5
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN CHUNG
1.1 Khái niệm DNV&N
1.1.1 Khái niệm DNV&N ở các nước trên thế giới
Khái niệm DNV&N hiện nay ở các nước trên thế giới chỉ mang tính chất
tương đối cả về thời gian và không gian. Một doanh nghiệp nhỏ ở Mỹ, Nhật hay
Pháp có thể sẽ lớn hơn nhiều một doanh nghiệp lớn ở Trung Quốc hayViệt
Nam. Và một doanh nghiệp nhỏ ở một nước nào đó trong hiện tại chắc chắn sẽ
lớn hơn quy mô doanh nghiệp nhỏ tại nước đó vào những thời kỳ trước. Các
công trình nghiên cứu, các nhà thiết kế khi đề cập đến quy mô doanh nghiệp
đều căn cứ vào những tiêu thức chung về vốn , lao động hoặc doanh số. Để có
cơ sở cho việc nghiên cứu cần xác đònh lại các khái niệm có liên quan đến
DNV&N.
Tại Mỹ, người ta đònh nghóa DNV&N như sau: “ Doanh nghiệp nhỏ là một
doanh nghiệp có quyền sở hữu độc lập, hoạt động độc lập và không phải là
thành phần trội yếu của một ngành công nghiệp”. Tiêu chuẩn cụ thể của một
doanh nghiệp nhỏ ở Mỹ phụ thuộc vào ngành hoạt động, ví dụ:
- Nếu là ngành chế tạo, doanh nghiệp có số lượng công nhân từ 250 người
trở xuống sẽ thuộc loại doanh nghiệp nhỏ, doanh nghiệp nào có từ 1000 công
nhân trở lên là doanh nghiệp lớn và những doanh nghiệp vừa là doanh nghiệp
có từ 250 – 1000 người.
- Những ngành khác thì căn cứ vào một số tiêu chuẩn như: Doanh nghiệp
nhỏ là doanh nghiệp có doanh số không chiếm quá 5% tổng số thương vụ đối
với các ngành công nghiệp ít cạnh tranh; có doanh số không quá 5 triệu USD
hàng năm đối với doanh nghiệp bán sỉ; có doanh số không quá 1 triệu USD
hàng năm đối với doanh nghiệp bán lẻ.
Tại Hàn Quốc, theo quy đònh thì DNV&N là các cơ sở sản xuất kinh doanh
tầm trung và tầm nhỏ dựa trên số lượng công nhân làm việc cho cơ sở ấy và tuỳ
thuộc vào ngành nghề kinh doanh. Việc phân chia được cụ thể hoá trên một số
ngành như sau:
Bảng 1.1 : Phân loại các DNV&N tại Hàn Quốc
Ngành kinh doanh Doanh nghiệp nhỏ Doanh nghiệp vừa
Chế tạo, khai khoáng,
giao thông vận tải
Từ 20 công nhân trở xuống Từ 21 - 300 công nhân
Xây dựng Từ 20 công nhân trở xuống Từ 21 - 300 công nhân
6
Thương mại, dòch vụ Từ 5 công nhân trở xuống Từ 6 - 20 công nhân
Còn tại một số nước Châu Á khác, thì phân loại DNV&N như sau:
Bảng 1.2 : Phân loại các DNV&N tại một số nước ở Châu Á
Tiêu thức áp dụng
Nước
Số lao động Vốn kinh doanh
Hồng kông
< 100 người trong ngành CN
< 50 người trong ngành dòch vụ
Indonesia < 100 người < 0,6 tỷ rupi
Singapore < 100 người < 499 tr dollar Singapore
Myanmar < 100 người
Philipin < 200 người < 100 triệu pêsô
Thái Lan < 100 người < 20 triệu bat
Nhật
< 50 người trong bán lẽ
< 300 người trong bán buôn
< 300 người ở các ngành khác
< 10 triệu yên
< 30 triệu yên
< 100 triệu yên
Nguồn: Dự án chính sách phát triển DNV&N ở Việt Nam. Học viện chính trò
quốc gia, viện Friedrich CHLB Đức, Hà Nội 1996.
Tóm lại, chúng ta có thể thấy rằng ở mỗi nước trên thế giới đều có những
khái niệm khác nhau và những tiêu chuẩn khác nhau để phân loại như thế nào
là một DNV&N. Nhưng nhìn chung là những tiêu thức mà các nước thường sử
dụng làm căn cứ để phân loại các DNV&N với các doanh nghiệp lớn là các
tiêu thức về vốn, lao động hoặc doanh thu, tuỳ vào điều kiện và thời điểm của
mỗi nước mà các tiêu thức dùng để phân loại có thể là một hoặc hai trong ba
tiêu thức đó.
1.1.2 Khái niệm DNV&N ở Việt Nam
Để hỗ trợ cho các DNV&N, một số cơ quan nhà nước và tổ chức đã tự đưa
ra các tiêu thức để xác đònh DNV&N:
1.Phòng thương mại và công nghệ Việt Nam (VCCI) căn cứ vào hai tiêu
thức lao động và vốn của ngành để phân loại DNV&N với doanh nghiệp lớn.
Cụ thể như sau:
7
Tiêu thức phân loại
Doanh nghiệp vừa Doanh nghiệp nhỏ
Ngành
Vốn Lao động Vốn Lao động
Côngnghiệp 5-10tỷ đồng 200-500 người < 5 tỷ đồng < 200 người
TM-Du lòch 5-10tỷ đồng 50-100 người < 5 tỷ đồng < 200 người
Nguồn: Vương Liêm,DNV&N,NXB GTVT,2000, trang 29
Mục đích của việc phân loại này nhằm giúp cho Phòng thương mại và
công nghệ có căn cứ để hỗ trợ về vốn, tư vấn công nghệ,… cho các doanh
nghiệp.
2.Liên Bộ tài chính – Thương binh xã hội có thông tư số 21/LĐTT ngày
17-06-1993 quy đònh: Doanh nghiệp nhỏ là doanh nghiêp có ít hơn hai trong ba
tiêu chí sau đây: có vốn pháp đònh nhỏ hơn 1tỷ đồng, có số lao động nhỏ hơn
100người, có tổng doanh thu hàng năm nhỏ hơn 10tỷ đồng. Sự xác đònh này
nhằm mục đích để có chính sách đầu tư và quản lý.
3.Ngân hàng Công thương Viêt Nam thì đònh nghóa, DNV&N là các doanh
nghiệp có dươí 500 lao động, có vốn cố đònh nhỏ hơn 10 tỷ đồng, có vốn lưu
động nhỏ hơn 8 tỷ đồng và doanh thu hàng tháng nhỏ hơn 20 tỷ đồng. Sự xác
đònh nhằm phân loại đối tượng cho vay vốn và số vốn cho vay đối với các
doanh nghiệp.
4.Dự án VPE/US/95/004 hỗ trợ DNV&N ở Việt Nam do UNIDO tài trợ
phân loại DNV&N như sau: Doanh nghiệp nhỏ là doanh nghiệp có số lao động
dưới 30 người và có vốn đang ký kinh doanh nhỏ hơn 0,1 triệu USD( tương
đương 1tỷ đồng vào thời điểm đó). Doanh nghiệp vừa là doanh nghiệp có số lao
động từ 31-200 người và có vốn đang ký kinh doanh nhỏ hơn 0,5 triệu USD
(tương đương 5tỷ đồng vào thời điểm đó).
5.Quỹ hỗ trợ DNV&N thuộc chương trình VN-EU cho rằng DNV&N là các
doanh nghiệp có tổng giá trò tài sản không quá 2triệu USD và có số lao động
không quá 500người.
6.Ngày 20/6/1998 tại công văn số 681/CP-KTN của chính phủ đã tạm thời
quy đònh thống nhất tiêu chí xác đònh DNV&N là những doanh nghiệp có vốn
điều lệ dưới 5 tỷ đồng và có số lao động bình quân hàng năm dưới 200 người.
Công văn nêu rõ các Bộ, ngành, đòa phương có thể căn cứ vào tình hình cụ thể
mà có thể áp dụng cả hai hoặc một trong hai tiêu thức trên.
8
7.Và gần đây nhất, Nghò đònh số 90/2001/NĐ-CP của nhà nước Việt Nam
ban hành ngày 23-11-2001 quy đònh “DNV&N là các cơ sở sản xuất, kinh doanh
độc lập, đã đăng ký kinh doanh theo pháp luật hiện hành, có vốn đăng ký kinh
doanh không quá 10tỷ đồng hoặc có số lao động trung bình hàng năm không quá
300 người”. Căn cứ vào tình hình kinh tế xã hội của ngành, đòa phương; trong
quá trình thực hiện các biệp pháp, chương trình trợ giúp có thể linh hoạt áp
dụng đồng thời cả hai tiêu chí vốn và lao động hoặc một trong hai tiêu chí đó.
Tóm lại, với những mục đích khác nhau và vào những thời điểm khác nhau
nên việc đưa ra những tiêu thức để phân loại, xác đònh DNV&N của các tổ
chức, cơ quan nhà nước và cá các nhân cũng khác nhau và cũng chỉ mang tính
ước lệ. Bản thân các tiêu thức đó chưa đủ để xác đònh thế nào là một DNV&N
ở Việt Nam hiện nay.
Việc phân loại không đồng nhất dẫn đến việc đánh giá và kết luận khác
nhau trong nghiên cứu, phân tích vai trò của DNV&N trong công cuộc xây dựng
và phát triển kinh tế đất nước. Vì thế, chúng ta cần phải xác đònh đúng đắn và
thống nhất các tiêu thức để xác đònh DNV&N ở Việt Nam hiện nay.
Trên cơ sở phân tích và tham khảo các đònh nghóa, các tiêu thức phân loại
của các nước trên thế giới và của các tổ chức, cơ quan cũng như các cá nhân ở
Việt Nam về DNV&N. Theo tác giả, DNV&N ở Việt Nam có thể đònh nghóa và
xác đònh theo các tiêu thức như trong Nghò đònh số 90/2001/NĐ-CP của nhà
nước Việt Nam ban hành ngày 23-11-2001 là phù hợp với thực tế khách quan
hiện nay và những năm tiếp theo ở Viêt Nam , cụ thể là:
“ DNV&N là các cơ sở sản xuất, kinh doanh độc lập, đã đăng ký kinh
doanh theo pháp luật hiện hành, có vốn đăng ký kinh doanh không quá 10 tỷ
đồng hoặc có số lao động trung bình hàng năm không quá 300 người”.
Và như vậy, DNV&N ở Việt Nam sẽ bao gồm các loại hình doanh nghiệp
sau:
- Các doanh nghiệp nhà nước được thành lập và đăng ký theo luật doanh
nghiệp nhà nước đáp ứng được hai hoặc một trong hai tiêu thức mà nghò đònh
90/2001/NĐ-CP đưa ra.
- Các doanh nghiệp ngoài quốc doanh bao gồm các công ty cổ phần, công
ty trách nhiệm hữu hạn, doanh nghiệp tư nhân và hợp tác xã được thành lập và
hoạt động theo luật doanh nghiệp, luật hợp tác xã đáp ứng được hai hoặc một
trong hai tiêu thức mà nghò đònh 90/2001/NĐ-CP đưa ra.
9
- Các doanh nghiệp cố vốn đầu tư nước ngoài được thành lập và hoạt động
theo luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam đáp ứng được hai hoặc một trong hai
tiêu thức mà nghò đònh 90/2001/NĐ-CP đưa ra.
Như vậy, DNV&N ở Việt Nam theo đònh nghóa trên sẽ nằm trong ba khu
vực doanh nghiệp: khu vực doanh nghiệp nhà nước, khu vực doanh nghiệp
ngoài quốc doanh và khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài; trong đó
số lượng các DNV&N ngoài quốc doanh là chiếm đa số. Và tại Tp HCM,
DNV&N ngoài quốc doanh là cũng chiếm số lượng đa số trong tổng số các
DNV&N. Do vậy, trong đề tài của mình, tác giả chỉ tập trung nghiên cứu các
DNV&N nằm trong khu vực doanh nghiệp ngoài quốc doanh (Bao gồm các
DNTN, CTTNHH và CTCP) tại Tp HCM.
1.2 Vai trò của các DNV&N
1.2.1 Vai trò của các DNV&N ở một số nước trên thế giới
Trong giới hạn của đề tài này tác giả chỉ tập trung phân tích vai trò của
các DNV&N ở Đài Loan, do đặc điểm các DNV&N ở Việt Nam hiện nay có
nhiều nét tương đồng với các DNV&N ở Đài Loan ; mặt khác không phải ngẫu
nhiên mà tổ chức hợp tác kinh tế châu Á – Thái Bình Dương ( APEC) chọn Đài
Loan làm nơi hội thảo quốc tế đầu tiên (tháng 3 năm 2003) về chuyên đề “Phát
triển DNV&N”. Hội nghò bộ trưởng ngọai giao và thương mại các nước thành
viên APEC (ngày 17,18 tháng 10 năm 2003) cũng chọn Đài Loan làm nơi hội
thảo quốc tế lần thứ hai (năm 2004) về chuyên đề này. Sở dó như vậy, theo các
chuyên gia APEC là do Đài Loan tích lũy được nhiều kinh nghiệm trong sự
nghiệp phát triển DNV&N. Chúng ta hãy lần lượt xem xét các DNV&N đã có
những đóng góp gì, có vai trò như thế nào trong quá trình phát triển kinh tế của
Đài Loan:
Các DNV&N chiếm tỷ trọng cao và hoạt động trong nhiều ngành sản
xuất trong nền kinh tế.
Ở hầu hết các nước phát triển, các DNV&N chiếm tỷ trọng cao trong nền
kinh tế và phân bố ở tất cả các ngành, nhất là trong các ngành dòch vụ và công
nghiệp chế biến hàng tiêu dùng.
Tại Đài Loan, số lượng DNV&N đến cuối năm 1989 là 780.000 cơ sở,
đóng góp 45% GDP và cung cấp 70% tổng số việc làm. Đến năm 1997 đã có
đến 1.024.000 đơn vò, chiếm 97,8% tổng số doanh nghiệp của cả nước. Các
DNV&N hoạt động phổ biến trong tất cả các ngành công nghiệp, dòch vụ, từ
công nghiệp thủ công truyền thống đến các ngành công nghiệp kỹ thuật cao.
Trong mỗi sản phẩm công nghiệp, sản xuất của các DNV&N đều chiếm trên
10
50% giá trò sản xuất kinh doanh, đặc biệt trong lónh vực thương nghiệp các
DNV&N chiếm trên 80%. Cũng trong năm 1960, số lượng các DNV&N trong
công nghiệp chế tạo chiếm 95,43%, năm 1965 là 98,7%, năm 1970 chiếm
97,96% và hiện nay chiếm khoảng 98%. Chính sự hoạt động kinh doanh có
hiệu quả cao của các DNV&N đã góp phần làm cho Đài Loan trở thành một
nước công nghiệp mới.
Vai trò của DNV&N trong giải quyết việc làm.
Mang đặc tính vừa và nhỏ, đa dạng hoá về lónh vực hoạt động, các
DNV&N đã góp phần tích cực vào việc tạo công ăn việc làm cho người lao
động. Ở Đài Loan, trong ngành chế tạo số công nhân trong các DNV&N chiếm
59,6% lao động của ngành, trong ngành thương nghiệp tỷ lệ này là 95% và
trong ngành dòch vụ tỷ lệ này 66,2%. Ưu điểm của của các DNV&N trong việc
giải quyết công ăn việc làm cho người lao động là: các doanh nghiệp này có số
lượng lớn, phân bố rộng rãi từ nông thôn đến thành thò, từ miền xuôi lên miền
ngược, góp phần cân đối lao động. Sự lớn mạnh của các DNV&N đã làm tăng
thu nhập của công nhân và giảm tỷ lệ thất nghiệp của mỗi đòa phương nói riêng
và toàn lãnh thổ nói chung.
Do các DNV&N có thể phát triển ở khắp mọi nơi trong nước , nên khoảng
cách giữa nhà sản xuất và thò trường được rút ngắn lại, tạo nên sự phát triển
cân bằng giữa các vùng. Chênh lệch giàu nghèo không đáng kể, mỗi người dân
có thể là một ông chủ, mỗi gia đình có thể là một doanh nghiệp.
Các DNV&N góp phần không nhỏ vào quá trình tích lũy nền kinh tế.
Sản xuất muốn phát triển, trước hết phải có vốn. Phát triển công nghiệp
cũng đòi hỏi vốn đầu tư lớn. Ở các nước đang phát triển; ngoài nguồn nhân lực
là yếu tố dư thừa; các yếu tố khác như vốn đầu tư, kỹ thuật, thò trường đều rất
hạn chế; vì vậy đã gây trở ngại cho quá trình phát triển.
Năm 1940, quỹ tiền tệ trong nước của Đài Loan thiếu hụt nghiêm trọng,
tích luỹ ngoại hối ít ỏi, sự cung ứng vốn đầu tư không đủ đáp ứng theo yêu cầu
đầu tư. Nền kinh tế Đài Loan phải nhận một phần vốn rất lớn từ nguồn viện trợ
của Mỹ để phát triển công nghiệp. Khác với Hàn Quốc luôn lấy công nghiệp
nặng, công nghiệp đại quy mô với các tập đoàn kinh tế lớn làm đầu; Đài Loan
bước vào phát triển kinh tế với các doanh nghiệp quy mô vừa và nhỏ, không
cần nhiều vốn, dễ quản lý và vốn quay vòng nhanh. Sự phát triển của các
doanh nghiệp quy mô vừa và nhỏ đã dẫn đến quá trình tích lũy của cải không
ngừng của nhân dân. Đến năm 1970, sự cung ứng vốn của Đài Loan không
những đã đủ mà còn có hiện tượng dư thừa. Hiệu suất tiết kiệm của Đài Loan
đạt đỉnh cao trên thế giới. So sánh việc hình thành vốn dự trữ của dân chúng
11
với số tiền cung ứng đầu tư thì thấy; trước năm 1970, tiết kiệm của dân chúng
là không đủ để đầu tư. Năm 1960, tỷ lệ tiết kiệm của dân chúng là 17,8%, trong
khi tỷ lệ đầu tư là 20,2%. Nhưng từ năm 1970 trở lại đây, không những tỷ lệ
tiết kiệm của dân chúng đủ để cung ứng, mà còn vượt mức đầu tư. Năm 1970,
tỷ lệ tiết kiệm và tỷ lệ đầu tư là bằng nhau 25,6%. Năm 1985, tỷ lệ này là
33,6% và 18,7%. Năm 1989 là 30,8% và 22,3%.
Các DNV&N đóng góp vai trò to lớn trong việc lưu thông hàng hoá và
xuất khẩu.
Sản xuất muốn phát triển phải gắn với thò trường. Trong những năm 1950,
các DNV&N tại Đài Loan lấy mục tiêu phục vụ thò trường trong nước là chính,
đáp ứng nhu cầu trong nước và sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực dồi dào sẵn
có. Khi nền kinh tế phát triển, sức mua tăng lên, nhu cầu lớn hơn, các DNV&N
rất nhạy bén trong việc điều chỉnh cơ cấu, tăng doanh thu.
Những năm 1960, chính phủ Đài Loan đã quyết đònh phát triển các
DNV&N theo đònh hướng xuất khẩu; bởi vì từ đầu những năm 1960, các doanh
nghiệp lớn của Đài Loan lần lượt ra đời, lấy thò trường trong nước làm chính,
lại có đầy đủ nguồn lực để độc chiếm thò trường trong nước làm cho các
DNV&N không còn đất để đặt chân. Các DNV&N chỉ còn cách hướng về thò
trường nước ngoài để tìm lối thoát. Kết quả là tỷ lệ xuất khẩu trung bình qua
các năm của các DNV&N là rất cao. Từ năm 1961-1968, tỷ lệ xuất khẩu đạt
53% trong tổng số kim ngạch xuất khẩu, từ năm 1969-1975 tỷ lệ xuất khẩu đạt
67% trong tổng số kim ngạch xuất khẩu , từ năm 1980 đến nay đạt 70% trong
tổng số kim ngạch xuất khẩu. Rõ ràng, các DNV&N có vai trò rất lớn trong
việc xuất khẩu của hàng hóa của Đài Loan trong những năm qua.
Các DNV&N có vai trò quan trọng trong vấn đề chuyển giao công
nghệ.
Chuyển giao công nghệ là vấn đề tất yếu của mọi doanh nghiệp, mọi nền
kinh tế và chuyển giao công nghệ có thể tránh được những kỷ thuật quá lạc hậu
hoặc quá sức chòu đựng của doanh nghiệp, của nền kinh tế sẽ góp phần quyết
đònh thành công trong phát triển sản xuất của các DN và cả nền kinh tế đó.
Đi từ quy mô nhỏ lên quy lớn, các DNV&N Đài Loan đã đáp ứng được yêu
cầu đó. Do DNV&N hoạt động trong mọi lónh vực, các kỹ thuật nhập khẩu
mang tính quảng đại, tránh sự phát triển mất cân bằng, phiến diện của nền kinh
tế. Với đặc tính hoạt động đa dạng nhưng lại liên kết với nhau theo một hệ
thống liên hoàn, các DNV&N rất thích nghi với kỹ thuật nhập khẩu. Do vậy các
DNV&N ở Đài Loan đã đứng vững và tiếp tục phát triển cho đến trình độ như
ngày nay.
12
Các DNV&N dễ dàng duy trì sự tự do cạnh tranh .
Tự do cạnh tranh là con đường tốt nhất để phát huy hết mọi tiềm lực. Các
doanh nghiệp lớn thường cần thò trường lớn, đòi hỏi phải có sự bảo hộ của chính
phủ và phải có sự độc quyền. Còn ở các DNV&N, tình trạng độc quyền không
xảy ra, họ sẵn sàng chấp nhận sự tự do cạnh tranh. So với các doanh nghiệp
lớn, các DNV&N có tính tự chủ cao hơn. Các DNV&N không ỷ lại vào sự giúp
đỡ của nhà nước và vì sự sinh tồn, các DNV&N sẵng sàng khai thác các cơ hội
để phátbtriển mà không ngại các rủi ro. Ở Đài Loan, mỗi năm bình quân có
khoảng 2-3% các DNV&N bò phá sản và cũng có khoảng 3% loại doanh nghiệp
này mới thành lập. Loại hình DNV&N có điều kiện thuận lợi trong việc tập
trung huy động vốn, tiếp nhận đầu tư nước ngoài, hình thành các doanh nghiệp
lớn cho các ngành then chốt.
Các DNV&N dễ dàng tạo nên sự phát triển cân đối giữa các vùng và
nhanh chóng gỉam bớt nạn thất nghiệp.
Vấn đề phát triển cân đối giữa các vùng không thể thành công nếu một
nước nào đó chỉ chú trọng phát triển các doanh nghiệp đại quy mô. Ở Đài
Loan, tính phổ biến của các DNV&N rất có lợi thế trong việc tuyển dụng công
nhân tại đòa phương và tận dụng các nguồn tài nguyên, tư liệu sản xuất sẵn có
của đòa phương. Lợi nhuận của các DNV&N góp phần tái sản xuất đầu tư lại
cho các đòa phương. Do đó, hiệu quả kinh tế của các DNV&N cũng chính là
hiệu quả về sự ổn đònh và phát triển kinh tế ở đòa phương.
Đồng thời, các DNV&N thu hút nhiều lao động, có thể cùng lúc tạo ra
nhiều công ăn việc làm, góp phần giảm bớt nạn thất nghiệp ở mỗi đòa phương
nói riêng và cả nền kinh tế nói chung.
Các DNV&N là nơi đào tạo các nhà doanh nghiệp.
Người Đài Loan có đặc tính muốn tự mình dựng nên cơ nghiệp, thích có
quyền quyết đònh trong mọi vấn đề. Trong các DNV&N, thông qua các hoạt
động sản xuất kinh doanh, người Đài Loan khi thấy mình đã có đầy đủ các kinh
nghiệm liền tự mình tạo nên một cơ nghiệp khác, bỏ doanh nghiệp mình đã
từng làm việc. Nguồn gốc của sự thành công là ở chỗ, họ sẵn sàng học hỏi,
chòu gian khổ trong thời gian còn là công nhân làm thuê để tích lũy những kinh
nghiệm, thành quả riêng cho mình. Khác với các doanh nghiệp lớn mà các nhà
doanh nghiệp thường là những người có học vò cao, đào tạo chính quy để trở
thành nhà doanh nghiệp; các DNV&N là nơi sàng lọc đào luyện các nhà doanh
nghiệp thông qua kinh nghiệm kinh doanh và kinh nghiệm tiếp thu lónh vực có
thể phát triển được của mỗi doanh nhân Đài Loan.
13
1.2.2 Vai trò của các DNV&N ở Việt Nam
Đóng góp lớn vào GDP và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế
Trong những năm gần đây, nhất là từ khi có Luật doanh nghiệp, khu vực
DNV&N đã trở thành động lực mạnh mẽ thúc đẩy tăng trưởng kinh tế nước ta.
Năm 2004 , công nghiệp khu vực DNV&N ngòai quốc doanh tăng 22,8%, là
mức tăng cao nhất so với các khu vực khác, chiếm tỷ trọng 27% giá trò sản xuất
công nghiệp. Trong thương mại, khu vực DNV&N ngòai quốc doanh tăng đạt
mức tăng 26%, cũng là mức cao nhất và chiếm 82% tổng mức bán lẻ và dòch
vụ. Đóng góp của khu vực DNV&N ngòai quốc doanh tăng từ 36,6% năm 2000
lên 41,7% năm 2003 và 42% năm 2004 (Nguồn : Tạp chí Kinh tế & phát triển
số 93 T03/2005, trang 4)
Các DNV&N góp phần tạo ra nhiều công ăn việc làm.
Trong điều kiện nước ta, vấn đề lao động và tạo ra việc làm đang là vấn
đề cấp bách. Trong khi hệ thống các DNNN ở nước ta hiện nay đang trong quá
trình cải cách không tạo thêm được nhiều việc làm mới, khu vực hành chính
nhà nước đang giảm biên chế và tuyển dụng mới không nhiều. Do đó, khu vực
DNV&N ngòai quốc doanh chính là nơi thu hút , tạo việc làm mới cho xã hội.
Trong 4 năm qua, DNV&N ngòai quốc doanh mới thành lập đã tạo ra khỏang
1,5-2 triệu chỗ làm mới. Hiện nay, khu vực DNV&N ngòai quốc doanh vẫn là
khu vực sử dụng nhiều lao động nhất với khỏang 91 % tổng lực lượng lao động
tòan xã hội (Nguồn : Tạp chí Kinh tế & Dự Báo số 384/ T04/2005, trang 26).
DNV&N có vai trò to lớn trong việc phát huy các tiềm năng , huy động
mọi nguồn lực của xã hội vào công cuộc xây dựng và phát triển đất nước.
Dựa vào ưu thế của mình, các DNV&N khởi sự thành lập với số vốn nhỏ
nhưng có khả năng thu hồi vốn nhanh, có khả năng huy động vốn tự có hay vay
mượn của bàn bè, thân nhân trong gia đình, sử dụng và tận dụng hết các tiềm
năng về nguồn vốn, lao động và nguyên vật liệu sẵn có tại chỗ, theo ước tính
vốn đầu tư của DNV&N chiếm tới 70% vốn đầu tư toàn xã hội. Các DNV&N
do ít vốn, quản lý đơn giản, linh hoạt và dễ thích nghi với điều kiện biến động
của thò trường nên thường được thành lập và hoạt động tại đòa phương có nguồn
nguyên vật liệu tại chỗ hay vùng phụ cận để dễ dàng sử dụng, dễ được cung
cấp với giá rẻ và đỡ tốn chi phí vận chuyển. Do vậy, các DNV&N có khả năng
sản xuất một khối lượng sản phẩm, dòch vụ tương đối lớn đáp ứng cho nhu cầu
của xã hội với giá rẻ hơn và thuận lợi hơn.
14
DNV&N là nhân tố quan trọng trong quá trình chuyển dòch cơ cấu từ
nông nghiệp và sản xuất nhỏ lên nền sản xuất CNH- HĐH.
Qua thực tế nhiều năm cho thấy các DNV&N nhạy bén và linh hoạt đối
với thò trường. Sau một thời gian thành lập và họat động, các doanh nghiệp làm
ăn thuận lợi đều có xu hướng phát triển bằng cách nâng cao năng lực sản xuất
nhằm đáp ứng nhu cầu thò trường. Và trong những điều kiện thuận lợi nhất đònh
các DNV&N có thể từ sản xuất nhỏ lên sản xuất lớn và từ tận dụng máy móc
thiết bò cũ sữa chữa lại tiến tới đổi mới trang thiết bò, cải tiến hệ thống dây
chuyền sản xuất, đào tạo lại người lao động nhằm nâng cao tay nghề, nâng cao
năng lực trình độ quản lý. Sự đổi mới tới mức độ nào đó nhất đònh sẽ dẫn đến
đổi mới công nghệ, điều đó góp phần vào quá trình công nghiệp hoá , hiện đại
hoá đất nước trên cả chiều rộng lẫn chiều sâu. Việc phát triển cá DNV&N cũng
đưa đến việc tổ chức lại sản xuất, hợp lí hoá sự phân công hợp tác xã hội.
DNV&N là nơi hình thành và phát triển đội ngũ các nhà doanh nghiệp,
góp phần xây dựng được một đội ngũ các doanh nghiệp tiêu biểu thành đạt
của Việt Nam.
Trong khi một số nhà quản lý ở các doanh nghiệp lớn của nhà nước được
đào tạo trong cơ chế tập trung quan liêu bao cấp tỏ ra bất cập trước đòi hỏi của
nền kinh tế khi chuyển sang cơ chế thò trường và trước yêu cầu về công nghiệp
hoá hiện đại hoá đất nước thì sự phát triển của các DNV&N đã và đang xây
dựng được một đội ngũ các nhà doanh nhân thành đạt hoạt động trong hầu hết
các lónh vực, các ngành nghề của nền kinh tế với số lượng và trình độ không
ngừng tăng lên.
Các DNV&N là nơi đào tạo và sàng lọc các nhà quản lý doanh nghiệp
thông qua thực tiễn kinh doanh , góp phần vào việc đào tạo lực lượng cán bộ
quản lý kinh doanh có chất lượng cao cho đất nước. Mặc dù không tránh khỏi
còn nhiều bất cập và hạn chế, đội ngũ những nhà doanh nghiệp mới đã góp
phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế đất nước, vững bước tiến vào thế kỷ 21, thực
hiện thành công sự nghiệp công nghiệp hoá , hiện đại hoá đất nước.
1.2.3 Vai trò của các DNV&N ngoài quốc doanh tại Tp HCM
Các DNV&N góp phần quan trọng tạo công ăn việc làm và giải quyết
thất nghiệp ở Tp HCM.
Theo số liệu của cục thống kê năm 2004, Tp HCM có khoảng 6.062.993
người, hàng năm phải giải quyết công ăn việc làm mới cho trên dưới 200.000
người lao động và hàng năm số người được giới thiệu vào làm việc ở các
DNV&N khu vực ngoài quốc doanh khoảng từ 100.000 – 140.000 người, chiếm
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét