Chuyên đề tốt nghiệp
Trong báo cáo chính trị Ban chấp hành Trung ương Đảng tại Đại hội
Đảng toàn quốc lần thứ VI, Đảng ta khẳng định: “Ngân hàng phải là ngành đi
đầu với tư cách là động lực và là công cụ tổ chức quản lý cho nền kinh tế ổn
định và phát triển…”.
Với những tính chất đặc thù trên, NHTM bao gồm các đặc điểm sau:
• Trung gian tài chính:
Ngân hàng là một trung gian tài chính với hoạt động chủ yếu là chuyển
tiết kiệm thành đầu tư. Trong nền kinh tế có hai loại cá nhân và tổ chức, đó là:
Các cá nhân, tổ chức tạm thời thâm hụt chi tiêu và có nhu cầu bổ sung vốn;
các cá nhân, tổ chức thặng dư trong chi tiêu và có nhu cầu bảo toàn, sinh lời
vốn. Hai loại cá nhân và tổ chức này tạo thành cung cầu về vốn nhưng việc
gặp nhau của cung cầu vốn này bị cản trở bởi khoảng cách không gian, thời
gian, thông tin…nên khó có thể gặp nhau trực tiếp. Vì vậy, NHTM đứng ra
đóng vai trò là một trung gian để giúp cung cầu về vốn gặp nhau. Các NHTM
không chỉ khắc phục những khó khăn về không gian, thời gian, thông tin mà
còn có khả năng thẩm định thông tin và chia sẻ rủi ro với khách hàng. Đây là
một đặc điểm nổi bật của NHTM.
• Tạo phương tiện thanh toán:
Một trong những chức năng quan trọng của tiền là tạo phương tiện thanh
toán. Kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ nên các NHTM có chức năng tạo
phương tiện thanh toán.
Trước đây, khi chưa có Ngân hàng trung ương, các NHTM lớn, có uy tín,
có khả năng phát hành tiền của riêng mình và đưa vào lưu thông tạo ra
phương tiện thanh toán cho nền kinh tế. Khi Ngân hàng trung ương ra đời, các
NHTM không còn phát hành tiền nhưng vẫn có khả năng tạo ra phương tiện
thanh toán thông qua việc triển khai dịch vụ thanh toán qua số dư tài khoản
của khách hàng. Theo quan điểm hiện đại, khi ngân hàng cho vay, số dư trên
- 5 -
Chuyên đề tốt nghiệp
tài khoản tiền gửi thanh toán của khách hàng tăng lên, khách hàng có thể dùng
để mua hàng hóa dịch vụ. Do đó, bằng việc cho vay, các NHTM đã tạo ra
phương tiện thanh toán. Hơn nữa, toàn bộ hệ thống ngân hàng có thể tạo ra
phương tiện thanh toán lớn gấp bội thông qua các khoản tiền gửi được mở
rộng từ ngân hàng này sang ngân hàng khác theo công thức số nhân tiền tệ.
• Trung gian thanh toán:
Sự phát triển của nền kinh tế toàn cầu dẫn đến nhu cầu thanh toán liên
quốc gia, liên châu lục. Để tiến hành thanh toán được nhanh chóng, phù hợp,
chính xác, các cá nhân và tổ chức ở các nước thường thông qua ngân hàng.
Ngân hàng trở thành trung gian thanh toán lớn nhất hiện nay ở hầu hết các
quốc gia. Thay mặt khách hàng, ngân hàng thực hiện thanh toán giá trị hàng
hóa và dịch vụ. Ngân hàng còn cung cấp đa dạng các hình thức thanh toán
cho khách hàng như thanh toán bằng: Séc, ủy nhiệm chi, L/C, các loại
thẻ Nhiều hình thức thanh toán được chuẩn hóa góp phần tạo tính thống nhất
trong thanh toán không chỉ giữa các ngân hàng trong một quốc gia mà còn
giữa các ngân hàng trên toàn thế giới. Các trung tâm thanh toán quốc tế được
thiết lập đã làm tăng hiệu quả thanh toán qua ngân hàng, biến ngân hàng trở
thành trung tâm thanh toán quan trọng và có hiệu quả, phục vụ đắc lực cho
nền kinh tế toàn cầu.
c) Vai trò của Ngân hàng thương mại
• Vai trò trung gian cung ứng vốn cho nền kinh tế:
NHTM tập trung các nguồn tiền nhàn rỗi trong xã hội thành quỹ cho vay
và sử dụng quỹ này để cung ứng cho những người có nhu cầu vốn. Thông qua
trình độ và kinh nghiệm của đội ngũ nhân viên được đào tạo cũng như của đội
ngũ quản lý, ngân hàng có thể khắc phục được hầu hết những khiếm khuyết
của thị trường tài chính. Ngoài ra bằng hoạt động giám sát, thẩm định trước,
trong và sau khi cho vay, ngân hàng có thể hạn chế được rủi ro đạo đức. Hơn
- 6 -
Chuyên đề tốt nghiệp
nữa, ngân hàng có thể tập trung được nhiều khoản tiền nhỏ và ngắn hạn để
cho vay những khoản lớn hơn, thời hạn dài hơn thông qua nghiệp vụ chuyển
hoán kỳ hạn nguồn. Từ đó, ta có thể thấy được vai trò quan trọng của NHTM
trong việc cung ứng vốn cho nền kinh tế.
• Vai trò trung gian cung ứng các dịch vụ thanh toán:
NHTM thực hiện việc thanh toán hộ cho các khách hàng thông qua các
dịch vụ thanh toán đa dạng, giúp cho việc thanh toán của khách hàng được
nhanh chóng, chính xác và tiện lợi. Nhờ có NHTM mà việc thanh toán, đặc
biệt là thanh toán quốc tế được thực hiện an toàn, tiết kiệm chi phí từ đó nâng
cao lợi ích xã hội và thúc đẩy thương mại trong nước và quốc tế phát triển, và
ngược lại khi thương mại phát triển thì sẽ thúc đẩy hệ thống NHTM phát triển
theo.
• NHTM là nguồn cung ứng các sản phẩm dịch vụ tài chính đa dạng nhất:
Khi xã hội phát triển thì nhu cầu của con người về các dịch vụ tài chính
ngày càng đa dạng. NHTM là tổ chức có thể đáp ứng được điều đó. NHTM
giúp con người thỏa mãn nhu cầu về tài chính, thông qua đó nâng cao mức
sống cho người dân. Ngược lại, nhu cầu ngày càng cao của con người cũng
giúp NHTM ngày càng hoàn thiện hơn trong việc cung ứng dịch vụ và thu lợi
từ phí dịch vụ.
• Vai trò thực hiện các chính sách xã hội:
Thông qua hệ thống ngân hàng, Nhà nước có thể thực hiện điều tiết vĩ
mô nền kinh tế. Các chính sách tiền tệ và tài khóa như chính sách chiết khấu,
tái chiết khấu, chính sách dự trữ bắt buộc, chính sách lãi suất, nghiệp vụ thị
trường mở được Ngân hàng trung ương thực hiện tác động trực tiếp vào hệ
thống NHTM làm thay đổi các chính sách của các NHTM, làm thay đổi lượng
vốn cung ứng ra nền kinh tế, từ đó tác động đến toàn bộ hoạt động tiết kiệm,
chi tiêu và đầu tư của nền kinh tế. Và như vậy thúc đẩy sự tăng trưởng hoặc
- 7 -
Chuyên đề tốt nghiệp
kìm hãm sự phát triển quá nóng của nền kinh tế và thực hiện các mục tiêu xã
hội khác.
1.1.2. Các hoạt động cơ bản của Ngân hàng thương mại
a) Hoạt động huy động vốn:
• Huy động vốn từ việc nhận tiền gửi
Nguồn vốn huy động thường xuyên chiếm tỷ trọng cao nhất trong tổng
nguồn vốn của NHTM và nó đóng một vai trò vô cùng quan trọng, không thể
thay thế để duy trì hoạt động kinh doanh của NHTM. Các NHTM thường
thực hiện huy động vốn thông qua việc nhận tiền gửi của khách hàng. Các
loại hình huy động vốn bằng tiền gửi bao gồm:
- Tiền gửi không kỳ hạn: Đây là nguồn vốn có chi phí thấp nhưng lại
không ổn định do khách hàng có thể rút tiền ra bất cứ lúc nào. Nguồn tiền này
chủ yếu được gửi vào nhằm sử dụng các dịch vụ thanh toán của ngân hàng,
tạo điều kiện cho ngân hàng phát triển các dịch vụ thanh toán và đem lại
nguồn thu từ phí dịch vụ cho ngân hàng.
- Tiền gửi có kỳ hạn: đây là nguồn vốn có kỳ hạn xác định nên tương đối
ổn định nhưng chi phí để có được và duy trì nguồn này tương đối cao. Mục
đích của khách hàng khi gửi tiền vào là để có được sự an toàn vốn và hưởng
lãi. Các NHTM đều mong muốn tăng trưởng nguồn này để có thể tiến hành
mở rộng khả năng kinh doanh của mình.
- Tiền gửi tiết kiệm của dân cư: Đây cũng là nguồn có thời hạn xác định
nên ổn định nhưng chi phí cho nguồn này cũng cao. Mục đích của người dân
khi gửi tiền vào ngân hàng là an toàn vốn và có được khoản lợi nhuận từ lãi
ngân hàng chi trả. Đối với các NHTM thì đây thường là nguồn chiếm tỷ trọng
lớn nhất trong tổng nguồn vốn huy động được.
• Huy động vốn thông qua phát hành giấy tờ có giá
- 8 -
Chuyên đề tốt nghiệp
Giấy tờ có giá là các công cụ nợ do ngân hàng phát hành để huy động
vốn trên thị trường. Nghiệp vụ này đem lại nguồn vốn tương đối ổn định và
giúp ngân hàng có thể có được một khoản vốn lớn trong một thời gian ngắn.
Lãi suất của nguồn này phụ thuộc vào tính cấp thiết của việc huy động vốn
cũng như lãi suất trên thị trường nên nó thường có lãi suất cao để có thể thu
hút vốn được nhanh chóng.
• Huy động vốn thông qua nghiệp vụ đi vay
Nguồn vốn đi vay được ngân hàng chủ yếu sử dụng để đảm bảo khả
năng thanh khoản và tiện lợi trong việc giao dịch, thanh toán giữa các ngân
hàng. Nghiệp vụ này ngày càng trở nên phổ biến và chiếm tỷ trọng không nhỏ
đối với các NHTM. Tuy nhiên chi phí cho nguồn đi vay là cao nên nhiều ngân
hàng cũng không duy trì tỷ trọngnguồn này ở mức cao. Các NHTM thường đi
vay theo hai hình thức là vay từ Ngân hàng Trung ương (Ngân hàng nhà
nước) và vay từ các tổ chức tín dụng khác.
• Huy động vốn thông qua nghiệp vụ tạo vốn tự có
Vốn tự có thường là nguồn vốn chiếm tỷ trọng nhỏ nhất nhưng lại có
nghĩa quan trọng đối với hoạt động kinh doanh của NHTM vì nó đóng vai trò
là tấm đệm bảo vệ cho các hoạt động đó và tạo điều kiện cho ngân hàng mở
rộng, phát triển các hoạt động của mình đồng thời góp phần nâng cao vị thế
của ngân hàng trên thương trường. Ngân hàng thường tạo vốn tự có thông qua
các nguồn sau: thông qua nguồn vốn nội bộ; thông qua phát hành cổ phiếu,
trái phiếu.
• Các nghiệp vụ nguồn vốn khác
Ngoài các nguồn vốn trên, NHTM còn có các nguồn vốn khác, đó là:
Vốn ủy thác đầu tư, vốn tài trợ, vốn trong thanh toán
b)Hoạt động sử dụng vốn:
• Tín dụng:
- 9 -
Chuyên đề tốt nghiệp
Đây là nghiệp vụ chiếm tỷ trọng lớn nhất trong các nghiệp vụ của
NHTM về mặt giá trị, đồng thời nó là nghiệp vụ đem lại nguồn thu, lợi nhuận
chủ yếu cho ngân hàng (chiếm từ 70 - 90% thu nhập của ngân hàng). Tuy
nhiên, các NHTM đang có xu hướng làm giảm tỷ trọng về lợi nhuận của hoạt
động tín dụng mà phát triển các loại hình dịch vụ khác, nhất là các dịch vụ
hiện đại để tăng doanh thu.
- Mặt khác, đây cũng là nghiệp vụ chứa đựng nhiều rủi ro nhất đối với ngân
hàng. Vì vậy, ngân hàng cần phải thực hiện tốt công tác thẩm định trước,
trong và sau khi cho vay để hạn chế rủi ro xuống mức tối thiểu, đảm bảo sự an
toàn của các khoản tín dụng, tránh gây mất vốn, thất thoát vốn của ngân hàng.
• Quản ý ngân quỹ
Nghiệp vụ quản lý ngân quỹ của một NHTM thường bao gồm quản lý dự
trữ bắt buộc và quản lý đảm bảo khả năng thanh toán.
+ Quản lý dự trữ bắt buộc: Mục đích là để đáp ứng yêu cầu về mặt pháp lý
do Ngân hàng Trung ương đề ra. Ngân hàng Trung ương quy định tỷ lệ dự trữ
bắt buộc trên tổng tiền gửi đối với các NHTM, tỷ lệ này thay đổi theo chính
sách tiền tệ của Ngân hàng Trung ương. Mặt khác, mục đích mà Ngân hàng
Trung ương đề ra tỷ lệ dự trữ bắt buộc này là để đảm bảo khả năng thanh toán
của ngân hàng cũng như sự an toàn cho vốn của khách hàng khi gửi tiền vào
ngân hàng. Lượng dự trữ bắt buộc này thường được gửi tại Ngân hàng Trung
ương.
+ Quản lý ngân quỹ đảm bảo khả năng thanh toán: Dựa vào kinh nghiệm
quản lý ngân quỹ trong quá trình hoạt động của chính mình cũng như của các
ngân hàng khác mà NHTM xác định một tỷ lệ dự trữ phù hợp, dôi ra ngoài so
với dự trữ bắt buộc. Khoản dự trữ này thường được duy trì tại chính ngân
hàng đó hoặc gửi tại các NHTM khác. Mục đích của khoản mục này là để đáp
ứng nhu cầu thanh toán, rút tiền của khách hàng.
- 10 -
Chuyên đề tốt nghiệp
Tóm lại, quản lý ngân quỹ của NHTM mục đích chủ yếu là để duy trì khả
năng thanh khoản của ngân hàng. Tuy nhiên, lượng tiền được sử dụng trong
quản lý ngân quỹ có khả năng sinh lời rất kém, nhiều khi là khoản tiền chết
nên các ngân hàng thường không muốn duy trì khoản mục này ở tỷ lệ cao.
Như vậy ngân quỹ là khoản không thể thiếu để hạn chế rủi ro thanh khoản
nhưng lại có thể gây lãng phí nguồn lực của ngân hàng. Cân đối hai yếu tố
này là nhiệm vụ của ngân hàng.
• Đầu tư tài chính
Các NHTM thường đầu tư tài chính vào nhiều lĩnh vực nhưng chủ yếu là
đầu tư vào chứng khoán. Mục đích của việc đầu tư này là vì mục tiêu thanh
khoản và đa dạng hóa tài sản, cũng như để tăng thu nhập cho ngân hàng. Các
loại giấy tờ có giá mà ngân hàng lựa chọn thường là những loại chứng khoán
rất có giá trị trên thị trường, tức là khả năng thanh khoản và sinh lời lớn như
chứng khoán Chính phủ, chứng khoán của các ngân hàng khác, chứng khoán
của các công ty tài chính và chứng khoán của các công ty lớn, có uy tín khác.
• Mua bán ngoại tệ
Đây là nghiệp vụ được ngân hàng thực hiện nhằm đề phòng và hạn chế rủi
ro hối đoái, tỷ giá cũng như để tạo thêm thu nhập cho ngân hàng. Việc mua
bán ngoại tệ thường được ngân hàng thực hiện với các loại ngoại tệ mạnh và
thực hiện ở thị trường liên ngân hàng trong nước và thế giới. Nghiệp vụ này
đòi hỏi ngân hàng phải có chuyên môn cao cũng như sự nhanh nhạy với thị
trường.
• Tài trợ cho các hoạt động của Chính phủ
Trong quá trình hoạt động kinh doanh của mình, các NHTM cũng thường
tài trợ cho các hoạt động của Chính phủ theo sự yêu cầu của Chính phủ hoặc
có sự tự nguyện từ phía ngân hàng.
c) Các hoạt động khác:
- 11 -
Chuyên đề tốt nghiệp
• Bảo quản vật có giá.
• Cung cấp các tài khoản giao dịch và thực hiện thanh toán.
• Cho thuê thiết bị trung và dài hạn.
• Cung cấp các dịch vụ ủy thác và tư vấn đầu tư.
• Cung cấp dịch vụ môi giới đầu tư chứng khoán.
• Cung cấp các dịch vụ bảo hiểm.
• Cung cấp các dịch vụ đại lý.
1.2. Nguồn vốn của Ngân hàng thương mại
Để có thể tiến hành hoạt động kinh doanh, bất kỳ doanh nghiệp nào cũng
phải có vốn. NHTM cũng vậy, NHTM thực hiện kinh doanh trong lĩnh vực
tiền tệ nên đòi hỏi phải có một lượng vốn lớn, đa dạng hơn các doanh nghiệp
khác. Vốn đối với NHTM rất quan trọng. Nó quyết định quy mô, khả năng
sinh lời, xu hướng hoạt động và phát triển của ngân hàng. Một NHTM thường
có các loại vốn sau:
1.2.1. Vốn chủ sở hữu
a) Khái niệm
Để bắt đầu hoạt động ngân hàng, chủ ngân hàng phải có một lượng vốn
nhất định. Đây là loại vốn mà ngân hàng có thể sử dụng lâu dài, hình thành
nên trang thiết bị, nhà cửa của ngân hàng.
Vốn chủ sở hữu là vốn thuộc sở hữu của NHTM, được hình thành từ
nguồn vốn hình thành ban đầu, nguồn vốn bổ sung trong quá trình hoạt động
và các quỹ của ngân hàng.
b) Vai trò của vốn chủ sở hữu
Vốn chủ sở hữu (VCSH) của một NHTM đóng vai trò quan trọng sống
còn trong việc duy trì các hoạt động thường nhật và đảm bảo cho ngân hàng
khả năng phát triển lâu dài.
- 12 -
Chuyên đề tốt nghiệp
Thứ nhất, VCSH là điều kiện bắt buộc để ngân hàng có được giấy phép
tổ chức và hoạt động trước khi nó có thể huy động được các khoản tiền gửi
đầu tiên. Khi mới thành lập, một ngân hàng luôn cần vốn để mua sắm đất đai,
xây dựng cơ sở hạ tầng, trang bị những thiết bị, điều kiện làm việc cần thiết,
thuê nhân viên
Thứ hai, VCSH đóng vai trò là một tấm đệm giúp chống lại rủi ro phá
sản vì VCSH giúp trang bị những thua lỗ về tài chính và nghiệp vụ cho tới khi
ban quản lý có thể tập trung giải quyết các vấn đề, đưa ra các biện pháp hữu
hiệu giúp ngân hàng trở lại trạng thái hoạt động bình thường và sinh lời.
Thứ ba, VCSH tạo niềm tin cho công chúng và là sự đảm bảo đối với chủ
nợ của ngân hàng về sức mạng tài chính của NHTM. Ngân hàng cần phải đủ
mạnh để đảm bảo với những người đi vay rằng ngân hàng có thể đáp ứng
được các nhu cầu tín dụng cua rhọ ngay cả trong điều kiện nền kinh tế đang
gặp khó khăn.
Thứ tư, VCSH cung cấp năng lực tài chính cho sự tăng trưởng và phát
triển của các hình thức dịch vụ mới, cho những chương trình và trang thiết bị
mới. Khi một ngân hàng phát triển, nó cần bổ sung vốn để thúc đẩy sự tăng
trưởng và có thể chống đỡ được rủi ro gắn với sự ra đời của các sản phẩm
dịch vụ mới.
Cuối cùng, VCSH được xem như một phương tiện điều tiết sự tăng
trưởng, giúp đảm bảo rằng sự tăng trưởng của ngân hàng có thể được duy trì
ổn định và bền vững. VCSH của ngân hàng cần phải được phát triển tương
xứng với sự tăng trưởng của danh mục cho vay và những tài sản rủi ro khác
cũng như quy mô của ngân hàng. Do đó, VCSH - tấm đệm dùng để chống đỡ
những thua lỗ - cần phải được củng cố, bổ sung tương xứng với quy mô và rủi
ro của ngân hàng.
c) Nguồn hình thành vốn chủ sở hữu
- 13 -
Chuyên đề tốt nghiệp
Nguồn hình thành và nghiệp vụ hình thành loại vốn này đa dạng tùy theo
tính chất sở hữu, năng lực tài chính của chủ ngân hàng, yêu cầu và sự phát
triển của thị trường, nhìn chung bao gồm:
• Vốn điều ệ (nguồn vốn hình thành ban đầu):
Cũng như hầu hết các doanh nghiệp khác, để thành lập và đi vào hoạt
động, chủ sở hữu NHTM phải bỏ ra vốn đầu tư ban đầu và được ghi vào điều
lệ doanh nghiệp, được gọi là vốn điều lệ. Vốn điều lệ của NHTM phải lớn
hơn hoặc bằng vốn pháp định, mức vốn tối thiểu mà luật pháp quy định để
thành lập ngân hàng. Tùy theo tính chất của ngân hàng mà nguồn gốc hình
thành vốn ban đầu khác nhau. Nếu là ngân hàng thuộc sở hữu Nhà nước, vốn
do ngân sách Nhà nước cấp (vốn của Nhà nước). Nếu là ngân hàng cổ phần,
vốn do các cổ đông đóng góp thông qua mua cổ phần hoặc cổ phiếu. Nếu là
ngân hàng liên doanh, vốn do các bên liên doanh góp. Nếu là ngân hàng tư
nhân, vốn do tư nhân bỏ ra.
Vốn điều lệ của mỗi ngân hàng không được nhỏ hơn vốn pháp định. Ở
Việt Nam, mức vốn pháp định do Ngân hàng Nhà nước quy định. Còn số vốn
điều lệ sẽ khác nhau tùy thuộc vào chủ sở hữu của ngân hàng đó. Vốn điều lệ
của ngân hàng thuộc sở hữu và ngân hàng có toàn quyền sử dụng và định đoạt
theo quy định của pháp luật.
• Nguồn vốn bổ sung trong quá trình hoạt động:
Trong quá trình hoạt động, ngân hàng gia tăng vốn của chủ theo nhiều
phương thức khác nhau tùy thuộc vào điều kiện cụ thể.
Nguồn từ lợi nhuận: Trong điều kiện thu nhập ròng lớn hơn không, chủ
ngân hàng có xu hướng gia tăng vốn của chủ bằng cách chuyển một phần thu
nhập ròng thành vốn đầu tư. Tỷ lệ tích lũy tùy thuộc và cân nhắc của chủ ngân
hàng về tích lũy và tiêu dùng. Những ngân hàng lâu năm, thu nhập ròng lớn,
nguồn vốn tích lũy từ lợi nhuận sẽ cao so với vốn của chủ hình thành ban đầu.
- 14 -
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét