
Các doanh nghiệp vừa và nhỏ có vốn ban đầu ít, thu hồi vốn nhanh, hiệu quả
cao, tạo ra nhiều khả năng đầu tư của các cá nhân và mọi thành phần kinh tế.
Bên cạnh một số đặc điểm thể hiện những ưu diểm trên, DNVVN cũng còn
những đặc điểm bộc lộ mặt hạn chế như trang thiết bị công nghệ không bắt
kịp thời đại, trình độ quản lý sản xuất kinh doanh còn thấp, khó khăn thâm
nhập vào thị trường thế giới, khu vực và mở rộng thị phần. Đặc biệt, một mặt
hạn chế rất đáng quan tâm của các DNVVN là khó khăn khi tiếp xúc với các
kênh huy động vốn. Với đặc trưng quy mô kinh doanh là vừa và nhỏ, vốn điều
lệ ban đầu thấp ( dưới 10 tỷ VNĐ ) nên không đáp ứng được nhu cầu vốn cho
đầu tư. Nguồn tài chính hạn hẹp, quy mô lợi nhuận nhỏ bé dẫn đến tỷ lệ vốn
từ lợi nhuận đạt được không cao, tích tụ tập trung để tái sản xuất diễn ra chậm
chạp. Với DNVVN, giá trị tài sản thuần thấp ( tổng giá trị tài sản của DN sau
khi trừ đi nợ phải trả ), uy tín trên thương trường không cao, trình độ về lĩnh
vực sản xuất kinh doanh cũng như nhiều lĩnh vực có liên quan khác còn hạn
chế, đa số là DNNQD không được hưởng nhiều các ưu đãi, chính sách hỗ trợ
của Chính phủ và Nhà nước nên các nhà đầu tư coi đây là khu vực rủi ro
cao, mang tâm lý e ngại dè dặt. Chính vì vậy, DNVVN gặp nhiều trở ngại khi
tiếp cận các kênh huy động vốn trong nền kinh tế.
1.1.1.2 Vai trò của các Doanh nghiệp vừa và nhỏ
Xét về mặt lịch sử, sự ra đời và phát triển của các nước tư bản có nền đại công
nghiệp phát triển gắn với những công ty, tập đoàn kinh tế lớn như ngày nay
thì sự khởi đầu của họ cũng là những xí nghiệp, công trường thủ công sản
xuất nhỏ. Trong quá trình phát triển, sự tích tụ và tập trung vốn cùng với quá
trình cạnh tranh gay gắt giữa những xí nghiệp trong nước và ngoài nước đã
tạo ra những tập đoàn kinh tế lớn như ngày nay. Tuy vậy, ngay cả ở các nước
tư bản phát triển, các DNVVN vẫn giữ một vị trí quan trọng và ngày càng
được khẳng định. Bởi vì nhiều lĩnh vực kinh tế chỉ có thể sản xuất kinh doanh
có hiệu quả bởi các DNVVN. Sau thời kỳ suy thoái kinh tế những năm đầu
thập niên 30, người ta luận ra rằng khu vực DNVVN là nhân tố cực kỳ quan
6
6
Luận văn tốt nghiệp
trọng thúc đẩy và mở rộng cạnh tranh, bảo đảm và ổn định kinh tế, phòng
chống nguy cơ khủng hoảng. Thật vậy, khu vực DNVVN là xương sống trong
nền kinh tế của nhiều quốc gia hiện tại và cả tương lai. Đặc biệt khi cuộc
Cách mạng khoa học và công nghệ ngày càng phát triển đã tạo điều kiện cho
các DNVVN nhiều cơ hội tập trung kỹ thuật, có khả năng sản xuất các sản
phẩm không thua kém các doanh nghiệp lớn. Mặt khác xét trên phạm vi toàn
cầu hiện nay về tính chất cạnh tranh giữa các doanh nghiệp đang chuyển từ
cạnh tranh giá cả sang cạnh tranh về chất lượng và công nghệ. Trong điều
kiện này, lợi thế của các doanh nghiệp có quy mô lớn sẽ bị giảm sút. Sự phát
triển của chuyên môn hoá và hợp tác hoá đã không cho phép một doanh
nghiệp tự khép kín chu trình sản xuất kinh doanh một cách có hiệu quả. Mà
với mô hình sản xuất kiểu vệ tinh, trong đó các DNVVN là vệ tinh của doanh
nghiệp lớn tỏ ra rất thích hợp.
Như vậy, một nền kinh tế hiện đại thì DNVVN ngày càng không thể tan biến
trong các tập đoàn kinh tế lớn mà khả năng hợp tác để mở rộng lại ngày càng
tăng.
Đối với Việt Nam, một nước đang phát triển, đang tiến tới một nền kinh tế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa thì DNVVN càng có ý nghĩa quan trọng.
Thể hiện cụ thể trên các mặt sau :
- DNVVN chiếm tỷ trọng cao về số lượng, thu hút nhiều lao động và đóng
góp phần lớn thu nhập quốc dân cho đất nước. Theo số liệu thống kê của các
nhà kinh tế, hiện nay DNVVN của nước ta chiếm trên 80% tổng số doanh
nghiệp, tạo công ăn việc làm cho khoảng 95% lao động xã hội. Như vậy, phát
triển DNVVN là chủ trương đúng đắn của Đảng, nó được gắn liền với đường
lối phát triển kinh tế nhiều thành phần của Đảng theo định hướng kinh tế thị
trường nhằm giải quyết việc làm, tăng thu nhập, góp phần vào ổn định tình
hình kinh tế xã hội.
7
7
Luận văn tốt nghiệp
- Các DNVVN đóng vai trò quan trọng trong lưu thông hàng hoá và cung
cấp dịch vụ, có vai trò bổ sung cho các doanh nghiệp lớn, là xí nghiệp gia
công vệ tinh cho các doanh nghiệp lớn cùng hệ thống và là màng lưới tiêu thụ
hàng hoá cho các doanh nghiệp lớn. Hiện DNVVN chiếm khoảng 31% tổng
sản lượng công nghiệp hàng năm, 78% doanh số bán lẻ trong thương nghiệp,
64% khối lượng vận chuyển hành khách và hàng hoá.
- Các DNVVN đáp ứng tích cực, kịp thời nhu cầu tiên dùng ngày càng
phong phú và đa dạng mà các doanh nghiệp lớn không thể làm được, chế biến
hàng hoá xuất khẩu và tăng kim ngạch xuất khẩu. Hệ thống siêu thị cũng
không thể thay thế được các cửa hàng bán lẻ, những nhà máy quy mô lớn hiện
đại không sản xuất được những sản phẩm đơn chiếc. Bằng sự đa dạng ngành
nghề, tính nhạy cảm thị trường các DNVVN sẽ có nhiều thuận lợi trong sản
xuất và cung cấp dịch vụ, đáp ứng mọi sản phẩm và nhu cầu tiêu dùng của xã
hội. Với lợi thế so sánh về các nguyên liệu nông lâm thuỷ hải sản để sản xuất
hàng hoá xuất khẩu, lợi thế về ngành nghề thủ công truyền thống đã tạo ra
khả năng vô cùng to lớn cho khu vực DNVVN tham gia sản xuất, gia công
chế biến, đại lý khai thác cho xuất khẩu. Do DN lớn hạn chế về khu vực địa
lý, phương pháp tổ chức sản xuất và nếu muốn kinh doanh thường phải sử
dụng các DNVVN làm vệ tinh thu mua nguyên liệu, chế biến, đóng gói
- Các DNVVN có vai trò tích cực đối với sự phát triển kinh tế địa phương,
khai thác tiềm năng thế mạnh của từng vùng sản xuất. Phát triển DNVVN sẽ
giúp các địa phương khai thác thế mạnh về đất đai, tài nguyên, lao động trong
mọi lĩnh vực phục vụ phát triển kinh tế địa phương. Từng địa phương cũng bị
giới hạn bởi ngân sách, khả năng tích tụ và tập trung vốn của DN tư nhân
không nhiều nên việc phát triển doanh nghiệp lớn là hạn chế. Chính vì vậy,
Đảng và Chính phủ ta đưa ra các chính sách hỗ trợ phát triển kinh tế trang trại
ở vùng núi phía Bắc, vùng cao nguyên Nam trung bộ và phát huy các làng
nghề truyền thống.
8
8
Luận văn tốt nghiệp
Như vậy, có thể khẳng định vị trí và vai trò của các DNVVN, đồng thời việc
chú trọng phát triển các DNVVN là một trong những hướng chiến lược quan
trọng trong quá trình công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước.

9
9
Luận văn tốt nghiệp
ĐÁNH GIÁ VAI TRÒ DNVVN Ở VIỆT NAM
T
T
Vai trò Tỷ lệ ( % )
1
Góp phần tăng trưởng kinh tế
51,7
2
Tạo việc làm, tăng thu nhập
88,5
3
Tăng tính năng động và hiệu quả của nền kinh tế
83,2
4
Tham gia đào tạo đội ngũ các nhà kinh doanh Việt Nam
63,2
Nguồn: Chính sách hỗ trợ phát triển DNVVN ở Việt Nam
1.1.2 Một số vấn đề cơ bản về tín dụng Ngân hàng
1.1.2.1 Khái niệm về tín dụng Ngân hàng
Nghề ngân hàng bắt đầu với nghiệp vụ đổi tiền hoặc đúc tiền của các thợ vàng
– Ngân hàng thợ vàng. Họ tiến hành mua bán, trao đổi ngoại tệ, bản tệ và thu
lợi nhuận từ chênh lệch giá. Những nhà buôn tiền này cất trữ hộ nhiều người
khác là điều kiện thực hiện thanh toán hộ cho các thương gia, lãnh chúa, địa
chủ Do tính chất vô danh của tiền cùng với sự phân biệt giữa sản xuất và tiêu
thụ, tính thời vụ trong sản xuất, mua bán sản phẩm thì tín dụng thương mại đã
xuất hiện. Đó là quan hệ tín dụng được hình thành trên cơ sở mua bán chịu
hàng hoá. Nhờ có tín dụng thương mại mà các doanh nghiệp không chỉ được
đáp ứng nhu cầu vốn mà còn tiêu thụ được hàng hoá của mình. Song tín dụng
thương mại chỉ có thể thực hiện giữa những người có quan hệ giao dịch
thường xuyên trong phạm vi mua bán chịu hàng hoá đã thực hiện, vốn cho
vay là một bộ phận nằm trong chu kỳ của người cho vay nên không thể kéo
dài thời hạn. Nghĩa là tín dụng thương mại bị hạn chế về phạm vi qui mô, về
thời hạn và chiều hướng của quan hệ tín dụng.
Từ đó, tín dụng Ngân hàng đã ra đời nhằm khắc phục mặt hạn chế trên của tín dụng thương mại. Tín dụng
Ngân hàng là hoạt động tài trợ của Ngân hàng cho khách hàng, là loại hình dịch vụ chủ yếu của Ngân hàng –
tổ chức tài chính cung cấp một danh mục các dịch vụ tài chính đa dạng nhất và thực hiện nhiều chức năng tài
chính nhất so với bất kỳ một tổ chức kinh doanh nào trong nền kinh tế. Tín dụng Ngân hàng là hình thức phát
triển cao của tín dụng nói chung, về bản chất vẫn là quá trình chuyển dịch vốn dưới hình thái tiền tệ hay hiện
vật của một tổ chức hay cá nhân này cho một tổ chức hay cá nhân khác sử dụng trong một thời gian nhất định
10
10
Luận văn tốt nghiệp
trên nguyên tắc hoàn trả. Song điểm khác biệt của tín dụng Ngân hàng là quan hệ tín dụng ở đây là bằng tiền
tệ giữa một bên là Ngân hàng, một tổ chức chuyên kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ, đóng cả vai trò đi vay
và cho vay với một bên là tất cả các thành phần kinh tế trong xã hội. Tín dụng Ngân hàng được hình thành
trên cơ sở các nghiệp vụ tín dụng. Tín dụng ngân hàng ngày càng phát triển mạnh, phạm vi hoạt động ngày
càng rộng và trở thành hình thức tín dụng chủ yếu trong nền kinh tế thay thế tín dụng thương mại. Nó luôn
phát huy được vai trò đáp ứng nhu cầu về vốn để duy trì và mở rộng quá trình tái sản xuất đồng thời được sử
dụng như một công cụ tài trợ cho những ngành kinh tế khác phát triển theo yêu cầu phát triển kinh tế của Nhà
nước.
1.1.2.2 Phân loại tín dụng Ngân hàng
 Phân loại theo hình thức cấp tín dụng :
Chiết khấu thương phiếu : đây là nghiệp vụ đơn giản, khách hàng gửi thương phiếu tới Ngân hàng xin chiết
khấu, Ngân hàng kiểm tra chất lượng của thương phiếu và tiến hành chiết khấu nghĩa là đưa tiền cho khách
hàng và nắm giữ thương phiếu. Số tiền này căn cứ vào lãi suất, thời hạn và lệ phí chiết khấu. Các NHTM
thường tái chiết khấu thương phiếu tại NHNN để đáp ứng nhu cầu thanh khoản.
Cho vay : bao gồm thấu chi, cho vay từng lần, cho vay theo hạn mức, cho vay luân chuyển, cho vay trả góp.
Có thể hiểu chung nhất cho vay là việc Ngân hàng đưa tiền cho khách hàng với cam kết sẽ trả nợ gốc và lãi
trong một thời gian xác định. Thấu chi là nghiệp vụ mà Ngân hàng cho phép người vay chi vượt số dư trong
tài khoản tiền gửi thanh toán của mình đến một giới hạn nhất định và trong khoảng thời gian xác định. Cho
vay trực tiếp từng lần thường áp dụng với khách hàng có nhu cầu thời vụ, mỗi lần vay khách hàng phải làm
đơn và trình phương án dùng vốn vay. Ngân hàng xem xét và đưa ra qui mô cho vay, thời hạn trả nợ, lãi
suất Cho vay theo hạn mức là Ngân hàng thoả thuận cấp cho khách hàng hạn mức tín dụng - số dư tối đa tại
thời điểm tính. Hạn mức được xác định dựa vào kế hoạch SXKD của khách hàng, nhu cầu vốn và nhu cầu
vay của họ. Cho vay luân chuyển là dựa vào sự luân chuyển của hàng hoá, DN khi không đủ vốn mua hàng,
Ngân hàng sẽ cho vay và thu nợ khi DN bán được hàng. Cho vay trả góp thường áp dụng với món vay trung
dài hạn, khách hàng được phép trả gốc làm nhiều lần trong thời hạn tín dụng.
Cho thuê: là việc Ngân hàng mua tài sản để cho khách hàng thuê theo thỏa thuận cụ thể. Tài sản cho thuê
thuộc sở hữu của Ngân hàng, Ngân hàng có thể bán hay cho người khác thuê khi người thuê không trả nợ
được. Cho thuê có hai hình thức là cho thuê nghiệp vụ và cho thuê tài chính. Hoạt động cho thuê của Ngân
hàng chủ yếu là cho thuê tài chính, nó đáp ứng nhu cầu thuê trong thời gian dài và người đi thuê có quyền
mua lại tài sản khi hết hợp đồng thuê.
11
11
Luận văn tốt nghiệp
 Phân loại theo tài sản đảm bảo:
Về nguyên tắc mọi khoản tín dụng đều có đảm bảo nhưng với các khách hàng uy tín, tài chính mạnh hay
các món vay theo chỉ thị của Chính phủ thì không cần tài sản đảm bảo. Có 2 nghiệp vụ đảm bảo là cầm cố và
thế chấp. Cầm cố là hình thức mà người vay phải chuyển quyền kiểm soát tài sản đảm bảo sang cho Ngân
hàng trong thời gian xác định, thường là bằng thời gian nhận tài trợ. Thế chấp là hình thức mà người vay phải
chuyển các giấy tờ chứng nhận quyền sở hữu hay quyền sử dụng tài sản đảm bảo sang Ngân hàng nắm giữ
trong thời gian cam kết.
 Phân loại theo thời gian:
Do thời gian liên quan đến tính sinh lời và an toàn của tín dụng nên phân chia theo thời gian là cần thiết. Tín
dụng ngắn hạn là từ 12 tháng trở xuống và thường tài trợ cho tài sản lưu động. Tín dụng trung hạn là từ 1 đến
5 năm, thường tài trợ cho tài sản cố định. Tín dụng dài hạn là trên 5 năm, tài trợ cho các công trình xây dựng
như cầu, đường, máy móc thiết bị sử dụng lâu dài.
 Phân loại theo rủi ro :
Rủi ro nói chung là khả năng xảy ra tổn thất ngoài dự kiến. Còn rủi ro tín dụng được hiểu là khả năng xảy ra
những tổn thất mà Ngân hàng phải chịu do khách hàng không trả, trả không đúng hạn hay không trả đủ vốn
và lãi. Tín dụng gồm các khoản có độ an toàn cao, khá, trung bình và thấp. Cách phân loại này giúp Ngân
hàng đánh giá được kịp thời các khoản tín dụng, giúp cho việc đánh giá chất lượng tín dụng.
Ngoài ra, còn có thể xem xét nghiệp vụ tín dụng theo ngành kinh tế công nghiệp, nông nghiệp và dịch vụ;
theo mục đích sử dụng khoản tài trợ là sản xuất, tiêu dùng hay thương mại Quan hệ tín dụng được thiết lập
giữa hai bên là Ngân hàng và khách hàng, khách hàng là đối tác hết sức quan trọng trong hoạt động tín dụng
với Ngân hàng. Vì vậy, người ta cũng phân chia khách hàng thành DN lớn, DN vừa và nhỏ, cá nhân hộ gia
đình.
1.1.3 Tầm quan trọng của tín dụng tới doanh nghiệp vừa và nhỏ
Vốn kinh doanh là yếu tố tiền đề của mọi quá trình đầu tư. Trong nền kinh tế bao cấp với cơ chế kế hoạch
hoá tập trung đã không quan niệm vốn là hàng hoá đặc biệt vì vốn được rót từ ngân sách và Ngân hàng. Vốn
đã không được sử dụng hiệu quả do không có nơi giao dịch trên thị trường, điều đó đã làm mất đi vai trò
khách quan của nó trong sản xuất và đầu tư.
Có thể khái quát, vốn kinh doanh ( bao gồm vốn sử dụng cho sản xuất kinh doanh và vốn đầu tư tài chính của
doanh nghiệp ) là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ tài sản được đầu tư vào kinh doanh nhằm mục đích sinh lời.
12
12
Luận văn tốt nghiệp
Đối với bất kỳ một DN nào, vốn cũng là yếu tố cơ bản không thể thiếu của mọi quy trình SXKD. Nó là điều
kiện để đổi mới thiết bị công nghệ, mở rộng sản xuất, nâng cao chất lượng sản phẩm, tăng việc làm và thu
nhập cho người lao động từ đó tạo điều kiện để doanh nghiệp tăng sức cạnh tranh trên thị trường, mở rộng
xuất khẩu, nâng cao hiệu quả SXKD. Tạo vốn được hiểu theo nghĩa rộng là làm cho đồng tiền từ khâu dự trữ
đi vào khâu lưu thông trên cơ sơ đảm bảo nguyên tắc sinh lời. Khi thành lập cũng như trong quá trình phát
triển, các DN phải xác định được nhu cầu vốn, cần xem xét có thể tạo vốn từ những nguồn nào, dưới hình
thức nào với chi phí vốn thấp nhất, từ đó để có thể bảo đảm đầy đủ vốn, sử dụng vốn có hiệu quả, tăng nhanh
vòng quay vốn. Đây là vấn đề hết sức quan trọng và khó khăn đặc biệt với các DNVVN.
Căn cứ vào phạm vi huy động nguồn vốn mà DNVVN có khả năng huy động thì có thể chia thành nguồn
vốn bên trong và nguồn vốn bên ngoài DN. Nguồn vốn bên trong thể hiện khả năng tự tài trợ của DN. Nguồn
vốn bên trong bao gồm vốn chủ sở hữu bỏ ra đầu tư ban đầu và một phần nguồn vốn từ chính hoạt động của
bản thân DN. Tuy nhiên DNVVN với đặc điểm vốn đầu tư ban đầu thường ít, quá trình tích tụ tập trung để tái
sản xuất diễn ra chậm chạp nên nguồn vốn bên trong này không đủ đáp ứng nhu cầu vốn cho đầu tư, vượt quá
khả năng vốn liếng của chủ DN. Điều đó đòi hỏi các DNVVN phải huy động tìm kiếm nguồn vốn từ bên
ngoài DN. Sự phát triển của nền kinh tế thị trường đã làm nảy sinh nhiều hình thức và phương pháp huy động
vốn mới cho DN. Đó có thể là vay vốn Ngân hàng, thuê tài chính, vay của bạn bè người thân hay đối tác, gọi
vốn liên doanh liên kết, phát hành chứng khoán hoặc thu hút vốn thông qua sáp nhập DN, cổ phần hoá DN.
Thị trường chứng khoán nước ta mới được thành lập còn non trẻ và rất nhiều tồn tại cần khắc phục, nên
DNVVN phát hành chứng khoán khó đáp ứng các yêu cầu, thủ tục rườm rà và khả năng hiệu quả là thấp.
Liên doanh liên kết hay sáp nhập cần xem xét cân nhắc kỹ lưỡng, làm mất tính chủ động của chủ DN cũng
như hoạt động kinh doanh bị rằng buộc chặt chẽ. Trong các DNVVN đặc biệt các DN tư nhân thường tạo
nguồn vốn bằng cách đi vay của bạn bè hay người thân, thị trường vốn “ chìm “. Tuy nhiên hình thức này
nhiều khả năng nảy sinh phức tạp mối quan hệ kinh doanh, quan hệ gia đình xã hội, không ổn định cũng như
chịu chi phí vốn cao.
Đa phần DNVVN ở nước ta thuộc thành phần kinh tế ngoài quốc doanh, đất nước ta lại trải qua nhiều năm
chiến tranh khốc liệt nên không có được quá trình tích tụ và tập trung vốn do đó vốn rất nghèo nàn. Điều này
đã gây khó khăn cho các DNVVN trong việc mở rộng sản xuất kinh doanh, giảm sức cạnh tranh và hiệu quả
trong SXKD. Từ thời điểm thành lập đến trong quá trình đầu tư mở rộng, DNVVN luôn ở trong tình trạng
thiếu vốn. Nhưng cũng vì cơ sở vật chất nhỏ bé, công nghệ chắp vá, thiết bị thấp kém nên DNVVN không
tạo được sự tin cậy từ các nhà đầu tư, khó khăn trong huy động vốn. Trước khi đổi mới, hoạt động tín dụng
của Ngân hàng tập trung 90% vào DN Nhà nước mà chủ yếu là các DN lớn. Ưu thế của DNVVN bị hạn chế,
13
13
Luận văn tốt nghiệp
tốc độ phát triển chậm chạp. Nhưng những đổi mới trong đường lối chủ trương của Đảng cộng sản Việt Nam
đã khơi nguồn cho sự ra đời và phát triển của DN ngoài quốc doanh nói chung và DNVVN nói riêng. Đại hội
lần thứ 6 của Đảng cộng sản Việt Nam đã khẳng định “ Chính sách kinh tế nhiều thành phần có ý nghĩa chiến
lược lâu dài, có tính quy luật từ sản xuất nhỏ lên sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa, và thể hiện tinh thần dân chủ
về kinh tế bảo đảm mọi người được làm ăn theo pháp luật “. Nhiều đạo luật mới như luật DN tư nhân, luật
công ty có hiệu lực thi hành đã giúp DNVVN có hành lang pháp lý đầy đủ hơn, hoạt động bài bản hơn, nâng
cao hiệu quả SXKD và cũng chịu sự giám sát chặt chẽ hơn. Trong khi các DN lớn mà hầu hết là các DNNN
với bộ máy cồng kềnh đang trì trệ trong nền kinh tế thị trường sôi động thì ngược lại, DNVVN mà chủ yếu
nằm trong khu vực kinh tế ngoài quốc doanh đang nổi lên với sự năng động linh hoạt cao, nhanh chóng nắm
bắt thời cơ kinh doanh. Bộ máy quản lý điều hành gọn nhẹ, cùng sự nhạy bén và táo bạo đã kịp thời đề ra các
phương án, dự án khả thi.
Do đó, trong các kênh huy động vốn thì vốn tín dụng từ các NHTM là dễ dàng tiếp cận đối với DNVVN hơn
cả. Trong nền kinh tế thị trường, Ngân hàng đóng vai trò là các trung gian tài chính, mục tiêu hoạt động là
tích tụ tập trung vốn để cung cấp cho mọi thành phần kinh tế, cho mọi DN với quy mô lớn và thời gian dài ổn
định. Tín dụng Ngân hàng có đặc trưng cơ bản là tính hoàn trả và sinh lời. Tháng 3/1996 là cột mốc quan
trọng trong hoạt động của các NHTM với sự chuyển hẳn sang lãi suất dương của Ngân hàng, xoá bỏ phân
biệt lãi suất cho vay theo thành phần kinh tế. Những thay đổi đó đã tạo ra sự bình đẳng đối với các DNNQD
trong quan hệ tín dụng Ngân hàng. Vì vậy, cùng với sự nhìn nhận đúng đắn của NHTM về các DNVVN,
những ưu đãi nới lỏng phù hợp với tình hình các DNVVN tạo điều kiện cho DN tiếp cận vốn của Ngân hàng
thì các DNVVN cũng phải nỗ lực đảm bảo các điều kiện từ phía Ngân hàng. Đó cũng chính là “ người đánh
giá” quan trọng phương hướng và tình hình kinh doanh của DN. Vì thế, càng buộc các DNVVN cố gắng làm
ăn có lãi, tiết kiệm chi phí, hoàn trả vốn và trả lãi đúng hạn, nâng cao trách nhiệm hơn với đồng vốn từ Ngân
hàng tài trợ. Thông qua tín dụng Ngân hàng, tăng cường sử dụng vốn đúng mục đích, hạn chế kinh doanh bất
hợp pháp của các doanh nghiệp và có thể tham gia định hướng các ngành SX, lĩnh vực kinh doanh mà Nhà
nước mong muốn.
Để đáp ứng những yêu cầu của chính sách phát triển kinh tế nhiều thành phần,
cũng như chia sẻ rủi ro trong hoạt động tín dụng các NHTM Việt Nam đã tích
cực tăng trưởng khối lượng tín dụng đối với khu vực kinh tế ngoài quốc
doanh nói chung và DNVVN nói riêng. Năm 1995, không kể DNNN, DN có
vốn đầu tư nước ngoài, dư nợ cho vay trung và dài hạn đối với DNNQD là
654 tỷ đồng, chiếm 45,8% tổng dư nợ trung và dài hạn. Đến năm 1999 con số
14
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét