2.2 Chức năng, nhiệm vụ của các phòng ban tại NHCT- HBT
Phòng Khách hàng doanh nghiệp lớn ( KH số1)
Là phòng nghiệp vụ trực tiếp giao dịch với khách hàng là các doanh
nghiệp lớn về khai thác vốn bằng VND và ngoại tệ ; Thực hiện các nghiệp vụ
liên quan đến tín dụng, quản lý các sản phẩm tín dụng phù hợp với chế độ, thể
lệ hiện hành và hướng dẫn của NHCT VN. Trực tiếp quảng cáo, tiếp thị, giới
thiệu và bán các sản phẩm dịch vụ Ngân hàng cho các doanh nghiệp lớn.
Ban giám đốc
Phòng KH cá nhân
Phòng KHDN vừa
&nhỏ
Phòng KH DN lớn
Phòng Tiền tệ kho
quỹ
C
á
c
p
h
ò
n
g
g
i
a
o
d
ị
c
h
Phòng Kế toán giao
dịch
Phòng Tổng hợp
Phòng quản lý rủi
ro
Phòng Tổ chức
Hành Chính
Phòng Thanh toán
XNK
Phòng Thông tin
điện toán
5
Phòng Khách hàng doanh nghiệp vừa và nhỏ ( KH số 2)
Là phòng nghiệp vụ trực tiếp giao dịch với khách hàng là các Doanh
nghiệp vừa và nhỏ (DNV&N), để khai thácvốn bằng VND và ngoại tệ ; Thực
hiện các nghiệp vụ liên quan đến tín dụng, quản lý các sản phẩm tín dụng phù
hợp với chế độ, thể lệ hiện hành và hướng dẫn của NHCTVN. Trực tiếp
quảng cáo, tiếp thị, giới thiệu và bán các sản phẩm dịch vụ Ngân hàng cho các
DNV&N.
Phòng Khách hàng cá nhân
Là phòng nghiệp vụ trực tiếp giao dịch với khách hàng là các cá nhân, để
khai thác vốn bằng VND và ngoại tệ ; Thực hiện các nghiệp vụ với khách
hàng là các cá nhân, quản lý các sản phẩm tín dụng phù hợp với chế độ, thể lệ
hiện hành và hướng dẫn của NHCTVN. Trực tiếp quảng cáo, tiếp thị, giới
thiệu và bán các sản phẩm dịch vụ Ngân hàng cho khách hàng cá nhân.
Phòng quản lý rủi ro (Bao gồm cả quản lý nợ có vấn đề)
Phòng quản lý rủi ro có nhiệm vụ tham mưu cho Giám đốc Chi nhánh về
công tác quản lý rủi ro của Chi nhánh ; Quản lý giám sát thực hiện danh mục
cho vay, đầu tư đảm bảo tuân thủ các giới hạn tín dụng cho từng khách hàng.
Thẩm định hoặc tái thẩm định khách hàng, dự án, phương án đề nghị cấp tín
dụng. Thu cj hiện các chức năng đánh giá, quản lý rủi ro trong toàn bộ các
hoạt động ngân hàng theo chỉ đạo của NHCTVN. Chịu trách nhiệm về quản
lý và đề xuất xử lý các khoản nợ có vấn đề (bao gồm các khoản nợ : cơ cấu lại
thời hạn trả nợ, nợ quá hạn, nợ xấu tại các phòng có cho vay) quản lý, khai
thác và xử lý tài sản đảm bảo nợ vay theo quy định của Nhà nước nhằm thu
hồi các khoản nợ gốc và lãi tiền vay đối với các khoản nợ xấu theo chỉ đạo
của Giám đốc Chi nhánh.Quản lý, theo dõi, đề xuất các biện pháp và phối hợp
với các Phòng có liên quan thu hồi các khoản nợ đã được xử lý rủi ro.
6
Phòng kế toán giao dịch
Là phòng nghiệp vụ thực hiện các giao dịch trực tiếp với khách hàng :
Các nghiệp vụ và công việc liên quan đến công tác quản lý tài chính, chi tiêu
nội bộ tại Chi nhánh ; Cung cấp các dịch vụ Ngân hàng liên quan đến nghiệp
vụ thanh toán, xử lý hạch toán các giao dịch. Quản lý và chịu trách nhiệm đối
với giao dịch trên máy, quản lý quỹ tiền mặt đến từng giao dịch viên theo
đúng quy định của Nhà nước và NHCTVN. Thực hiện nhiệm vụ tư vấn cho
khách hàng về sử dụng các sản phẩm Ngân hàng.
Phòng thanh toán xuất nhập khẩu
Là phòng nghiệp vụ tổ chức thực hiện nghiệp vụ về thanh toán xuất nhập
khẩu và kinh doanh ngoại tệ tại Chi nhánh theo quy định của NHCTVN
Phòng tiền tệ kho quỹ
Phòng tiền tệ kho quỹ là phòng nghiệp vụ quản lý an toàn kho quỹ, quản
lý quỹ tiền mặt theo qui định của Ngân hàng Nhà nước và NHCTVN. Ứng và
thu tiền cho các quỹ tiết kiệm, các điểm giao dịch trong và ngoài quầy, thu chi
tiền mặt cho các doanh nghiệp có thu, chi tiền mặt lớn.
Phòng tổ chức hành chính
Phòng Tổ chức Hành chính là phòng nghiệp vụ thực hiện công tác tổ
chức cán bộ và đào tạo tại Chi nhánh theo đúng chủ trương chính sách của
Nhà nước và quy định của NHCTVN, thực hiện công tác bảo vệ, an ninh an
toàn Chi nhánh.
7
Phòng thông tin điện toán
Thực hiện công tác quản lý, duy trì hệ thống thông tin điện toán tại Chi
nhánh, bảo trì bảo dưỡng máy tính đảm bảo thông suốt hoạt động của hệ
thống mạng, máy tính của Chi nhánh.
Phòng Tổng hợp
Phòng tổng hợp là phòng nghiệp vụ tham mưu cho Giám đốc Chi nhánh
dự kiến kế hoạch kinh doanh, tổng hợp, phân tích đánh giá tình hình hoạt
động kinh doanh, thực hiện báo cao hoạt động hàng năm của Chi nhánh.
Các Phòng giao dịch
Huy động tiền gửi của dân cư và các tổ chức kinh tế trên địa bàn, cho
vay đối với các thành phần kinh tế theo đúng chế độ.
3. Kết quả hoạt động kinh doanh
3.1 Công tác huy động vốn
Trong những năm gần đây hoạt động kinh tế chung của cả nước có ảnh
hưởng không nhỏ đến hoạt động Ngân hàng nói chung và công tác huy động
vốn nói riêng. Vốn kinh doanh chủ yếu dựa vào các Ngân hàng nên cũng làm
cho việc huy động vốn gặp rất nhiều khó khăn.Nhìn chung Công tác huy động
vốn của NHCT- HBT đạt chỉ tiêu được được giao, tính cho đến năm 2008
tổng nguồn vốn huy động vốn đạt 107,6% kế hoạch của NHCTVN giao.
Về tốc độ tăng trưởng nguồn vốn huy động của Chi nhánh
Tốc độ tăng trưởng nguồn vốn huy động năm 2006 là 11,7% (năm
2005 tăng 5,5%), so với tốc độ tăng trưởng của các Ngân hàng trên địa bàn
Hà Nội nói chung thì Chi nhánh tăng trưởng vẫn ở mức rất thấp (Tổng nguồn
8
vốn các NH trên địa bàn Hà Nội đạt 232.000 tỷ tăng 32,3%, trong đó tiền gửi
dân cư tăng 31,6% ; Tiền gửi của các tổ chức kinh tế tăng 32,8% ). Nếu so với
các Chi nhánh NHCT trên địa bàn Hà Nội thì Chi nhánh có mức tăng trưởng
tương đối ( các chi nhánh NHCT tăng 13.5%). Năm 2006 xét về thị phần huy
động vốn trên địa bàn Hà Nội thì các NHTM nhà nước vẫn thể hiện được ưu
thế chủ đạo (chiếm 72,7% tuy nhiên thị phần chỉ còn 72,7% giảm 3,4%) Về
lãi suất huy động vốn NHCTVN chỉ đạo đã ổn định hơn so với năm 2005
(L/S VND ổn định, chỉ có L/s huy động ngoại tệ có thay đổi tăng tích cực
theo thị trường), tuy nhiên mặt bằng chung thì lái suất hệ thống NHCT là thấp
nhất.
Năm 2007 là 16%, so với tốc độ tăng trưởng của các Chi nhánh NHCT
trên địa bàn Hà Nội nói chung thì Chi nhánh có tốc độ tăng trưởng cao hơn
(các chi nhánh NHCT tăng 8,4%) tuy nhiên so với các Chi nhánh : Ba Đình,
Đống Đa, Cầu Giấy, Cầu Diễn, Đông Anh, Yên Viên, Bắc Hà Nội, Hoàng
Mai thì tỷ lệ tăng trưởng nguồn vốn của Chi nhánh còn rất thấp, nhất là tiền
gửi dân cư chúng ta có tỷ lệ tăng trưởng thấp hơn mức bình quân và xếp thứ
10 trong 12 đơn vị.
Năm 2008 là 80,1% , so với tốc độ tăng trưởng của các chi nhánh NHCT
trên địa bàn Hà Nội thì có tốc độ tăng trưởng rất cao, chủ yếu tăng nguồn của
các tổ chức kinh tế.Năm 2008 đầy những khó khăn cho công tác huy động
vốn : lạm phát vẫn diễn biến phức tạp, vấn đề lãi suất huy động vốn luôn nóng
bỏng bắt đầu tăng từ những tháng đầu năm, việc NHNN nâng tỷ lệ dự trữ bắt
buộc đối với các NHTM đã làm cho tình hình cạnh tranh giữa các NHTM
ngày càng quyết liệt hơn Với những khó khăn của thị trường đã làm ảnh
hưởng không nhỏ tới công tác huy động vốn của chi nhánh , tuy chi nhánh đạt
vượt kế hoạch 7,6 % về tổng nguồn vốn huy động và tăng trưởng rất cao so
với năm 2007, nhưng tiền gửi VND giảm, tiền gửi từ dân cư giảm.
9
Cơ cấu nguồn vốn
Nếu phân theo loại tiền
Trong ba năm trở lại đây do tỷ giá ngoại tệ luôn có sự thay đổi nên làm
ảnh hưởng lớn đến sự cơ cấu nguồn vốn.Nguồn vốn huy động bằng VND năm
2006 chiếm tỷ trọng 79,8%, năm 2007 chiếm tỷ trọng 84,3% trong tổng
nguồn vốn huy động, năm 2008 chiếm 44,7 % . Nguồn vốn huy động bằng
ngoại tệ chiếm tỉ trọng 55,3% trong tổng nguồn vốn huy động ( năm 2007 là
15,7% ). Năm 2008 là năm có sự chuyển dịch tỷ lệ cơ cấu nguồn VND và
ngoại tệ thay đổi lớn nhất, tiền gửi bằng ngoại tệ chiếm tỉ trọng cao hơn TG
bằng VND,trong khi nguồn VND giảm so với năm 2007.
Nếu phân theo tính chất tiền gửi
Năm 2006 tiền gửi dân cư chiếm tỷ trọng 61,6% trong tổng nguồn vốn
huy động. Tiền gửi của các tổ chức kinh tế tăng 11,3% so với năm 2005 và
thường xuyên biến động do nguồn vốn này là tiền gửi thanh toán.
Năm 2007, tiền gửi dân cư chiếm tỷ trọng 51,1% trong tổng nguồn vốn huy
động, tỷ trọng giảm 7% so với năm 2006. Tiền gửi của các tổ chức kinh tế
chiếm tỷ trọng 38,7% trong tổng nguồn vốn, trong năm xu hướng nguồn vốn
này giảm lớn thời gian đầu năm và tăng trưởng nhanh vào tháng cuối năm.
Bảng 1 : Số liệu về tình hình huy động vốn của NHCT-HBT từ năm 2004-2007
Chỉ tiêu TH
31/12/2005
(Tr. đ)
TH
31/12/2006
(Tr. đ)
%So
sánh
TH
31/12/2007
(Tr. đ)
%
So Sánh
TH
31/12/2008
( Tr.đ)
%
so sánh
Tổng Nguồn Vốn
huy động
2.416.939 2.700.815 111,7 3.132.945 116 5.166.911 180,1%
Theo t/c tiền gửi
- Tiền gửi TCKT 931.621 1.036.902 111,3 1.405.002 135,5 3.895.156 277,8%
- Tiền gửi dân cư 1.485.318 1.663.913 112 1.727.943 103,8 1.271.755 86,7%
10
Theo loại tiền
- Tiền gửi bằng
VND
1983.642 2.156.719 108,7 2.652.764 123 2.307.689 95,3%
- Tiền gửi bằng
ngoại tệ (quy
VND)
433.297 544.096 125,5 480.181 88,3 2.859.222 636,9%
3.2 Công tác tín dụng
Hoạt động tín dụng của NHCT- HBT gần đây có đạt được những kết
quả khả quan đáng ghi nhận, do đã quan tâm hơn nhiều đến công tác tiếp thị
và chăm sóc khách hàng, giải quyết những khó khăn vướng mắc để phát triển
công tác tín dụng đặc biệt là chất lượng tín dụng được đảm bảo.
Bảng 2: Số liệu về công tác Tín dụng của NHCT-HBT từ năm 2004-2007
Chỉ tiêu TH
31/12/2005
(Tr. đ)
TH
31/12/2006
(Tr. đ)
% So
sánh
TH
31/12/2007
(Tr. đ)
% So
sánh
TH
31/12/2008
(Tr.đ)
% so
sánh
Tổng dư nợ cho
vay
740.111 686.481 92,75 684.930 102,5 847.544 123,7
Phân theo kỳ
hạn nợ
- Dư nợ CVNH 512.635 474.570 92,57 477.034 100,8 500.561 104,9
- Dư nợ CVTH 61.486 70.151 114,1 63.230 117,8 33.116 52,3
- Dư nợ CVDH 147.222 122.738 83,3 144.665 102,4 313.687 216,8
Phân theo loại
tiền
- Dư nợ bằng
VND
547.016 405.508 74,1 401.213 103,6 503.392 125,4
- Dư nợ ngoại
tệ(quy VND)
193.095 280.973 145,5 283.717 101 344.152 121,3
Về tổng dư nợ cho vay nền kinh tế của Chi nhánh NHCT- HBT :
11
Năm 2006 tổng dư nợ cho vay của nền kinh tế chỉ đạt 85,8% so với kế
hoạch NHCTVN giao, so với năm 2005 giảm 7,25% trong khi dư nợ cho vay
của NHTM trên địa bàn Hà Nội tăng 26,4%(trong đó NHTM nhà nước tăng
9,8% thị phần còn59.2% giảm 5,1%), khối NHCP tăng 43.4%, NH liên doanh
tăng 26,4% thì khối NHCT trên địa bàn giảm 10% tỷ lệ sử dụng vốn huy động
để cho vay trực tiếp thấp chiếm chưa đầy 30% điều này làm giảm hiệu quả
kinh doanh rất lớn của NH.
Trong năm 2007 dư nợ cho vay có khả quan hơn nhiều khi đạt được 91,3% so
kế hoạch NHCTVN giao cho, tăng so với năm 2006 là 2,5% và còn thấp hơn
so với NHCT trên địa bàn Hà Nội(dư nợ của các NHCT tăng 14,8%). Tuy tỷ
lệ tăng trưởng còn thấp nhưng hoạt động tín dụng của Chi nhánh được coi là
an toàn và ít rủi ro có chất lượng.
Năm 2008 tổng dư nợ cho vay nền kinh tế của chính phủ đạt 89,2% so với kế
hoạch NHCTVN giao, so với năm 2007 tăng 23,7% cao hơn so với tốc độ
tăng của các chi nhánh NHCT trên địa bàn Hà nội. Trong điều kiện chi nhánh
phải thắt chặt tiền tệ, kiềm chế tăng trưởng dư nợ trong 6 tháng đầu năm,
những tháng cuối năm chỉ tiêu kế hoạch có nới rộng nhưng lãi suất tăng cao,
tình hình kinh doanh ở hầu hết các doanh nghiệp hết sức khó khăn nên đã
giảm nhu cầu vay vốn nên dư nợ không đạt được kế hoạch giao.
Kể từ năm 2006, khi bắt đầu thực hiện các QĐ 070; 071 ;072/QĐ-
HĐQT ngày 3/4/2006 của HĐQT- NHCTVN ban hành nhằm tăng cường hoạt
động tín dụng nhằm nâng cao chất lượng tín dụng của NH nhằm sàng lọc
khách hàng. Do vậy khi áp dụng các doanh nghiệp đã gặp nhiều khó khăn
vướng mắc vì trên thực tế nhiều khách hàng có vốn chủ sở hữu thấp, tình hình
tài chính không lành mạnh, tài sản bảo đảm tiền vay không đủ điều kiện chặt
chẽ mà NH đưa ra đối với khách hàng vay. Trong hoàn cảnh hiện nay khi nền
kinh tế đã chịu tác động lớn của nền kinh tế thế giới, việc kinh doanh ngày
12
càng trở nên khắt khe hơn nhưng nguồn vốn kinh doanh của các doanh nghiệp
chủ yếu vẫn dựa vào các tổ chức tín dụng như NH thì điều kiện vay vốn tại
các NH đã trở nên chặt chez hơn rất nhiều. Điều này đối với các NH cũng là
điểm khó khăn chung và điều này đã tác động trực tiếp tới nguồn vốn huy
động cũng như tới tổng dư nợ cho vay.
Đối với các khoản vay có cầm cố tài sản, hay khoản vay được bảo đảm
bằng đất đai, bất động sản cũng đang gặp rất nhiều khó khăn không chỉ đối
với Chi nhánh mà là khó khăn chung đối với khách hàng vay vốn. Bởi lẽ có
rất nhiều đất đai bất động sản của các doanh nghiệp, và khách hàng khác gặp
rắc rối về giấy tờ quyền sử dụng đất. Việc tiến hành cho vay đối với những
khách hàng có cầm cố tài sản đặt ra rất nhiều vấn đề đối với công tác tín dụng
và tăng trưởng tín dụng tại Chi nhánh. Chẳng hạn như căn cứ định giá tài sản
thế chấp chưa đầy đủ và việc thẩm định giá tài sản chưa thực sự mềm dẻo các
Ngân hàng trên địa bàn định giá nhà đất còn chênh lệch nhau nhiều điều này
làm ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt động tín dụng.
Cùng với xu thế phát triển chung, trong những năm tới thị trường bất
động sản sẽ ngày càng phát triển hơn vì thế Chi nhánh sẽ đẩy mạnh công tác
huy động vốn từ nguồn thị trường này và có sự quan tâm hơn tới công tác tín
dụng với những khoản vay có cầm cố bằng tài sản và bất động sản. Những
chính sách, quy định về cho vay có thế chấp bằng đất đai, bất động sản đang
được quan tâm và hoàn thiện hơn nhằm thực hiện tốt công tác tín dụng cũng
như góp phần phát triển thị trường bất động sản trong những năm tới. Đó là
bước chuyển hướng chiến lược quan trọng thúc đẩy phát triển công tác tín
dụng cũng như trong sự phát triển của Chi nhánh.
3.3 Công tác tài trợ Thương mại
Trong năm 2006 công tác thanh toán xuất nhập khẩu và tài trợ thương mại
đã có mức tăng trưởng cao so với năm 2005, tuy nhiên nếu xét về doanh số
13
hoạt động cũng chưa phải là lớn, nguyên nhân chính đó là Chi nhánh chưa tăng
trưởng được tín dụng đối với các doanh nghiệp có hoạt động xuất nhập khẩu.
Đến năm 2007 công tác thanh toán xuất nhập khẩu của Chi nhánh có nhiều
thuận lợi hơn so với các năm trước do hoạt động thanh toán xuất nhập khẩu của
cá khách hàng truyền thống có mức tăng trưởng khá và Chi nhánh đã chủ động
tích cực có những chính sách ưu đãi vì thế các chỉ tiêu đều tăng trưởng cao so
với năm 2006, góp phần vào hiệu quả kinh doanh của Chi nhánh.
Năm 2008 công tác thanh toán xuất nhập khẩu của Chi nhánh không
thuận lợi do 6 tháng cuối năm tình hình kinh tế thế giới suy thoái nên hoạt
động thanh toán xuất nhập khẩu của các doanh nghiệp khó khăn và giảm sút,
dẫn đến doanh số thanh toán xuất nhập khẩu của chi nhánh bị ảnh hưởng.
3.4 Hoạt động dịch vụ
Dich vụ hệ thống Ngân hàng cung cấp cho khách hàng vẫn chủ yếu là
các dịch vụ truyền thống ( Tiền gửi, tiền vay, thanh toán và ngân quỹ ), việc
ứng dụng công nghệ hiện đại, dịch vụ Ngân hàng hiện đại còn hạn chế, thiếu
sản phẩm phục vụ nhu cầu đa dạng của các tổ chức và cá nhân. Do đó ảnh
hưởng lớn đến tốc độ tăng trưởng thu phí dịch vụ và tỷ lệ chiếm trong tổng
thu nhập còn thấp.
Về hoạt động thanh toán
Công tác kế toán thanh toán là một trong những hoạt động quan trọng của
Ngân hàng Thương mại. Chi nhánh đã không ngừng hoàn thiện phong cách lề
lối làm việc, triển khai kịp thời các chương trình ứng dụng công nghệ Ngân hàng
hiện đại đảm bảo thanh toán kịp thời chính xác và an toàn cho khách hàng. Với
khối lượng vốn luân chuyển lớn trong giao dịch thanh toán của các doanh
nghiệp, công tác thanh toán ngày càng phức tạp và đòi hỏi khẩn trương hơn, tuy
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét