Tiêu luận triết học
Lời nói đầu
Mâu thuẫn là hiện tợng có trong tất cả các lĩnh vực: tự nhiên, xã hội và
t duy con ngời, chẳng hạn nh cung cầu, tích luỹ và tiêu dùng, tính kế hoạch
hoá cuả từng xí nghiệp, từng công ty và tính tự phát vô chính phủ của nền sản
xuất hàng hóa Mâu thuẫn không những tồn tại phổ biến ở mọi sự vật hiện t -
ợng mà còn tồn tại phổ biến trong xuốt quá trình phát triển của chúng. Không
có một sự vật, hiện tợng nào không có mâu thuẫn và không có một giai đoạn
trong sự phát triển của mỗi sự vật, hiện tợng lai không có mâu thuẫn. Mâu
thuẫn này mất đi, mâu thuẫn khác lại hình thành.
Trong sự nghiệp đổi mới của đất nớc ta do Đảng khởi xớng và lãnh đạo
đã dành đợc nhiều thắng lợi bớc đầu mang tính quyết định, quan trọng trong
việc chuyển đổi nền kinh tế từ cơ chế quan liêu bao cấp sang cơ chế thị trờng
có sự quả lý của nhà nớc theo định hớng xã hội chủ nghĩa. Trong những
chuyển biến đó đạt đợc nhiều thành công to lớn nhng trong những năm thành
công đó luôn luôn tồn tại những mâu thuẫn làm kìm hãm sự phát triển của
công cuộc đổi mới. Đòi hỏi giải quyết và nếu đợc giải quyết sẽ thúc đẩy cho sự
phát triển của nền kinh tế.
Là một sinh viên trờng kinh tế nên điều mà em quan tâm đó là làm sao
để phát triển kinh tế của nớc nhà. Giải quyết đợc các mâu thuẫn trong kinh tế
thị trờng, định hớng XHCN. Chính vì vậy mà em chọn đề tài Quy luật mâu
thuẫn trong phép biện chứng duy vật với việc phân tích hệ thống kinh tế
thị trờng định hớng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam . Cho bài viết của mình.
1
Tiêu luận triết học
Nội dung
I, Nội dung của quy luật mâu thuẫn trong phép biện chứng.
Quy luật mâu thuẫn là một trong 3 quy luật của phép biện chứng duy vật
và là hạt nhân của phép biện chứng. Nội dung của quy luật chỉ ra cho chúng ta
thấy nguồn gốc động lực của sự phát triển.
Quan điểm siêu hình cho rằng sự vật là một thể đồng nhất tuyệt đối,
chúng không có mâu thuẫn bên trong và mâu thuẫn là hiện tợng khách quan
chủ yếu bởi vì sự vật, hiện tợng của thế giới khách quan đều đợc tạo thành
nhiều yếu tố, nhiều bộ phận, nhiều quá trình khác nhau. Giữa chúng có mối
liên hệ, tác động lẫn nhau, trong đó sẽ có những liên hệ trái ngợc nhau, gọi là
các mặt đối lập thờng xuyên tác động qua lại lẫn nhau gây lên một biến đổi
nhất định, làm cho sự vật vận động phát triển.
1, Sự đấu tranh của các mặt đối lập trong 1 thể thống nhất.
2, Chuyển hoá của các mặt đối lập.
II. Tính tất yếu của quá trình xây dựng nền kinh tế thị trờng
ở Việt Nam:
1, Kinh tế thị trờng và những đặc điểm.
2, Chuyển sang nền kinh tế thị trờng là một tất yếu khách quan
trong quá trình phát triển nền kinh tế đất nớc.
III. Mâu thuẫn bên.
2
Tiêu luận triết học
Nội dung
I. lý luận chung
Mỗi sự vật, hiện tợng đang tồn tại đều là một thể thống nhất đợc cấu
thành bởi các mặt, các khunh hớng, các thuộc tính phát triển ngợc chiều nhau,
đối lập nhau ở đây chúng ta chia làm hai phần.
1. Sự đấu tranh của các mặt đối lập trong một thể thống nhất.
Trong phép biện chứng duy vật, khái niệm mặt đối lập là sự khái quát
những thuộc tính, những khuynh hớng ngợc chiều nhau tồn tại trong cùng một
sự vật, hiện tợng, tạo lên sự vật hiện tợng đó. Do đó, cần phải phân biệt rằng
bất kỳ mặt đối lập nào cũng tạo thành mâu thuẫn. Bởi vì trong các sự vật hiện
tợng của thế giới khách quan không phải chỉ tồn tại hai mặt đối lập. Trong
cùng một thời điểm ở mỗi sự vật, hiện tợng có thể cùng tồn tại nhiều mặt đối
lập. Chỉ có những mặt đối lập là tồn tại thống nhất trong cùng một sự vật, nh
một chỉnh thể, nhng có khuynh hớng phát triển ngợc chiều nhau, bài trừ, phủ
định và chuyển hoá lẫn nhau (Sự chuyển hoá này tạo thành nguồn gốc động
lực, đồng thời quy định bản chất, khuynh hớng phát triển của sự vật) thì có hai
mặt đối lập nh vậy mới gọi là hai mặt mâu thuẫn . Thống nhất của hai mặt
đối lập đợc hiểu với ý nghĩa kjhông phải chúng đứng cạnh nhau mà nơng tựa
vào nhau, tạo ra sự cân bằng nh liên hệ phụ thuộc, quy định và ràng buộc lẫn
nhau. Mặt đối lập này lấy mặt đối lập kia làm tiền đề cho sự tồn tại của mình
và ngợc lại. Nếu thiếu một trong hai mặt đối lập chính là tạo thành sự vật thì
nhất định không có sự tồn tại của sự vật . Bởi vậy sự thống nhất của các mặt
đối lập là điều kiện không thể thiếu đợc cho sự tồn tại của bất kỳ sự vật, hiện t-
ợng nào.
Đấu tranh của các mặt đối lập.
Sự thống nhất của các mặt đối lập trong cùng một sự vật không tách rời
sự đấu tranh chuyển hóa giữa chúng. Bởi vì các mặt đối lập cùng tồn tại trong
3
Tiêu luận triết học
cùng một sự vật thống nhất nh một chỉnh thể trọn vẹn nhng không nằm yên
bên nhau mà điều chỉnh chuyển hoá lẫn nhau tạo thành động lực phát triển của
bản thân sự vật. Sự đấu tran chuyển hoá, bài trừ, phủ định lẫn nhau giữa các
mặt trong thế giới khách quan thể hiện dới nhều hình thức khác nhau.
Ví dụ: Lực lợng sản xuất và quan hệ sản xuất trong gia cấp có đối kháng
mâu thuẫn giữa lực lợng sản xuất tiên tiến với quan hệ sản xuất lạc hậu kìm
hãm nó diễn ra rất quyết liệt và gay gắt. Chỉ thông qua các cuộc cách mạng xã
hội bằng rất nhiều hình thức, kể cả bạo lực mới có thể giải quyết mâu thuẫn
một cách căn bản.
Khi bàn về mối quan hệ giữa sự thống nhất và đấu tranh của các mặt đối
lập, Lênin chỉ ra rằng: Mặc dù thống nhất chỉ là điều kiện để sự tồn tại với ý
nghĩa là chính nó - Nhờ có sự thống nhất của các mặt đối lập mà chung ta nhận
biết đợc sự vật, hiện tợng tồn tại trong thế giới khách quan. Song bản thân của
sự thống nhất chỉ là tơng đối tạm thời. Đấu tranh giữa các mặt đối lập mới là
tuyệt đối. Nó diễn ra thờng xuyên liên tục trong suốt quá trình tồn tại của sự
vật. Kể cả trong trạng thái sự vật ổn định, cũng nh khi chuyển hoá nhảy vọt về
chất. Lênin viết: sự thống nhất của các mặt đối lập là có điều kiện, tạm thời,
thoáng qua trong tơng đối. Sự đấu tranh của các mặt đối lập bài trừ lẫn nhau là
tuyệt đối cũng nh sự phát triển, sự vận động tuyệt đối
2. Chuyển hoá của các mặt đối lập.
Không phải bất kỳ sự đấu tranh nào của các mặt đối lập đều dẫn đến sự
chuyển hoá giữa chúng. Chỉ có sự đấu tranh của các mặt đối lập phát triển đến
một trình độ nhất định. Trong giới tự nhiên, chuyển hoá các mặt đối lập thờng
diễn ra một cách tự phát, còn trong xã hội, chuyển hoá của các mặt đối lập
nhất thiét phải diễn ra thông qua hoạt động có ý thức của con ngời.
Do đó, không nên hiểu sự chuyển hoá lẫn nhau giữa các mặt đối lập là
sự hoán đổi vị trí một cách đơn giản, máy móc. Thông thờng thì mâu thuẫn
chuyển hoá theo hai phơng thức.
4
Tiêu luận triết học
+ Phơng thức thứ nhất: Mặt đối lập này chuyển hoá thành mặt đối lập
kia nhng ở trình độ cao hơn xét về phơng diện chất của sự vật.
+ Phơng thức thứ hai: Cả hai mặt đối lập chuyển hoá lẫn nhau để thành
hai mặt đối lập hoàn toàn.
Từ những mâu thuẫn trên cho thấy trong thế giới hiện thực, bất ky sự vật
hiện tợng nào cũng chứa đựng trong bản thân nó những mặt, những thuộc tính
có khuynh hớng phát triển ngợc chiều nhau. Sự đấu tranh chuyển hoá của các
mặt đối lập trong điều kiện cụ thể để tạo thành mâu thuẫn. Mâu thuẫn là hiện
tợng khách quan, phổ biến của thế giới. Mâu thuẫn đợc giải quyết, sự vật cũng
mất đi, sự vật mới hình thành. Sự vật mới nảy sinh các mặt đối lập và mâu
thuẫn mới. Vì vậy, mâu thuẫn là nguồn gốc và động lực của mọi sự phát triển.
II. tính tất yếu của quá trình xây dựng nền kinh tế thị trờng
ở Việt Nam.
1. Kinh tế thị trờng và những đặc điểm.
Sự nghiệp đổi mới ở Việt Nam theo định hớng xã hội chủ nghĩa là một
tất yếu lịch sử. Nó nhằm dẫn đến những mục tiêu cụ thể và mang tính cách
mạng. Nó thay đổi mới hàng loạt vấn đề về lý luận và thực tiễn, cả về kinh tế
và chu trình xã hội, nó bảo vệ phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin và t tởng Hồ
Chí Minh trong điều kiện, hoàn cảnh mới.
Trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội thì sự tồn tại của nền sản xuất
hàng hoá, nền kinh tế thị trờng - bớc phát triển cao của nền sản xuất hàng hoá
là lẽ đơng nhiên. Nh vậy, có thể nói rằng nền kinh tế thị trờng cũng nh nền
kinh tế tập trung phải là thuộc tính đặc thù, cố hữu riêng của mỗi chế độ xã hội
nào vấn đề áp dụng mỗi nền kinh tế đó vào thời điểm, hoàn cảnh lịch sử nào
cho phù hợp để danh hiệu quả nhất. Chúng ta đang trong giai đoạn quá độ lên
CNXH, bởi thế việc phát triển nền kinh tế thị trờng là một tất yếu khách quan.
Mới chỉ có thế việc phát triển nền kinh tế thị trờng là một tất yếu khách quan.
5
Tiêu luận triết học
Trong công cuộc đổi mới hiện nay, Đảng ta một lần nữa khẳng định
những giá trị khoa học bền vững của chủ nghĩa Mác - Lênin và t tởng Hồ Chí
Minh, đồng thời tuyên bố lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và t tởng Hồ Chí Minh
làm kim chỉ nam cho mọi hành động.
2. Chuyển sang nền kinh tế thị trờng là một tất yếu khách quan trong quá
trình phát triển nền tế đất nớc.
Thực tiễn vận động của nền kinh tế thế giới những năm gần đây cho
thấy, mô hình phát triển kinh tế theo hớng có điều tiết vĩ mô từ trung tâm,
trong bối cảnh của thời đại ngày nay, là mô hình hợp lý hơn cả. Mô hình này,
về đại thể có thể đáp ứng những thách thức của sự phát triển.
Nền kinh tế nớc ta hiện nay chỉ có thê nói đang trong giai đoạn quá độ,
chuyển tiếp từ nền kinh tế tập trung, hành chính, bao cấp, sang nền kinh tế thị
trờng có sự quản lý của nhà nớc theo định hớng XHCN. Do vậy, những đặc
điểm của giai đoạn quá độ trong nền kinh tế nớc ta, đơng nhiên là một vấn đề
rất có ý nghĩa, rất cần đợc nghiên cứu, xem xét. Nhận thức đợc những đặc
điểm phức tạp của giai đoạn quá độ, chi phối những đặc điểm đó, chúng ta sẽ
tránh đợc những sai lầm chủ quan, nóng vội, duy ý chí hoặc những khuynh h-
ớng cực đoan, máymóc, sao chép, chấp nhận nguyên bản kinh tế thị trờng từ
bên ngoài vào.
Kinh tế thị trờng nh chúng ta biết, là một kiểu quan hệ kinh tế - xã hội
thuần nhất với hai thành phần tập thể và quốc doanh, thì hiện nay, cùng với
thành phần sở hữu chủ đạo là sở hữu Nhà nớc, còn tồn tại nhiều hình thức sở
hữu khác. Những hình thức sở hữu đó, trong thực tế vận hành của nền kinh tế,
không hẳn đã đồng bộ với nhau, đôi khi chúng còn có mâu thuẫn với nhau.
Song về tổng thể, chúng là những bộ phân khách quan của nền kinh tế, có khả
năng đáp ứng những đòi hỏi đa dạng và năng động của nền kinh tế thị trờng.
III. Mâu thuẫn biện chứng trong quá trình xây dựng nền kinh
tế thị trờng theo định hớng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.
6
Tiêu luận triết học
1. Thực chất của nền kinh tế thị trờng ở Việt Nam.
1.1. Khái niệm kinh tế thị trờng.
Kinh tế thị trờng là một kiểu quan hệ kinh tế xã hội mà trong đó, sản
xuất xã hội gắn chặt với thị trờng, tức là gắn chặt chẽ với quan hệ hàng hoá -
tiền tệ, với quan hệ cung cầu Trong nền kinh tế thị trờng nét biểu hiện có tính
chất bề mặt của đời sống xã hội là quan hệ hàng hoá. Mọi hoạt động xã hội
đều phải tính đến quan hệ hàng hoá, hay ít nhất thì cũng phải sử dụng các quan
hệ hàng hoá nh mắt khâu trung gian.
1.2. Kinh tế thị trờng định hớng XHCN ở nớc ta.
Thành tựu của 10 năm đổi mới vừa qua ở nớc ta đã có tác dụng làm cho
nớc ta quen dần với các quan hệ hàng hoá. Hàm lợng kiểm toán trong các hoạt
động xã hội ngày càng đợc chú ý. Những kế hoạch những hoạt động xã hội bất
chấp kinh tế hoặc phi kinh tế đã giảm đáng kể. Bớc chuyển sang kinh tế thị tr-
ờng này đơng nhiên khong tranh khỏi những mặt tiêu cực của nó, nhng dẫu sao
nó cũng nói lên sức sống và khả năng tác động của những quan hệ thị trờng ở
Việt Nam, dù nền kinh tế thị trờng mới chỉ đang hình thành, còn đang trong
những bớc chập chững ban đầu và đợc điều tiết một cách có ý thức theo định
hớng XHCN, song cũng tác động khá rõ đến mọi mặt của đời sống xã hội và
để lại đó những dấu ấn của mình Nếu nh trớc đây, nền kinh tế nớc ta chỉ có
một kiểu sở hữu thuần nhất với hai thành phần kinh tế tập thể và quốc doanh,
thì hiện nay cùng với thành phần sở hữu chủ đạo là sở hữu nhà nớc thì còn tồn
tại nhiều thành phần sở hữu khác, về tổng thể, chúng ta là những bộ phận
khách quan của nền kinh tế, có khả năng đáp ứng những đòi hỏi đa dạng và
năng động của kinh tế thị trờng.
Trong nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần ở nớc ta, thị trờng vừa là
căn cứ, vừa là đối tợng của công tác kế hoạch hoá. Việc điều tiết vĩ mô đối với
thị trờng , một mặt là nền kinh tế nớc ta thực sự trở thành một thị trờng thống
nhất - thống nhất trong cả nớc và thống nhất với thị trờng thế giới, mặt khác
7
Tiêu luận triết học
còn có tác dụng làm cho mỗi đơn vị kinh tế buộc phải tự khẳng định mình - vai
trò của mình trong thị trờng.
2. Những mâu thuẫn phát sinh trong quá trình xây dựng nền kinh tế thị
trờng theo định hớng xã hội chủ nghĩa ở nớc ta.
Theo các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin thì kinh tế quyết
định chính trị: chính trị là sự biểu hiện tập trung của kinh tế . Trong lịch sử
phát triển xã hội loài ngời không phải báo về cũng có vấn đề chính trị - xã hội
nguyên thuỷ cha có giai cấp, cha có vấn đề chính trị. Từ khi xã hội xuất hiện
giai cấp và Nhà nớc thì vấn đề chính trị mới hình thành. Vấn đề chính trị là vấn
đề thuộc quan hệ giai cấp và đấu tranh giai cấp. Trung tâm của vấn đề chính trị
là vấn đề đấu tranh giữa các giai cấp, các lực lợng xã hội nhằm giành và giữ
chính quyền nhà nớc và sử dụng chính quyền đó làm công cụ để xây dựng và
bảo vệ chế độ xã hội phù hợp với lợi ích của giai cấp cầm quyền.
Thực tiễn cho thấy ổn định chính trị là điều kiện hết sức cơ bản để phát
triển kinh tế. Nó tạo ra môi trờng để thu hút nguồn đầu t trong nớc và thế giới,
tạo điều kiện phát triển sản xuất kinh doanh. Những thành tựu đó không thể
tách rời việc chúng ta giữ đợc ổn định về chính trị.
ổn đinh chính trị lại không thể tách rời đổi mới về chính trị. Nhng đổi
mới chính trị không phải là đổi mới vô nguyên tắc, mà đổi mới ổn định về
chính trị, giữ vững và tăng cờng vai trò lãnh đạo của Đảng, vai trò tổ chức quản
lý của Nhà nớc XHCN. Đổi mới chính trị phải gắn liền với đổi mới về kinh tế,
phù hợp với yêu cầu phát triển của kinh tế thì mới có thể tăng cờng vai trò lãnh
đạo của Đảng và vai trò tổ chức quản lý của Nhà nớc XHCN, và nhờ đó mới
giữ vững ổn định về chính trị.
* Mâu thuẫn giữa lực lợng sản xuất và quan hệ sản xuất:
Trong công cuộc xây dựng và phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều
thành phần, vận hành theo cơ chế thị trờng có sự quản lý của Nhà nớc, thoe
định hớng XHCN ở nớc ta hiện nay, vấn đề lực lợng sản xuất - quan hệ sản
8
Tiêu luận triết học
xuất là một vấn đề hết sức phức tạp, mâu thuẫn giữa hai lực lợng này và những
biểu hiện của nó xét trên phơng tiện học Mác -Lênin, theo đó lực lợng sản xuất
là nội dung của sự vật còn quan hệ sản xuất là ý thức của sự vật, lực lợng sản
xuất là yếu tố quyết định quan hệ sản xuất, lực lợng sản xuất là yếu tố động,
luôn luôn thay đổi. Khi lực lợng sản xuất phát triển đến một trình độ nhất định
thì quan hệ sản xuất sẽ không còn phù hợp nữa và trở thành yếu tố kìm hãm
lực lợng sản xuất phát triển. Để mở đờng cho lực lợng sản xuất phát triển, cần
thay thế quan hệ sản xuất cũ bằng một quan hệ sản xuất mới phù hợp với tính
chất và trình độ phát triển của lực lợng sản xuất.
Quá trình mâu thuẫn giữa lực lợng sản xuất tiên tiến với quan hệ sản
xuất lạc hậu kìm hãm nó diễn ra gay gắt, quyết liệt và cần đợc giải quyết. Nh-
ng giải quyết nó bằng cách nào? đó chính là các cuộc cách mạng xã hội,
chuyển đổi nền kinh tế mà cuộc chuyển đổi nền kinh tế ở nớc ta là một ví dụ.
Khi một mục tiêu, một nhiệm vụ cực kỳ quan trọng, thể hiện tính chất cách
mạng của công cuộc đổi mới hiện nay ở Việt Nam là phấn đấu xây dựng nớc
ta trở thành quốc gia công nghiệp hoá, hiện đại hoá, dân giàu, nớc mạnh, xã
hội công bằng văn minh.
+) Mâu thuẫn giữa các hình thái sở hữu trớc đây và trong kinh tế thị
trờng:
Tớc đây ngời ta quan niệm những hình thức sở hữu trong chủ nghĩa xã
hội là: sở hữu XHCN tồn tại dới hình thức sở hữu toàn dân và sở hữu tập thể.
Sự tồn tại hai hình thức sở hữu đó là tất yếu khách quan bởi những điều kiện
lịch sử khi tiến hành cách mạng CNXH và XDCNXH quyết định. Sau khi
giành đợc chính quyền giai cấp công nhân đứng trớc hai hình thức sở hữu t
nhân khác nhau. Sở hữu t nhân t t bản chủ nghĩa và sở hữu t nhân những ngời
sản xuất hàng hóa nhỏ. Thực tế đòi hỏi giai cấp công nhân và phát triển giải
quyết khác nhau. Đối với hình thức sở hữu t nhân t bản chủ nghĩa bằng cách t-
9
Tiêu luận triết học
ớc đoạt hoặc chuộc lại đêt chuyển thẳng lên sở hữu toàn dân, còn đối với hình
thức t nhân của những ngời sản xuất hàng hóa nhỏ thì không thể dùng những
biện pháp nh trên, mà phải kiên trì giáo dục, thuyết phục tổ chức họ trên cơ sở
tự nguyện chuyển lên sở hữu tập thể bằng con đờng hợp tác hoá hai hình thức.
Sở hữu đó là hai con đờng đặc thù tiến lên CNCS của giai cấp công nhân và
nông dân tập thể.
Các hình thức sở hữu trớc đây và trong thời kỳ quá độ chuyển sang kinh
tế thị trờng ở Việt Nam.
Hơn mời năm đổi mới đất nớc theo định hớng XHCN ở nớc ta đã chứng
minh tính đúng đắn của đờng lối đổi mới, của chính sách đa dạng hoá các hình
thức sở hữu do Đảng ta khởi xớng và lãnh đạo toàn dân thực hiện. Thực tiễn đã
cho thấy một nền kinh tế nhiều thành phần đơng nhiên phải bao gồm nhiều
hình thức sở hũ, chứ không phải chỉ có sở hữu toàn dân và sở hữu tập thể nh
quan niệm trớc đây
Trong giai đoạn hiện nay nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo
định hớng XHCN mà chúng ta đang xây dựng bao gồm nhiều hình thức sở hữu
nh sở hữu toàn dân, sở hữu Nhà nớc, sở hữu tập thể, sở hữu cá thể và sở hữu
hỗn hợp. Trong các hình thức sở hữu này khái quát lại chỉ có hai hình thức sở
hữu cơ bản là công hữu và t hữu,còn các hình thức khác chỉ là hình thức trung
gian, quá độ hoặc hỗn hợp. ở đây, mỗi hình thức lại có nhiều phơng thức biểu
hiện về trình độ thể hiện khác nhau, chúng đợc hình thành trên cơ sở có cùng
bản chất kinh tế và tuỳ theo trình độ phát triển của lực lợng sản xuất và năng
lực quản lý.
Về sở hữu toàn dân: trớc đây ngời ta quan niệm sở hữu toàn dân trùng
với sở hữu Nhà Nớc.
Nền kinh tế cơ cấu nhiều thành phần thì đơng nhiên là nó bao gồm
nhiều hình thức sở hữu, trong đó kinh tế quốc doanh giữ vị trí then chốt, liên
kết và hỗ chợ các thành phần kinh tế phát triển theo hớng có lợi cho quốc kế
10
Tiêu luận triết học
dân sinh. Nhà nớc quản lý kinh tế với t cách là cơ quan có quyền lực đại diện
cho lợi ích của nhân dân và là đại diện đối với tài sản sở hữu của toàn dân.
ở nớc ta hiện nay, nh hiến pháp và luật đất đai đã quy định rõ: Đất đai
thuộc sở hữu toàn dân. xét về mặt kinh tế đất đai là phơng tiện tồn tại cơ bản
của cả một công đồng xã hội. Xét về mặt xã hội đất đai là lãnh thổ nơi cơ trú
của cả một cộng đồng. Thế nhng khi xét trên cả hai phơng diện có thể nói rằng
đất đai không thể là đối tợng sở hữu của riêng ai. Tuy nhiên, suy cho cùng, đất
cũng là t liệu sản xuất, hay nói chính sác hơn, đó là một bộ phận quan trọng
của t liệu sản xuất. Bởi thế, dù là đặc biệt thì trong nền kinh tế hàng hóa, nó
vẫn phải vận động theo quy luật của thị trờng và chịu sự điều tiết của quy luật
đó. Việc đất đai thuộc sở hữu toàn dân mà nhà nớc là ngời đại diện sở hữu và
quản lý không mâu thuẫn với việc trao quyền cho các hộ nông dân, kể cả
quyền chuyển nhợng, quyền sử dụng đất đai nếu biết giải quyết cụ thể các vấn
đề sở hữu, biết tách quyền sở hữu với quyền sử dụng. Chẳng hạn nh ruộng đất
vẫn thuộc quyền sở hữu toàn dân song ngời nông dân có quyền sử dụng ổn
định lâu dài thì có thể đem lại một sức bật cho sự phát triển vủa lực lợng sản
xuất và sự tăng trởng của nền kinh tế nói chung. Văn kiện đại hội VII của
Đảng ta đã chỉ rõ trên cơ sở chế độ sở hữu toàn dân về đất đai, ruộng đất đợc
giao cho ngời nông dân sử dụng lâu dài. Nhà nớc quy định bằng luật pháp các
vấn đề về thừa kế, chuyển quyền sử dụng đất (Đảng cộng sản Việt Nam
văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII Nhà suất bản sự thật Hà
nội năm 1991). Nh vậy hình thức sở hữu toàn dân ở nớc ta hiện nay đã đợc xác
định theo nội dung mới, có nhiều khả năng để thực sự trở thành nguồn lực phát
triển kinh tế.
11
Tiêu luận triết học
Về sở hữu nhà nớc.
Trong thời kỳ bao cấp trớc đây không chỉ có nớc ta mà còn những nớc
khác trong hệ thống các nớc XHCN thờng đồng nhất sở hữu nhà nớc với sở
hữu toàn dân. Do nhầm lẫn nh vậy mà trong một thời gian khá lâu, ngời ta th-
ờng bỏ quyên hình thức sở hữu nhà nớc chỉ quan tâm đặc biệt đến sở hữu toàn
dân với chế độ công hữu tồn tại dới hai hình thức sở hữu toàn dân và tập thể.
Và cũng bởi sở hữu toàn dân gắn kết với sự phát triển của khu vực kinh tế quốc
doanh mà chúng ta ra sức quốc doanh hó nền kinh tế với niềm tin cho rằng chỉ
nh vậy mới có CNXH nhiều hơn. Thực ra, với quan niệm đó, sở hữu toàn dân
đã trở thành sở hữu không phải là một chủ thêt cụ thể nào cả.
Trong xã hội mà Nhà nớc còn tồn tại thì sở hữu của toàn dân cha có điều
kiện vận động trên bề mặt của đời sống kinh tế nói chung. Hình thức sở hữu
nhà nớc xét về tổng thể, mới chỉ là kết cấu bên ngoài của sở hũ. Còn kết cấu
bên trong của sở hữu nhà nớc ở nớc ta có lẽ là chủ yếu ở quyền sở hữu đó ở
khu vực kinh tế quốc doanh, khu vực các doanh nghiệp Nhà nớc.
Về sở hữu tập thể:
ở nớc ta trớc đây có sở hữu tập thể chủ yếu tồn tại dới hình thức HTX
(gồm cả HTX nông nghiệp và tiểu thủ công nghiệp) với nội dung là cả giá trị
và giá trị sử dụng đều là của chung mà các xã viên là chủ sở hữu chính. Vì vậy
với hình thức sở hữu này, quyền mua bán hoặc chuyển nhợng t liệu sản xuất,
trong thực tế sản xuất và lu thông hàng hoa ở nớc ta riễn ra hết sức phức tạp.
Quyền của các tập thể sản xuất thờng rất hạn chế, song đôi khi lại có tình trạng
lam quyền. Sự không xác định, sự nhập nhằng với quyền sở hữu nhà nớc và sở
hữu t nhân trá hình cũng là hiện tợng phổ biến. Để thoát khỏi tình trạng đó,
trong bối cảnh của nền kinh tế thị trờng hiện nay cần phải xác định rõ quyền
mua bán và chuyển nhợng t liệu sản xuất đối với các tập thể sản xuất kinh
doanh. Chỉ có nh vậy thì sở hữu tập thể mới có thể hình thành hình thức sở hữu
có hiệu quả.
12
Tiêu luận triết học
Chúng ta đã biết, HTX không phải là hình thức riêng có, đặc trng cho
CNXH, nhng nó là một hình thức sở hữu kinh tế tiến bộ trong thời kỳ quá độ đi
lê CNXH. Vì vậy chúng ta duy trì và phát triển hơn nữa hình thức sở hữu này
khi xây dựng CNXH nh V.I lê nin đã khẳng định chế độ của ngời xã viên hợp
tác xã văn minh là chế độ xã hội chủ nghĩa.
HTX là nhu cầu thiết thực của nền kinh tế hộ gia đình, của nền sản xuất
hàng hóa. Khi lực lợng sản xuất trong nông nghiệp và công nghiệp nhỏ phát
triển tới một trình độ nhất định, nó sẽ thúc đẩy quá trình hợp tác. trong điều
kiện của nền kinh tế hàng hóa, các nhu cầu về vốn, cung ứng vật t, tiêu thụ sản
phẩm đòi hỏi các hộ sản xuất phải hợp tác với nhau mới có khả năng cạnh
tranh và phát triển. Chính nhu câù đó đã liên kết những ngời lao động lại với
nhau làm nảy sinh qua hệ sở hữu tập thể, thực tiễn cho thấy, ở nớc ta hiện nay
đã có những hình thức HTX kiểu mới ro nhu câù tồn tại và phát triển của cơ
chế thị trờng HTX đã đợc tổ chức trên cơ sở đóng góp cổ phần và sự tham gia
lao động trực tiếp của xã viên, phân phối theo kết quả lao động và theo cổ
phần, mỗi xã viên có quyền nh nhau đối với công việc chung. (Đảng cộng sản
Việt Nam, văn kiện Đại Hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VIII Nhà xuất bản
chính trị quốc gia Hà nội 1996). điều này cho thấy kết cấu bên trong của sở
hữu tập thể đã thay đổi phù hợp với tình hình thực tiễn ở đất nớc ta hiện nay.
+) Mâu thuẫn giữa kinh tế thị trờng và mục tiêu xây dựng con ngời
XHCN.
Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng muốn xây dựng CNXH trớc hết phải có
con ngời XHCN. Yếu tố con ngời giữ vai trò cực kỳ quan trọng trong sự
nghiệp cách mạng, bởi vì con ngời là một chủ thể của mọi sáng tạo, của mọi
nhuồn của cải vật chất và văn hoá. Con ngời phát triển cao trí tuệ, cờng tráng
về thể chất , phong phú về tinh thần, trong sáng về đạo đức, là động lực của sự
nghiệp xây dựng xã hội mới, là mục tiêu của CNXH. Chúng ta phải bắt đầu từ
con ngời làm điểm xuất phát.
13
Tiêu luận triết học
Kinh tế thị trờng là một loại hình kinh tế mà trong đó các mối quan hệ
kinh tế giữa con ngời với con ngời đợc biểu hiện thông qua thị trờng, tức là
thông qua việc mua bán, trao đổi hàng hóa tiền tệ trên thị trờng, trong kinh tế
thị trờng, các quan hệ hàng hóa tiền tệ phát triển, mở rộng, bao quát trên mọi
lĩnh vực, có ý nghĩa phổ biến đối với ngời sản xuất và ngời tiêu dùng. Do nẩy
sinh và hoạt động khách quan trong điều kiện lịch sử nhất định kinh tế thị tr-
ờng phản ánh đầy đủ trình độ văn minh và phát triển xã hội là nhân tố phát
triển sức sản xuất, trởng kinh tế, thúc đẩy xã hội tiến lên. Tuy nhiên, kinh tế thị
trờng, cũng có những khuyết tật nh sự cạnh tranh lạnh lùng, tính tự phát mù
quáng dẫn đến sự phá sản, thất nghịêp, khủng hoảng chu kỳ.
Xuất phát từ sự phân tích trên đây, chúng ta đã thấy rằng đổi mới ở nớc
ta hiện nay, không thể xây dựng và phát triển con ngời nếu thiếu yếu tố kinh tế
thị trờng. Do hậu quả của nhiều chiến tranh, của nền kinh tế kém phát triển,
của cơ chế tập chung quan liêu bao cấp Nền kinh tế n ớc ta đã bị tụt hậu
nghiêm trọng so với khu vực và quốc tế. Trong bối cảnh đó, kinh tế thị trờng là
điều kiện rất quan trọng đa nền kinh tế nớc ta ra khỏi khủng hoảng và phát
triển, phục hồi sản xuất, đẩy mạnh tốc độ tăng trởng, bắt kịp bớc tiến của thời
đại. Trên cơ sở đó, đời sống của nhân dân ngày càng đợc cải thiện và nâng cao,
những nhu cầu sinh hoạt về vật chất về cơ bản ngày càng đợc đáp ứng một
cách đầy đủ và nhanh chóng, con ngời không thể có cơ thể khoẻ mạnh nếu
thiếu ăn, thiếu mặc, thiếu các điều kiện y tế hiện đại để chăm sóc giữ gìn sức
khoẻ. Con ngời không thể có trí tuệ minh mẫn, phát triển nếu các điều kiện vật
chất tiến hành các điều kiện họat động học tập. Việc xây dựng, củng cố, hoàn
thiện cơ chế thị trờng có sự quản lý của nhà nớc theo đinh hớng XHCN cũng
đồng nghĩa với việc tạo ra các điều kiện vật chất cơ bản để thực hiện chiến lợc
xây dựng và phát triển con ngời cho thế kỷ XXI.
Đây là những kết quả đáng mừng, đáng đợc phát huy. Nó thể hiện sự
phát hiện và vận dụng đúng đắn các quy luật khách quan của xã hội, quá trình
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét