Chủ Nhật, 23 tháng 2, 2014

Hoàn thiện cơ sở pháp lý về thành lập và hoạt động của Công ty CTTC - Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam

ra cho đến nay đã xuất hiện trên 5 Công ty có hoạt động cho thuê máy móc thiết
bị. Đến năm 1998 Ngân hàng Ngoại thơng Việt nam thành lập Công ty CTTC
nâng tổng số Công ty CTTC trong cả nớc lên 8 Công ty, cùng với một thị trờng
gồm hơn 6000 doanh nghiệp Nhà nớc và hàng chục ngàn doanh nghiệp cổ phần,
trách nhiệm hữu hạn, hợp tác xã đang đói vốn trầm trọng để đầu t đổi mới
công nghệ.
2-/ Khái niệm, đặc điểm của hoạt động cho thuê tài chính.
a, Một số khái niệm về hoạt động CTTC.
* Khái niệm cho thuê tài chính và đặc điểm của hoạt động CTTC.
Cho thuê tài chính là hoạt động còn hết sức mới mẻ ở Việt nam; vì vây vẫn
còn nhiều ngời cha hiểu đợc rõ khái niệm và các tiêu chuẩn để một giao dịch đ-
ợc coi là CTTC dẫn đến cha có sự phân biệt giữa CTTC và các hình thức tín
dụng khác. Việc làm rõ khái niệm này có ý nghĩa quan trọng.
Hiện nay trên thế giới, ở mỗi quốc gia khác nhau có khái niệm khác nhau
về CTTC. Tuy nhiên để một giao dịch đợc coi là CTTC thì giao dịch đó phải
thoả mãn 1 trong 4 điều kiện sau đây của Uỷ ban tiêu chuẩn Kế toán quốc tế
(IASC):
- Quyền sở hữu tài sản thuê đợc chuyển giao khi kết thúc hợp đồng.
- Hợp đồng quy định quyền chọn mua tài sản thuê với giá tợng trng tại thời
điểm chấm dứt hợp đồng.
- Thời hạn của hợp đồng chiếm phần lớn thời hạn hữu dụng của tài sản.
- Hiện giá của toàn bộ các khoản tiền thuê do ngời thuê trả tơng đơng hoặc
lớn hơn giá thị trờng của tài sản tại thời điểm bắt đầu hợp đồng.
Dựa trên những cơ sở đó, tại mỗi quốc gia có hoạt động CTTC lại đa ra
những tiêu chuẩn phù hợp với môi trờng kinh doanh của đất nớc mình. ở nớc ta
trong Luật các tổ chức tín dụng (12/ 12/ 1997) và Nghị định 64 CP (9/ 10/
1995) đều đa ra khái niệm CTTC. Theo điều 20 Luật các tổ chức tín dụng thì
Cho thuê tài chính là hoạt động tín dụng trung và dài hạn trên cơ sở hợp đồng
cho thuê tài sản giữa bên cho thuê là tổ chức tín dụng với khách hàng thuê. Khi
kết thúc thời hạn thuê, khách hàng mua lại hoặc tiếp tục thuê tài sản đó theo các
điều kiện đã thoả thuận trong hợp đồng thuê. Trong thời hạn cho thuê, các bên
không đợc đơn phơng huỷ bỏ hợp đồng.
5
Theo điều 3 Nghị định 64 CP ngày 9/ 10/ 1995 của chính phủ ban hành
Quy chế tạm thời về tổ chức và hoạt động của Công ty CTTC tại Việt nam, một
giao dịch CTTC phải thoả mãn một trong các điều kiện sau:
- Khi kết thúc thời hạn cho thuê theo hợp đồng, bên thuê đợc quyền
chuyển quyền sở hữu tài sản thuê hoặc đợc tiếp tục thuê theo sự thoả thuận của
hai bên.
- Nội dung hợp đồng thuê có quy định: Khi kết thúc thời hạn thuê, bên
thuê đợc quyền lựa chọn mua tài sản thuê theo gia danh nghĩa thấp hơn giá thực
tế của tài sản thuê tại thời điểm mua lại.
- Thời hạn cho thuê một loại tài sản ít nhất phải bằng 60% thời gian cần
thiết để khấu hao tài sản.
- Tổng số tiền thuê một loại tài sản quy định tại hợp đồng thuê, ít nhất phải t-
ơng đơng với giá của tài sản đó trên thị trờng vào thời điểm ký hợp đồng.
Nh vậy về cơ bản những quy định của Nghị định 64 CP về tiêu chuẩn để
một giao dịch đợc gọi là CTTC đã phù hợp với những điều kiện của Uỷ ban tiêu
chuẩn Kế toán quốc tế (IASC)
* Khái niệm bên cho thuê:
Bên cho thuê là ngời nắm quyến sở hữu đối với tài sản cho thuê trong suốt
thời hạn của hợp đồng. Theo quy định của pháp luật Việt nam thì bên cho thuê
là Công ty CTTC có t cách pháp nhân đợc cấp giấy phép hoạt động.
* Khái niệm bên thuê:
Trong một giao dịch CTTC thì bên đi thuê là khách hàng của các Công ty
CTTC. Theo quy định của pháp luật Việt nam thì bên đi thuê chỉ có thể là các
doanh nghiệp đợc cơ quan Nhà nớc thành lập. Việc sử dụng tài sản thuê của bên
thuê phải tuân theo những thoả thuận trong hợp đồng, không đợc chuyển quyền
sử dụng tài sản thuê cho cá nhân, tổ chức khác nếu không đợc bên cho thuê
đồng ý bằng văn bản. Do đặc trng của hoạt động CTTC là bên đi thuê không đ-
ợc quyền sở hữu tài sản thuê, nên bên thuê không đợc dùng tài sản thuê để cầm
cố, thế chấp hoặc để đảm bảo cho bất kỳ nghiệp vụ tài chính nào khác. Tuy
nhiên bên thuê cũng phải có trách nhiệm bảo dỡng, sửa chữa tài sản thuê và
chịu mọi rủi ro đối với tài sản thuê và mọi rủi ro do tài sản thuê gây ra cho cá
nhân tổ chức khác trong thời hạn thuê. Khi kết thúc thời hạn thuê bên đi thuê có
quyền mua lại tài sản hoặc thoả thuận tiếp tục thuê tài sản đó với bên cho thuê.
* Khái niệm tài sản thuê:
6
Tài sản thuê là đối tợng của giao dịch CTTC. Theo nghị định 64 CP thì tài
sản thuê là máy móc thiết bị và các động sản khác đạt tiêu chuẩn kỹ thuật tiên
tiến, có giá trị sử dụng hữu ích trên một năm, đợc sản xuất trong nớc hoặc nhập
khẩu.
* Khái niệm thời hạn cho thuê:
Thời hạn cho thuê là thời gian bên thuê sử dụng tài sản thuê và trả tiền
thuê, đợc bên cho thuê và bên thuê thoả thuận trong hợp đồng thuê. Trong hoạt
động CTTC, thời hạn thuê có thể chia làm hai giai đoạn theo sự thoả thuận của
hai bên:
+ Thời hạn thuê cơ bản: là thời hạn các bên không đợc quyền huỷ ngang
hợp đồng nếu không có sự chấp thuận của bên kia. Trong suốt thời gian này,
ngời cho thuê thờng kỳ vọng thu hồi đủ vốn cộng với số tiền lãi trên số tiền vốn
đã tài trợ.
+ Thời hạn gia hạn tuỳ chọn: là thời hạn ngời thuê có thể tiếp tục thuê thiết
bị tuỳ theo ý muốn của họ. Tiền thuê trong giai đoạn này thờng rất thấp so với
tiền thuê trong thời hạn cơ bản, thờng chiếm tỷ lệ 1- 2% tổng số tiền thuê ban
đầu.
* Khái niệm tiền thuê:
Tiền thuê là khoản tiền bên đi thuê phải thanh toán cho bên cho thuê theo
thoả thuận trong hợp đồng. Tổng số tiền thuê ít nhất phải tơng đơng với giá trị
của tài sản thuê trên thị trờng vào thời điểm ký hợp đồng. Mức tiền thuê tuỳ
thuộc vào thời hạn và phơng thức của hợp đồng.
b, Phân biệt hoạt động CTTC với các hoạt động tín dụng khác.
* Sự khác biệt giữa CTTC và cho thuê vận hành.
Thuê vận hành là hình thức cho thuê tài sản có từ lâu đời, nó còn đợc gọi là
cho thuê hoạt động hay cho thuê kiểu truyền thống. Giữa CTTC và cho thuê vận
hành có sự khác biệt nh sau:
- Đối với hoạt động CTTC thì không đợc huỷ ngang hợp đồng còn cho
thuê vận hành các bên có thể huỷ ngang hợp đồng.
- Trong hoạt động CTTC, những rủi ro và thiệt hại liên quan đến tài sản
thuê thì do bên thuê chịu, còn trong hoạt động cho thuê vận hành thì bên đi thuê
không phải chịu những rủi ro ấy khi những thiệt hại đối với tài sản không phải
do lỗi của bên thuê.
7
- Đối với hoạt động CTTC, tài sản thuê trớc khi ký hợp đồng có thể không
thuộc sở hữu của ngời cho thuê mà do ngời đi thuê tìm, lựa chọn nhà cung cấp
và yêu cầu các Công ty CTTC mua để cho bên thuê thuê tài sản đó. Còn đối với
hoạt động cho thuê vận hành thì tài sản trớc khi ký hợp đồng phải thuộc quyền
sở hữu của bên cho thuê.
- Bên CTTC chấp nhận chuyển quyền sở hữu tài sản cho bên thuê khi hết
hạn hợp đồng, còn bên cho thuê vận hành thì không có ý định đó.
- Thời hạn cho thuê trong CTTC chiếm phần lớn thời gian hữu ích của tài
sản, trong khi đó thời gian cho thuê vận hành thờng rất ngắn.
- Tổng số tiền mà bên đi thuê phải trả trong CTTC rất lớn, còn trong cho
thuê vận hành thì số tiền này rất nhỏ so với giá trị tài sản lúc ký kết hợp đồng.
Phân biệt giữa hoạt động CTTC với hình thức mua trả góp.
- Trong CTTC bên cho thuê là các Công ty CTTC còn trong hoạt động mua
trả góp thì bên cho thuê có thể là nhà cung cấp hoặc Công ty CTTC.
- Bên đi thuê trong giao dịch CTTC là các pháp nhân còn trong mua bán
trả góp thì bên đi thuê là các pháp nhân hoặc cá nhân.
- Thời hạn của hợp đồng trong CTTC từ 1 đến 20 năm hoặc dài hơn, trong
giao dịch mua trả góp có thời hạn từ 1 đến 5 năm.
- Giá trị còn lại của tài sản trong CTTC có thể chuyển giao cho bên thuê
khi hết hạn hợp đồng. Còn trong mua bán trả góp thì giá trị còn lại của tài sản
chuyển giao cho ngời thuê khi hết hạn hợp đồng.
- Quyền sở hữu trong giao dịch CTTC thuộc về bên thuê khi kết thúc hợp
đồng nếu 2 bên có thoả thuận. Trong giao dịch mua trả góp thì quyền sở hữu tài
sản đơng nhiên thuộc về bên thuê khi kết thúc hợp đồng.
* Sự khác biệt giữa CTTC với hình thức cho vay bằng tiền .
- Tín dụng ngân hàng là hình thức cho vay bằng tiền dới hình thức cho vay
ngắn hạn, trung hạn và dài hạn của các tổ chức tín dụng đối với khách hàng.
CTTC cũng là hình thức cho vay nhng là cho vay bằng tài sản. Chính vì vậy sau
khi ký kết hợp đồng thì bên thuê là các doanh nghiệp đi thuê sẽ đợc bổ xung tài
sản cố định nh máy móc thiết bị Còn đối với tín dụng ngân hàng doanh
nghiệp sẽ đợc bổ xung vốn lu động bằng tiền.
8
- Phí CTTC thờng cao hơn lãi suất tín dụng trung và dài hạn trong tín dụng
ngân hàng vì phí trong hoạt động CTTC đợc tính trên cơ sở lãi suất trung, dài
hạn và phí quản lý Công ty CTTC.
- Hoạt động CTTC, bên cho thuê nắm giữ quyền sở hữu tài sản,bên đi thuê
chỉ có quyền sử dụng, khai thác công dụng của tài sản, vì vậy bên cho thuê vẫn
có quyền kiểm tra tài sản trong quá trình sử dụng của bên thuê. Trong tín dụng
ngân hàng các tổ chức tín dụng chỉ cấp tiền cho bên đi vay, vì vậy nếu doanh
nghiệp dùng tiền đó đầu t vào tài sản thì họ có quyền sở hữu tài sản và khi
doanh nghiệp đó bị phá sản thì bên đi vay tiền mặc nhiên thu hồi tài sản của
mình còn trong CTTC thì quyền đó thuộc về các Công ty CTTC. Chính vì vậy
tín dụng thông qua CTTC có mức độ an toàn cao hơn tín dụng vay bằng tiền.
- Trong hoạt động CTTC, bên đi thuê không phải thế chấp tài sản còn
trong tín dụng ngân hàng bên đi vay bắt buộc phải có tài sản thế chấp khi vay
vốn tại các tổ chức tín dụng.
3-/ Lợi ích của CTTC đối với nền kinh tế thị trờng.
Kể từ khi ra đời cho đến nay, hoạt động CTTC đã phát triển hết sức mạnh
mẽ ở nhiều quốc gia. Sở dĩ các quốc gia lựa chọn hình thức tín dụng này là do
lợi ích to lớn mà nó mang lại cho nền kt nói chung và các chủ thể tham gia vào
hoạt động CTTC.
a, Lợi ích đối với nền kinh tế.
* CTTC góp phần thu hút đầu t n ớc ngoài cho nền kinh tế.
Do tính chất của CTTC có mức độ rủi ro thấp, phạm vi tài trợ rộng rãi hơn
các hình thức tín dụng khác nên CTTC có thể huy động vốn nhàn rỗi trong dân
c. Hơn nữa CTTC không làm tăng nợ nớc ngoài, do đó thông qua hình thức tín
dụng này các quốc gia vừa thu hút vốn đầu t nớc ngoài bằng các thiết bị máy
móc, công nghệ, kinh nghiệm quản lý vừa tạo môi trờng thuận lợi cho việc tiếp
nhận vốn ODA. Đặc biệt đối với các nớc kinh tế đang phát triển nh nớc ta thì
CTTC đã và đang phát huy vai trò mạnh mẽ, bởi vì các nớc đang phát triển việc
tích luỹ vốn thờng rất khó khăn, không đáp ứng đợc nhu cầu đổi mới thiết bị
công nghệ của các doanh nghiệp đặc biệt là các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Chỉ
có CTTC mới khắc phục đợc khó khăn này vì nó có vai trò quan trọng trong
việc thu hút vốn quốc tế, hiện đại hoá sản xuất, tăng hiệu quả, tạo điều kiện cho
nền kinh tế phát triển.
* CTTC góp phần thúc đẩy thị tr ờng vốn phát triển.
9
Về mặt lý luận, CTTC là hoạt động tài trợ tín dụng trung, dài hạn, do đó có
thể coi thị trờng CTTC là một bộ phận cấu thành của thị trờng vốn. Khi thị tr-
ờng này phát triển sẽ tạo ra sự cạnh tranh trong hoạt động tín dụng từ đó thúc
đẩy các hình thức tín dụng mới ra đời nâng cao hiệu quả hoạt động của các hình
thức tín dụng hiện có.
* CTTC góp phần thúc đẩy đổi mới thiết bị công nghệ, cải tiến khoa học
kỹ thuật.
Thông qua hoạt động CTTC, các loại máy móc thiết bị, công nghệ, trình
độ quản lý tiên tiến đợc ứng dụng, nâng cao trình độ sản xuất trong điều kiện
thiếu vốn đầu t. Trên cơ sở đó trình độ khoa học kỹ thuật của một quốc gia đợc
phát triển.
b, Lợi ích đối với bên cho thuê.
* CTTC là một hoạt động kinh doanh tín dụng có mức độ an toàn cao.
Là hình thức tài trợ vốn trung, dài hạn thông qua việc cho thuê các máy
móc thiết bị và công nghệ , do đó CTTC là một hình thức tài trợ có mức độ an
toàn cao đối với bên cho thuê vì:
Thứ nhất, quyền sở hữu tài sản cho thuê thuộc ngời cho thuê, ngời cho
thuê có quyền kiểm tra, giám sát việc sử dụng tài sản. Nếu có những dấu hiệu
không an toàn, ngời cho thuê có thể thu hồi tài sản ngay, hạn chế rủi ro trong
kinh doanh.
Thứ hai, tài trợ thông qua CTTC sẽ đảm bảo việc sử dụng vốn đúng mục
đích, nhờ vậy đảm bảo khả năng hoạt động sản xuất kinh doanh của ngời cho
thuê và khả ngăng trả nợ của họ.
Thứ ba, tài trợ bằng hoạt động CTTC giúp ngời cho thuê không bị khó
khăn về khả năng thanh khoản do tiền thuê và vốn đợc thu hồi dạ trên hiệu quả
hoạt động của tài sản.
* Hoạt động CTTC giúp ng ời cho thuê linh hoạt trong kinh doanh :
+ Trong thời gian diễn ra giao dịch cho thuê, nguồn vốn tài trợ đợc thu hồi
dần, cho phép ngời cho thuê có thể tái đầu t.
+ Ngời cho thuê chỉ tập trung vào lĩnh vực hẹp nên có điều kiện đầu t theo
chiều sâu cả về kiến thức kinh tế kỹ thuật và kỹ năng nghiệp vụ tín dụng. Nh
vậy ngày càng có khả năng nâng cao hiệu quả kinh doanh.
c, Lợi ích đối với ng ời đi thuê.
10
* Ng ời thuê có khả năng tăng năng lực sản xuất khi không có khả năng về
nguồn vốn để đầu t .
Trong quá trình hoạt động sản xuất, mục đích tối cao của doanh nghiệp là
lợi nhuận cao. Muốn vậy sản phẩm của mình phải có vị trí trên thị trờng thông
qua chất lợng sản phẩm, gia cả hợp lý và hợp thị hiếu ngời tiêu dùng. Trong
kinh tế thị trờng, luôn có nhiều đối thủ cạnh tranh, luôn có sự thay đổi về công
nghệ. Vì vậy, doanh nghiệp phải luôn có sự thích ứng với môi trờng kinh doanh,
đảm bảo sản phẩm không bị lạc hậu so với đối thủ cạnh tranh. Nhng trên thực
tế, vốn của doanh nghiệp rất hạn chế, đặc biệt là đối với doanh nghiệp vừa và
nhỏ, thờng gặp khó khăn về vốn trung và dài hạn. Các doanh nghiệp này có thể
đi vay vốn ở các tổ chức tài chính nhng với điều kiện họ phải có tài sản để thế
chấp, hoặc phải có một pháp nhân đứng ra bảo lãnh, mà điều này lại quá khó
khăn đối với doanh nghiệp đang đói vốn. Tuy nhiên, bằng con đờng thuê tài
chính, bên đi thuê không phải có tài sản thế chấp mà vẫn có máy móc thiết bị
công nghệ tiên tiến nếu họ có uy tín và dự án kinh doanh khả thi.
* Hoạt động CTTC có thể giúp cho doanh nghiệp đi thuê không bị đọng
vốn vào tài sản cố định.
Mặc dù, trên thực tế nếu các doanh nghiệp có khả năng tài chính để tự tài
trợ để đổi mới máy móc thiết bị, nhng để đáp ứng vốn lu động trong các hoạt
động khác. Các doanh nghiệp lựa chọn con đờng đi thuê tài chính để có tài sản
cố định mà nguồn vốn lu động vẫn đợc đảm bảo.
* CTTC cho phép ng ời đi thuê tiết kiệm đ ợc chi phí từ việc giảm thuế.
Trong hạch toán cuối năm của mỗi doanh nghiệp, các khoản tiền thuê phải
trả đợc tính vào chi phí hợp lệ, hợp lý do đó chúng làm giảm thu nhập chịu thuế
của doanh nghiệp. Vì vậy tiết kiệm đợc một khoản tiền đáng kể do giảm đợc
thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp.
d, Lợi ích đối với ng ời cung cấp tài sản thuê.
Hoạt động CTTC phát triển, tạo cho các bên đi thuê dễ dàng trong việc đổi
mới máy móc, thiết bị vì vậy sẽ tạo ra một thị trờng tiêu thụ máy móc thiết bị
rộng lớn cho các nhà sản xuất, các nhà cung cấp. Hơn nữa trong CTTC các
Công ty CTTC đóng vai trò là trung gian giữa ngời đi thuê (bên cầu) và ngời sản
xuất, cung cấp máy móc, thiết bị công nghệ (bên cung) nên các Công ty CTTC
đã trở thành một mạng lới phân phối sản phẩm với số lợng lớn và có hiệu quả.
11
II-/ Cơ chế pháp lý trong việc thành lập và hoạt động của
các Công ty CTTC tại Việt nam.
1-/ Quy chế thành lập của Công ty CTTC tại Việt nam.
a, Các loại Công ty CTTC đ ợc phép thành lập và hoạt động tại Việt Nam.
Theo quy định tại Thông t số 03/ TT - NH5 hớng dẫn thự hiện Quy chế
tạm thời về tổ chức và hoạt động của Công ty CTTC tại Việt nam. Các loại
Công ty CTTC bao gồm:
- Công ty CTTC của Việt nam gồm:
+ Công ty CTTC do ngân hàng, Công ty tài chính của Việt nam thành lập.
+ Công ty CTTC do ngân hàng , Công ty tài chính cùng với các doanh
nghiệp khác của Việt nam thành lập.
Các loại Công ty CTTC trên đợc thành lập dới hình thức doanh nghiệp Nhà
nớc, Công ty TNHH, Công ty cổ phần, có quyền hạch toán kinh doanh độc lập
và tự chịu trách nhiệm về mọi hoạt động của mình.
- Các Công ty có yếu tố vốn nớc ngoài bao gồm:
+ Công ty liên doanh giữa bên Việt nam là một hoặc nhiều ngân hàng,
Công ty tài chính, doanh nghiệp (nhng ít nhất phải có một ngân hàng hoặc một
Công ty tài chính tham gia) với bên nớc ngoài là một hoặc nhiều ngân hàng,
Công ty tài chính, Công ty CTTC và tổ chức tài chính quốc tế trên cơ sở hợp
đồng liên doanh.
+ Công ty 100% Vốn nớc ngoài do các ngân hàng, Công ty tài chính, Công
ty CTTC nớc ngoài thành lập tại Việt nam bằng 100% vốn 100% vốn của bên n-
ớc ngoài.
b, Điều kiện cấp giấy phép thành lập và hoạt động cho các Công ty
CTTC.
Để đảm bảo điều kiện tự do kinh doanh theo quy định của pháp luật và
cũng để đảm bảo việc cấp giấy phép cho đúng đối tợng có khả năng kinh doanh.
Nhà nớc đa ra các điều kiện cầu thiết, chỉ khi có đủ các điều kiện đó các cơ
quan Nhà nớc có thẩm quyền mới cấp (và phải cấp) giấy phép thành lập và hoạt
động cho các tổ chức tín dụng (Công ty CTTC). Theo luật các tổ chức tín dụng
thì các chủ thể thành lập phải đảm bảo các điều kiện sau đây:
12
1. Có nhu cầu hoạt động trên địa bàn.
Nói cách khác ngời xin cấp giấy phép hoạt động CTTC phải xác định đợc
thị trờng khách hàng của mình, hoạt động CTTC phải là hoạt động đang đợc sự
quan tâm của các doanh nghiệp và cũng phải phù hợp với các chính sách phát
triển kinh tế đất nớc.
2. Có mức vốn pháp định theo quy định của pháp luật.
Đối với hoạt động CTTC - một hoạt động mới mẻ - là một hoạt động tín
dụng, mà muốn hoạt động đợc bắt buộc các tổ chức tín dụng phải có một số vốn
nhất định. Số vốn này cũng là yếu tố đảm bảo khả năng tài chính của tổ chức tín
dụng trong quan hệ với khách hàng, với bên cung cấp tài sản thuê. Theo quy
định tại Nghị định 82/ 1998/ NĐ-CP ngày 03/ 10/ 1998 của chính phủ ban hành
danh mục mức vốn pháp định đối với các tổ chức tín dụng. Mức vốn pháp định
đối với các Công ty CTTC (tổ chức tín dụng phi ngân hàng) nh sau:
- Đối với Công ty CTTC Việt nam mức vốn pháp định là 50 tỷ đồng Việt nam.
- Đối với Công ty CTTC liên doanh và Công ty CTTC 100% vốn nớc ngoài
mức vốn pháp định là 5.000.000 USD.
3. Thành viên sáng lập phải có uy tín và năng lực tài chính.
Đối với Công ty CTTC Việt nam thì thành viên sáng lập phải là một hoặc
nhiều ngân hàng, Công ty tài chính thành lập Công ty CTTC trực thuộc hoặc có
thể cùng với các doanh nghiệp khác thành lập Công ty CTTC dới hình thức
Công ty TNHH, Công ty cổ phần.
Đối với Công ty CTTC liên doanh thì bên Việt nam bắt buộc phải có ít
nhất một ngân hàng, Công ty tài chính tham gia và bên nớc ngoài có thể là ngân
hàng, Công ty tài chính, Công ty CTTC hoặc tổ chức tài chính quốc tế.
Đối với Công ty CTTC 100% vốn nớc ngoài thì chủ thể thành lập là các
ngân hàng, Công ty tài chính hoặc các Công ty CTTC nớc ngoài.
Quy định này làm nâng cao tính pháp lý của Công ty CTTC trong việc
thành lập cũng nh hoạt động. Vì các chủ thể thành lập hoặc tham gia thành lập
Công ty CTTC chủ yếu là các ngân hàng, các Công ty tài chính Đó là các chủ
thể có uy tín và năng lực tài chính cũng nh kinh nghiệm và nghiệp vụ hoạt động
CTTC .
13
4. Ngời quản trị, điều hành có năng lực hành vi dân sự đầy đủ và trình độ
chuyên môn phù hợp.
Tổng giám đốc (giám đốc) Công ty CTTC phải là ngời có năng lực lãnh
đạo, am hiểu kỹ thuật nghiệp vụ về kinh doanh tiền tệ; tốt nghiệp đại học về
kinh tế, tài chính hoặc ngân hàng trở lên hoặc có trình độ tơng đơng; có thời
gian công tác trong lĩnh vực tài chính ngân hàng từ 5 năm trở lên.
5. Có điều lệ tổ chức, hoạt động phù hợp với quy định của pháp luật.
Bao gồm những nội dung sau: Tên và nơi đặt trụ sở chính; Nội dung và
phạm vi hoạt động; thời hạn hoạt động; Vốn điều lẹ và phơng thức góp vốn;
nhiệm vụ và quyền hạn của HĐQT , Tổng giám đốc và ban kiểm soát; Thể thức
bầu và bổ nhiệm, miễn nhiệm thành viên HĐQT, ban GĐ ban kiểm soát; Quyền
và nghĩa vụ của cổ đông; Các nguyên tắc tài chính kế toán kiểm toán nội bộ;
các trờng hợp giải thể và thủ tục giải thể; Thủ tục sửa đổi điều lệ.
6. Có phơng án kinh doanh khả thi
Trong nền kinh tế thị trờng, lợi nhuận là mục tiêu hàng đầu của các
doanh nghiệp. Không có lợi nhuận thì không những doanh nghiệp không thể tồn
tại mà cũng không đóng góp đợc gì cho nền kinh tế. Đối với các Công ty CTTC
cũng vậy, ngay từ khi bắt đầu hoạt động ngời kinh doanh phải dự định đợc khả
năng thu lợi nhuận của mình dựa trên cơ sở thực lực và phơng án kinh doanh
khả thi. Trong hoạt động tín dụng, nếu doanh nghiệp làm ăn kém hiệu quả dẫn
đến bị giải thể hoặc phá sản, sẽ kéo theo nhiều hệ quả xấu cho kinh tế - xã hội.
Quy định ngời kinh doanh phải có phơng án kinh doanh khả thi không chỉ có
tác dụng hạn chế tính kém hiệu quả trong hoạt động tín dụng mà còn có tác
dụng làm ổn định quá trình phát triển kinh tế đất nớc.
c, Thủ tục thành lập Công ty CTTC.
Khi xét thấy có đủ các điều kiện nêu trên, các chủ thể thành lập Công ty
CTTC phải tiến hành làm các thủ tục thành lập Công ty theo những quy định cụ
thể của pháp luật.
Đối với Công ty CTTC do ngân hàng, Công ty tài chính hoặc ngân
hàng, Công ty tài chính cùng với các doanh nghiệp khác của Việt nam
thành lập.
Việc thành lập phải tuân theo Quyết đinh số 05/ NH5-QĐ ngày 7/ 1/ 1991
của Thống đốc NHNN về việc Ban hành quy chế cấp giấy phép hoạt động cho
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét