Thứ Tư, 26 tháng 2, 2014

Con người đi lên Chủ nghĩa xã hội của nước ta

Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
nửa phong kiến với trình độ phát triển của lực lợng sản xuất xã hội rất thấp. Đất n-
ớc lại trải qua hàng chục năm chiến tranh hậu quả để lại còn nặng nề. Những tàn
d thực dân, phong kiến còn nhiều, lại chịu ảnh hởng nặng nề của cơ chế tập chung
quan liêu bao cấp.
Với những đặc điểm xuất phát nh trên, có thể nhận xét rằng: nền kinh tế nớc ta
không còn hoàn toàn là nền kinh tế tự nhiên tự cung tự cấp, nhng cũng cha phải là
kinh tế hàng hoá theo nghĩa đầy đủ. Mặt khác do có sự đổi mới về mặt kinh tế cho
nên nền kinh tế nớc ta cũng không còn là nền kinh tế chỉ huy. Có thể nói thực
trạng kinh tế nớc ta khi chuyển sang kinh tế thị trờng là nền kinh tế hàng hoá kém
phát triển còn mang nặng tính tự cấp tự túc và chịu ảnh hởng nặng nề của cơ chế
tập chung quan liêu bao cấp.
Để phát triển nền kinh tế thì nền kinh tế nớc ta phải đợc chuyển sang nền kinh
tế thị trờng theo định hớng xã hội chủ nghĩa. Tuy nhiên với tất cả tính phức tạp và
các mặt tiêu cực xảy ra trên thị trờng, việc chuyển sang nền kinh tế thị trờng vẫn
cha tới bớc tiến bộ về mặt kinh tế hơn hẳn trớc đây mà nhiệm đặt ra hiện nay là n-
ớc ta cần xây dựng một nền kinh tế thị trờng hiện đại với tính chất xã hội hiện đại.
Mặc dù nền kinh tế nớc ta đang nằm trong tình trạng lạc hậu và kém phát triển nh-
ng khi nớc ta chuyển sang phát triển nền kinh tế hàng hoá, kinh tế thị trờng, thì thế
giới đã chuyển sang giai đoạn kinh tế thị trờng hiện đại. Bởi vậy, chúng ta không
thể và không nhất thiết phải trải qua giai đoạn kinh tế thị trờng tự do, mà đi thẳng
vào phát triển kinh tế thị trờng hịên đại. Đây là nội dung và yêu cầu của sự phát
triển rút ngắn. Mặt khác, thế giới vẫn đang nằm trong thời đại quá độ từ chủ nghĩa
t bản lên chủ nghĩa xã hội, cho nên sự phát triển kinh tế xã hội phải theo định h-
ớng xã hội chủ nghĩa là cần thiết, khách quan và cũng là nộ dung, yêu cầu của sự
phát triển rút ngắn. Sự nghiệp dân giàu, nớc mạnh, xã hội công bằng và văn
minh vừa là mục tiêu, vừa là nội dung, nhiệm vụ của việc phát triển kinh tế thị tr-
ờng định hớng xã hội chủ nghĩa ở nớc ta.
Chúng ta đang phấn đấu xây dựng một nền kinh tế thị trờng định hớng xã hội
chủ nghĩa đạt trình độ kinh tế thị trờng phát triển với đặc trng:
Hệ thống thị trờng đợc phát triển đầy đủ: thị trờng hàng hoá, thị trờng công
nghệ, các dịch vụ thông tin, t vấn, tiếp thị, pháp lý, tài chính, ngân hàng, kiểm
toán, bảo hiểm, bảo lãnh, thị trờng sức lao động, thị trờng khoa học, kỹ thuật, công
nghệ, thị trờng bất động sản, thị trờng vốn, thị trờng chứng khoán Tất cả các loại
thị trờng đó liên kết chặt chẽ với nhau tạo thành một chỉnh thể hữu cơ. Hệ thống
thị trờng này trở thành đầu mối mọi tác động qua lại của hoạt động kinh tế xã hội.
Mỗi thực thể kinh tế có lợi ích riêng và là chủ thể của thị trờng, tham gia hoạt
động của thị trờng và cạnh tranh với nhau.
Việc vận hành kinh tế xã hội đợc thực hiện trong sự kết hợp giữa đờng lối, chủ
trơng, chính sách, kế hoạch với việc sử dụng các loại tín hiệu kinh tế mà thị trờng
cung cấp, việc lu trữ tài nguyên đợc điều tiết bởi thông tin thị trờng và kế hoạch
cân đối sản xuất.
Dựa trên quy luật thống nhất mà hình thành một trật tự thị trờng, sản xuất xã
hội, lu thông, hình thành mạng lới sản xuất xã hội có trật tự của kinh tế thị trờng,
chính phủ thực hiện việc điều chỉnh và khống chế vĩ mô cần thiết, hữu hiệu, vận
dụng chính sách kinh tế, pháp luật kinh tế, chỉ đạo kế hoạch và phơng pháp hành
chính cần thiết để hớng dẫn sự phát triển của kinh tế thị trờng.
5
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
Đã là kinh tế thị trờng thì có cơ chế vận hàng vốn có của nó-cơ chế thị trờng.
Cơ chế thị trờng chín là bộ máy kinh tế điều tiết toàn bộ sự vận động của kinh tế
thị trờng, điều tiết quá trình sản xuất và lu thông hàng hoá thông qua sự tác động
của các quy luật kinh tế trên thị trờng đặc biệt là quy luật giá trị-quy luật kinh tế
căn bản của sản xuất và lu thông hàng hoá.
Sự tồn tại và phát triển của cơ chế thị trờng là yêu cầu khách quan đối với
những xã hội còn tồn tại nền kinh tế hàng hoá. Coi nhẹ hay bỏ qua vai trò của kinh
tế thị trờng là một trong những nguyên nhân thất bại trên lĩnh vực kinh tế.
Trong lịch sử cơ chế thị trờng có đợc không gian rộng lớn ở giai đoạn cạnh
tranh tự do t bản chủ nghĩa. Vì vậy tác đông của cơ chế thị trờng đợc phát hiện khá
sớm. Cơ chế thị trờng đợc coi là bàn tay vô hình điều tiết sự vận động của nền
kinh tế hàng hoá.
2.1.2- Tính định hớng xã hội chủ nghĩa trong nền kinh tế thị trờng.
Trong thời đại ngày nay, mọi nền kinh tế thị trờng đều có sự quản lý của nhà
nớc. Cho nên tính đặc thù của nền kinh tế mà chúng ta đang xây dựng so với các
nền kinh tế thị trờng đang có ở các nớc t bản chủ nghĩa không phải ở chỗ có hay
không có sự quản lý của nhà nớc mà là ở tính định hớng xã hội chủ nghĩa của nó.
Kinh tế thị trờng ở Việt Nam sẽ đợc phát triển theo định hớng xã hội chủ
nghĩa. Đó là sự định hớng của một xã hội mà sự hùng mạnh của nó nhờ vào sự
giàu có và hạnh phúc của dân c xã hội không còn chế độ ngời bóc lột ngời, dựa
trên cơ sở nhân dân lao động làm chủ, con ngời đợc giải phóng khỏi áp bức, bóc
lột, bất công, làm theo năng lực, hởng theo lao động, có cuộc sống ấm no, tự do,
hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện cá nhân. Xã hội có nền kinh tế phát
triển cao trên cơ sở khoa học, công nghệ và lực lợng sản xuất hiện đại.
Định hớng xã hội chủ nghĩa nêu trên không chỉ phản ánh nguyện vọng và lí t-
ởng của Đảng ta, nhà nớc và nhân dân ta, mà còn là xu thế phát triển khách quan
của thời đại cũng nh quy luật tiến hoá của lịch sử.
Hiện nay tình hình thế giới đã và đang biến đổi phức tạp.Trong nhiều thập kỷ
vừa qua, các nớc t bản chủ nghĩa lợi dụng đợc những thành tựu của khoa học công
nghệ, tranh thủ và mở rộng phát triển nền kinh tế của mình.Họ đã ra sức điều
chỉnh để thích nghi, nên đã đa lại sự tăng trởng kinh tế cao và có sự cải thiện nhất
định về mặt xã hội. Song điều đó cũng cho thấy những tiền đề về kinh tế và xã hội
cho một xã hội tơng lai đợc chuẩn bị ngay trong lòng chủ nghĩa t bản.
Lịch sử phát triển của chủ nghĩa t bản đã cho thấy khi hình thành những yếu tố
khẳng định quan hệ sản xuất t bản chủ nghĩa thì cũng đồng thời xuất hiện những
yếu tố tự phủ định nó. Sự tác động của những yếu tố này không có tính nhất thời
mà là cả một quá trình. Chủ nghĩa t bản không phải là cả một hình thái kinh tế xã
hội vĩnh viễn. Theo quy luật tiến hoá và lý luận về hình thái kinh tế xã hội của
Mác thì sớm hay muộn chủ nghĩa t bản cũng phải nhờng chỗ cho một xã hội văn
minh hơn đó là chủ nghĩa hội. Đúng nh văn kiện Đại hội Đảng lần thứ VII, Đảng
cộng sản Việt Nam đã khẳng định: Lịch sử thế giới đang trải qua những bớc
quanh co song loài ngời cuối cùng nhất định sẽ tiến tới chủ nghĩa hội. Đó là quy
luật tiến hoá của lịch sử.
6
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
Định hớng xã hội chủ nghĩa của nền kinh tế thị trờng ở nớc ta là cần thiết và
có tính khách quan. Xây dựng nền kinh tế thị trờng không có gì mâu thuẫn với
định hớng xã hội chủ nghĩa. Đại hội lần thứ VIII của Đảng ta đã khẳng định: cơ
chế thị trờng đã phát huy tác dụng tích cực to lớn đên sự phát triển kinh tế xã hội.
Nó chẳng những không đối dập mà còn là một nhân tố khách quan cần thiết của
việc xây dựng và phát triển đất nớc theo con đờng xã hội chủ nghĩa.
2.2- Nội dung giữ vững định hớng xã hội chủ nghĩa.
2.2.1- Thực hiện nhất quán, lâu lài chính sách phát triển nền kinh tế hàng
hoá nhiều thành phần.
Tìm mọi biện pháp để khuyến khích phát triển các thành phần kinh tế và hình
thức tổ chức kinh doanh. Các thành phần kinh tế tiến hành sản xuất hàng hoá tuy
có bản chất kinh tế khác nhau, nhng chúng đều là những bộ phận của một cơ cấu
kinh tế quốc dân thống nhất với các quan hệ cung-cầu, tiền tệ, giá cả chung. Bởi
vậy, chúng vừa hợp tác, vừa cạnh tranh với nhau. Mỗi đơn vị kinh tế là một chủ
thể độc lập, tự chủ và tất cả đều bình đẳng trớc pháp luật.
Tuy nhiên, cần nhận thức rõ rằng mỗi thành phần kinh tế chịu sự tác động của
các quy luật kinh tế riêng. Chính sự tác động của các quy luật kinh tế khác nhau
này mà bên cạnh tính thống nhất của các thành phần kinh tế còn có những khác
nhau và mâu thuẫn khiến cho nền sản xuất hàng hoá ở nớc ta có khả năng phát
triển theo những phơng hớng khác nhau. Vì vậy cùng với sự khuyến khích làm
giàu chính đáng của các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế này, nhà nớc
ta phải sử dụng nhiều biện pháp để ngăn chặn và hạn chế những khuynh hớng tự
phát, những hiên tợng tiêu cực, hớng sự phát triển của các thành phần kinh tế này
theo định hớng xã hội chủ nghĩa.
2.2.2- Chủ động đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả kinh tế nhà nớc,
kinh tế hợp tác trong đó kinh tế nhà nớc đóng vai trò chủ đạo.
Tính chất nhiều thành phần kinh tế là nét đặc trng có tính quy luật của nền
kinh tế quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nớc ta. Mỗi thành phần kinh tế có bản chất
và những quy luật kinh tế hoạt động riêng, da trên một hình thức sở hữu nhất định
về lực lợng sản xuất, và có khả năng tái sản xuất một cách tơng đối độc lập lực l-
ợng sản xuất và quan hệ sản xuất tơng ứng. Tuy nhiên, các thành phần kinh tế
không tồn tại một cách biệt lập, mà có mối liên hệ và tác động qua lại, đan xen.
Để đảm bảo nền kinh tế phát triển theo định hớng xã hội chủ nghĩa, trong quá
trình vận động vừa hợp tác vừa cạnh tranh với các thành phần kinh tế khác, thành
phần kinh tế nhà nớc phải tự vơn lên, làm sao để cùng nới kinh tế hợp tác dần dần
trở thành nền tảng cho chế độ xã hội mới, xã hội xã hội chủ nghĩa.
Kinh tế nhà nớc cần và có thể giữ vai trò chủ đạo vì những lý do sau:
Thứ nhất, kinh tế nhà nớc dựa trên chế độ sở hữu công cộng về t liệu sản xuất,
là chế độ sở hữu phù hợp với xu hớng xã hội hoá của lực lợng sản xuất.
7
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
Thứ hai, kinh tế nhà nớc nắm giữ những vị trí then chốt, yết hầu, xơng sống
của nền kinh tế, do đó nó có khả năng, có điều kiện chi phối hoạt động của các
thành phần kinh tế khác, bảo đảm cho nền kinh tế phát triển theo hớng đã định.
Thứ ba, kinh tế nhà nớc là lực lợng bảo đảm cho sự phát triển ổn định của nền
kinh tế, là lực lợng có khả năng can thiệp điều tiết, hớng dẫn giúp đỡ và liên kết,
tao điều kiện cho các thành phần kinh tế cùng phát triển.
Thứ t, kinh tế nhà nớc có thể tác động tới các thành phần kinh tế khác không
chỉ bằng các công cụ và đòn bẩy kinh tế, mà còn bằng con đờng gián tiếp, thông
qua những thiết chế và hoạt động của kiến trúc thợng tầng xã hội chủ nghĩa.
Thứ năm, kinh tế nhà nớc dẫn đầu trong việc ứng dụng khoa học- công nghệ
hiện đại, tiên tiến, do đó nó có nhịp độ phát triển nhanh, đóng góp phần lớn cho
ngân sách nhà nớc, và tự tích tụ để có thể không ngừng tái sản xuất và mở rộng.
Thứ sáu, kinh tế nhà nớc là lực lợng nòng cốt hình thành các trung tâm kinh tế,
đô thị mới, là lực lợng có khả năng đầu t vì đòi hỏi vốn quá nhiều mà thời gian thu
hồi vốn lại chậm
2.2.3- Xác lập, củng cố và nâng cao địa vị làm chủ của ngời lao đông trong
nền sản xuất xã hội, thực hiện công bằng xã hội ngày một tốt hơn.
Đảng và nhà nớc phải có thiết chế tạo điều kiện cho mọi ngời dân, mọi thành
phần kinh tế chủ động tham gia phát triển kinh tế, làm giàu cho mình và góp phần
làm giàu cho đất nớc, phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, thực hiện tốt chủ trơng
dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra trong lĩnh vwc kinh tế xã hội.
Khẩn trơng xây dựng và ban hành quy chế bảo đảm quyền làm chủ của nhân
dân ở từng loại hình cơ sở. Phát huy quyền dân chủ đại diện và dân chủ trực tiếp
của nhân dân trong việc bàn, quyết định và giám sát việc thực hiện những chủ tr-
ơng kinh tế, xã hội trực tiếp liên quan đến lợi ích của dân trong việc xử lý theo
đúng pháp luật những việc làm sai,những cán bộ vi phạm. Đồng thời, đề cao kỷ
luật, kỷ cơng của nhà nớc.
Các đoàn thể nhân dân cần đổi mới tổ chức và hoạt động của mình hớng vào
việc phát huy quyền làm chủ của nhân dân trong lĩnh vực kinh tế xã hội, thiết thực
giúp dân phát triển sản xuất, kinh doanh, xoá đói, giảm nghèo, nâng cao dân trí,
tiến lên làm giàu góp phần tích cực vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nớc.
2.2.4- Trong nền kinh tế thị trờng định hớng xã hội chủ nghĩa, thực hiện
nhiều hình thức phân phối thu nhập:
phân phối theo kết quả lao động và hiệu quả kinh tế, phân phối dựa trên mức
đóng góp các nguồn lực vào sản xuất kinh doanh và phân phối thông qua các quỹ
phúc lợi xã hội, trong đó phân phối theo kết quả lao động giữ vai trò nòng cốt, đi
đôi với chính sách điều tiết thu nhập một cách hợp lý. Chúng ta không coi bất bình
đẳng xã hội nh là một trật tự tự nhiên, là điều kiện của sự tăng trởng kinh tế, mà
thực hiên mỗi bớc tăng trởng kinh tế gắn liền với cải thiện đời sống nhân dân, với
tiến bộ và công bằng xã hội.
Nh đã biết, mỗi chế độ xã hội có một chế độ phân phối tơng ứng với nó. Chế
độ phân phối do quan hệ sản xuất thống trị, trớc hết là quan hệ sở hữu quyết định.
8
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
Phân phối có liên quan đến chế độ xã hội, đến chính trị. Dới chủ nghĩa t bản, phân
phối theo nguyên tắc giá trị: đối với ngời lai đông theo giá trị sức lao động, còn
đối với nhà t bản theo giá trị của t bản. Nh vậy, thu nhập của ngời lao động chỉ
giới hạn ở giá trị sức lao động mà thôi. Chủ nghĩa xã hội có đặc trng riêng về sở
hữu, do đó chế độ phân phối cũng có đặc trng riêng, phân phối theo lao động là
đặc trng của chủ nghĩa xã hội.Thu nhập của ngời lao động không phải chỉ giới hạn
ở giá trị sức lao động mà nó phải vợt qua đại lợng đó, nó phụ thuộc chủ yếu vào
kết quả lao động và hiệu quả kinh tế.
Tuy nhiên việc đo lờng trực tiếp lao động là một vấn đề quá phức tạp và khó
khăn, nhng trong nền kinh tế thị trờng, có thể thông qua thị trờng để đánh gía kết
quả lao động, sự cống hiến thực tế và dựa vào đó để phân phối.
Nền kinh tế thị trờng định hớng xã hội chủ nghĩa ở nớc ta gồm nhiều thành
phần kinh tế. Vì vậy cần thực hiện nhiều hình thức phân phối thu nhập. Chỉ có nh
vậy mới khai thác đợc khả năng của cơ cấu kinh tế nhiều thành phần, huy động đ-
ợc nguồn lực của đất nớc vào phát triển kinh tế.
2.2.5- Tăng cờng hiệu lực quản lý vĩ mô của nhà nớc.
Cơ chế vận hành nền kinh tế là cơ chế thị trờng có sự quản lý của nhà nớc theo
định hớng xã hội chủ nghĩa. Điều đó có nghĩa là nền kinh tế thị trờng định hớng
xã hội chủ nghĩa ở nớc ta cũng vận động theo những quy luật kinh tế nội tại của
kinh tế thị trờng nói chung, thị trờng có vai trò quyết định đối với việc phân phối
các nguồn lực kinh tế của thị trờng, thực hiện các mục tiêu xã hội, nhân đạo mà
bản thân thị trờng không thể làm đợc.
Nền kinh tế thị t bản chủ nghĩa đã đa đến những hậu quả nghiêm trọng về mặt
xã hội. Ngay từ năm 1848, trong Tuyên ngôn của Đảng cộng sản, Mác và Ăng-
ghen đã chỉ ra rằng: xã hội t bản không để lại giữa loài ngời và ngời một mối
quan hệ nào khác ngoài mối lợi lạnh lùng và lối trả tiền ngay không tình nghĩa.
Ngày nay chính một nhà nghiên cứu phơng Tây Ê-gat Mô-ring đã đa ra nhân xét
chua chát : Trong các nền văn minh đợc gọi là phát triển của chúng ta, tồn tại
một tình trạng kém phát triển thảm hại về văn hoá, trí não, đạo đức và tình ngời.
Vì vậy, nền kinh tế thị trờng ở nớc ta không phải là kinh tế thị trờng tự do, thả nổi
mà là nền kinh tế có định hớng mục tiêu xã hội-xã hội chủ nghĩa. Sự phát triển nền
kinh tế thị trờng đợc xem là phơng thức, con đờng thực hiện mục tiêu của chủ
nghĩa xã hội: dân giàu, nớc mạnh, xã hội công bằng văn minh.
Vai trò quản lý của nhà nớc trong nền kinh tế thị trờng hết sức quan trọng. Sự
quản lý của nhà nớc đảm bảo cho nền kinh tế tăng trởng ổn định, đạt hiệu quả, đặc
biệt là đảm bảo sự công bằng và tiến bộ xã hội. Không có ai ngoài nhà nớc lại có
thể giảm bớt đợc sự chênh lệch giữa giàu và nghèo, giữa thành thị và nông thôn,
giữa công nghiệp và nông nghiệp, giữa các vùng của đất nớc. Tuy vậy, cần nhấn
mạnh rằng sự can thiệp của nhà nớc vào kinh tế phải sao cho tơng hợp với thị tr-
ờng. Vì vậy, nhà nớc sử dụng biện pháp kinh tế là chính để điều tiết nền kinh tế.
2.2.6- Giữ vững độc lập, chủ quyền và bảo vệ lợi ích quốc gia dân tộc trong
quan hệ kinh tế với bên ngoài.
9
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
Nền kinh tế thị trờng ở nớc ta là nền kinh tế mở, hội nhập với kinh tế thế giới
và khu vực, thị trờng trong nớc gắn với thị trờng thế giới, thực hiện những thông lệ
trong quan hệ kinh tế quốc tế, nhng vẫn giữ đợc độc lập chủ quyền và bảo vệ lợi
ích quốc gia, dân tộc trong quan hệ kinh tế đối ngoại. Thực ra, đây không phải là
đặc trng riêng của nền kinh tế thị trờng định hớng, mà là xu hớng chung của nền
kinh tế trên thế giới hiện nay. Trong điều kiện hiện nay, chỉ có mở cửa kinh tế, hội
nhập vào nền kinh tế thế giới và khu vực mới thu hút đợc vốn, kỹ thuật công nghệ
hiện đại, kinh nghiệm quản lý tiên tiến để khai thác tiềm năng và thế mạnh của n-
ớc ta, thực hiện phát triển kinh tế thị trờng theo kiểu rút ngắn. Thực hiện mở cửa
kinh tế theo hớng đa phơng hoá và đa dạng hoá các hình thức kinh tế đối ngoại, h-
ớng mạnh về xuất khẩu, đồng thời thay thế nhập khẩu những sản phẩm mà trong
nớc sản xuất có hiệu quả.
3- Khả năng giữ vững định hớng xã hội chủ nghĩa trong phát
triển kinh tế ở Việt Nam.
3.1- Nền kinh tế thị trờng hiện đại, một bớc tiến nhằm khắc phục những
nhợc điểm lịch sử của nền kinh tế thị trờng.
Nền kinh tế thị trờng hiện đại có đặc điểm là vai trò của nhà nớc ngày càng đ-
ợc coi trọng đúng với vị trí của nó, là yếu tố cơ bản đảm bảo cho sự phát triển xã
hội. Tuy nhiên phải khắc phục đợc hai nhợc điểm chính của hệ thống kinh tế thị
trờng tự do là cạnh tranh vô chính phủ và bất bình đẳng về xã hội. Các nhà kinh tế
và chính phủ ở các nớc có nền kinh tế thị trờng đã nhận ra rằng đẻ khắc phục đợc
hai nhợc điểm đó cần phải có một nhà nớc mạnh-một nhà nớc thực thi dân chủ, đề
ra các nguyên tắc, luật lệ kinh tế rõ ràng và kiểm tra nghiêm chỉnh các hoạt động
kinh tế trong trật tự của nền kinh tế thị trờng. Lý thuyết tổng quát của Keynes
đã trở thành lý thuyết về bàn tay hữu hình, bàn tay công cộng của nhà nớc
trong việc điều tiết nền kinh tế thị trờng hỗn hợp. Nhà nớc tham gia phân phối lại
thu nhập của các tầng lớp dân c thông qua hệ thống thuế khoá, xây dựng các bộ
luật quan trọng để xác dập khuôn khổ phấp lý, trật tự của nền kinh tế thị trờng, tổ
chức các hình thức bảo hiểm quan trọng trong xã hội. Chi tiêu ngân sách của chính
phủ đợc đề cao trong việc xây dựng và phát triển các doanh nghiệp nhà nớc trong
các ngành sản xuất hàng hoá và dịch vụ công cộng, những lĩnh vực then chốt của
nền kinh tế nh tiền tệ, tài chính, công nghiệp nặng, cơ sở hạ tầng đợc coi là công
cụ can thiệp trực tiếp và chủ yếu dể giải quyết việc làm và thu nhập, kích thích
tăng nhu cầu tiêu dùng, bảo đảm duy trì tốc độ tăng trởng ổn định nền kinh tế và
giải quyết đợc về cơ bản các chính sách xã hội trong hàng chục năm qua ở các nớc
này.
Việc phát triển có định hớng nền kinh tế không thể không gắn với nấn đề tăng
trởng lâu bền nền kinh tế. Khi xem xét kinh nghiệm của các nớc đã giải quyết
thành công vấn đề tăng trởng thì một trong những bài học bổ ích có thể học hỏi đ-
ợc đối với Việt Nam là sự kết hợp và duy trì một tơng quan hợp lý giữa khu vực
kinh tế nhà nớc và khu vực kinh tế t nhân, giữa sự điều tiết bởi bàn tay hữu hình
của nhà nớc và bàn tay vô hình của thị trờng. Rõ ràng là nhờ đó, các nớc này đã
10
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
sử dụng và huy động đợc tất cả các lực lợng kinh tế thuộc khu vực nhà nớc và khu
vực t nhân, các mối quan hệ quốc tế có lợi cho quá trình tích luỹ vốn và chuyển
giao công nghệ nh các kiến thức, kỹ năng lao động và quản lý hiện đại.
3.2- Cấu trúc lại sở hữu nhà nớc là đòi hỏi khách quan để phát triển nền
kinh tế thị trờng.
Trớc hết, cần phải có sự đổi mới và cơ cấu lại khu vực kinh tế nhà nớc để củng
cố vai trò chủ đạo đích thực của nó và khắc phục tình trạng quốc doanh vô chủ
hiện nay đang gây nên sự lãng phí thất thoát nghiêm trọng tài sản của nhà nớc.
Việc cơ cấu lại khu vực kin tế nhà nớc có thể theo hớng chỉ nên có mặt ở những
lĩnh vực có vai trò quyết định đến sự ổn định và phát triển nền kinh tế. Có thể nêu
ra một số quan điểm cơ bản nhằm cấu trúc lại khu vực kinh tế nhà nớc để bảo đảm
vai trò chủ đạo và định hớng của nó trong nền kinh tế thị trờng wor nớc ta.
Khu vực kinh tế nhà nớc chỉ nên thu hẹp ở những lĩnh vực có vai trò quyết
định đến sự ổn định và phát triển nền kinh tế.
Phạm vi và quy mô của khu vực kinh tế nhà nớc đợc sử dụng một cách kinh
hoạt trong các lĩnh vự, các ngành, các doanh nghịêp cụ thể tuỳ theo mục tiêu định
hớng của nhà nớc.
Sở hữu nhà nớc trong các doanh nghiệp ở những ngành những kĩnh vực trong
từng giai đoạn xét thấy không cần thiết có sự can thiệp của nhà nớc thì đợc tiến
hành chuyển đổi sở hữu bằng việc đa dạng hóa và cổ phần hoá toàn bộ hay từng
phần để nâng cao hiệu quả kinh tế nói chung và nhà nớc có điều kiện thu hồi vốn
để đầu t vào các lĩnh vực khác.
Nh vậy, có thể nhận thấy nét đặc trng của quá trình cổ hần hoá là hình thành
các công ty cổ phần hỗn hợp nhà nớc, t nhân trong và ngoài nớc, hoạt động trên cơ
sở thị trờng và luật pháp của nhà nớc. Nhng các công ty quốc doanh đợc đổi mới
thành các công ty cổ phần hỗn hợp nhà nớc-t nhân sẽ góp phần quan trọng làm
cho các hoạt động sản xuất kinh doanh ở các đơn vị này trở nên năng động, nâng
cao đợc doanh lợi và khả năng cạnh tranh với các công ty cổ phần t nhân. Có thể
nói, sự chuyển đổi cơ cấu sở hữu nhà nớc thông qua quá trình cổ phần hoá và đa
dạng hoá, sự hợp tác và xâm nhập lẫn nhau giữa các khu vực kinh tế nhà nớc và
khu vực kinh tế t nhân, kể cả ở cấp tập đoàn công ty quốc gia để vơn ra thị trờng
thế giới là một trong những con đờng nâng cao hiệu quả kinh tế thị trờng ở nớc ta
trong giai đoạn hiện nay.
3.3- Mở rộng và phát triển các hình thức kinh tế hỗn hợp là một nội dung
không thể thiếu đợc để phát triển kinh tế thị trờng.
Phát triển nền kinh tế thị trờng hiện đại không thể không cần sự lớn mạnh của
kinh tế t nhân. Khu vực kinh tế t nhân ở nớc ta mới đợc khuyến khích phát triển
trong thời gian qua, cha có đủ thực lực cần thiết để đáp ứng những đòi hoior của
nền kinh tế trong giai đoạn hiện nay của công nghiệp hóa, hiện đại hoá. Tuy
nhiên, sự nghiệp công nghiệp hoá của đất nớc có thể gặt hái đợc những thành công
hay không, không thể chỉ do một mình khu vực kinh tế nhà nớc đứng ra gánh vác
mà phải có sự đóng góp sức của khu vực kinh tế t nhân. Sự gia tăng và lớn mạnh
11
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
của kinh tế t nhân sẽ là một lực lợng cơ bản để gánh vác trách nhiệm với kinh tế
nhà nớc trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế và hiện đại hoá công nghệ
trong các lĩnh vực sản xuất của đất nớc.
Trong quá trình phát triển đó, cùng với quá trình cơ cấu lại khu vực kinh tế
nhà nớc, sẽ ngày càng xuất hiện những hình thức kinh doanh mang tính chất sở
hữu hỗn hợp giữa nhà nớc và t nhân. Trong giai đoạn hiện nay, khu vực kinh tế t
nhân cha đáp ứng đợc yeu cầu của kinh doanh hiện đại và quy mô lớn, cũng nh ch-
a đủ sức tiếp nhận những lĩnh vực cần thiết mà quá trình công nghiệp hoá đòi hỏi,
buộc khu vực kinh tế nhà nớc đang phải thực hiện vai trò tạo tiền đề bớc đầu cho
quá trình này. Đến một giai đoạn nhất định, khi mà kinh tế t nhân đã phát triển ở
một mức độ cho phép đảm đơng đợc một số lĩnh vực kinh tế và đáp ứng đợc các
yêu cầu tăng trởng mới thì nhà nớc có thể thực hiện cổ phần hó và đa dạng hoá ở
hữu trong các doanh nghiệp của mình để di chuyển vốn sang các lĩnh vực cần
đwocj u tiên phát triển. Sự chuyển giao này cho phép hình thành các tập đoàn kinh
doanh mang tính chất sở hữu hỗn hợp giữa nhà nớc và các thành phần kinh tế khác
dới hình thức công ty cổ phần. Đây sẽ là mô hình doanh nghiệp điển hình trong
quá trình công nghiệp hoá đất nớc.
II- Thực trạng giữ vững định hớng xã hội chủ nghĩa
trong phát triển kinh tế từ khi đổi mới.
1- Những thành tích đổi mới và phát triển kinh tế đúng hớng.
1.1- Những thành tựu của kinh tế Việt Nam trong 10 năm đổi mới
(1986-1995).
Thực hiện đờng lối đổi mới của Đảng cộng sản Việt Nam 10 năm qua (1986-
1995) nền kinh tế Việt Nam đã có những khởi sắc và đạt đợc những thành tựu nổi
bật,đa đất nớc ta khỏi khủng hoảng triền miên tạo ra những tiền đề quan trọng để
bớc vào thời kỳ cất cánh vào đầu thế kỷ XXI. Sau đây là một số thành tựu nổi bật
nhất trong 10 năm qua:
Từ một nền kinh tế hầu nh không có tăng trởng trớc 1986, kinh tế Việt Nam đã
từng bớc khôi phục và phát triển ổn định tốc độ tăng trởng kinh tế thời kỳ sau cao
hơn kỳ trớc đó: tốc độ tăng trởng GDP thời kỳ 1986-1990 là 3,9%, thời kỳ 1991-
1995 là 8,2%. Trong đó: 1991 là6,0%, 1992là 8,6%, 1993 là 8,1%, 1994 là 8,8%,
1995 là 9,5% và ớc 1996 là 10% (tính theo giá so với 1989).
Từ nền kinh tế tự cấp tự túc là chủ yếu, sản xuất trong nớc không đủ để tiêu
dùng, kinh tế Việt Nam sau đổi mới đã phát triển theo hớng sản xuất hàng hóa bớc
đầu có tích luỹ trong nội bộ nền kinh tế quốc dân. Nếu trớc năm 1986, thu nhập
quốc dân sản xuất mới đáp ứng 80% thu nhập quốc dân sử dụng, không có tích
luỹ, phần thâm hụt 20% và tích luỹ nhỏ chủ yếu vào viện trợ và vay vốn nớc ngoài
(thời kỳ 1976-1980 là 38,2%, thời kỳ 1981-1985 là 22,4%). Sau 1986, nhất là thời
kỳ 1991-1995 bắt đầu có tích luỹ từ sản xuất trong nớc. Tỷ lệ tích luỹ GDP năm
12
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
1991laf 10,1%, 1992 là 13,8%, 1993 là 14,8%, 1994 là 17%, 1995 là 20%, viện
trợ bên ngoài không đáng kể.
Từ nền kinh tế siêu lạm phát, chỉ số làm phát wor mức ba con số trớc 1998
(1986là 774,7%, 1987 là 373%, 1988 là 223%) từ năm 1989 đến 1995 giảm xuống
ở mức hai con số ( 1989 là 34,7%, 1990 là 67,4%, 1991 là 67,6%,, 1992 là 17,6%,
1993 là5,2%, 1994 là 14,4%, 1995 là 12,7%, quý I năm 1996 là 4,3% so với
9,4%quý I năm 1995). Tỷ lệ làm phát giảm đồng tiền Việt Nam tăng giá và ổn
định tạo điều kiện để mở cửa ra bên ngoài để buôn bán và thu hút vốn đầu t nớc
ngoài.
Đầu t nớc ngoài là nét nổi bật trong bức tranh kinh tế Việt Nam thời kỳ đổi
mới và mở cửa. Trong tám năm thực hiện luật đầu t nớc ngoài (1988-1995) , kinh
tế Việt Nam đã thu hút đợc 1700 dự án với tổng số vốn là 18 tỷ USD, trong đó hơn
1299 dự án đã đi vào hoạt động khắp 50 tỉnh thành phố thu hút hàng chục vạn lao
động trong nớc và sản xuất nhiều hàng hóa, sản phẩm dịchvụ phục vụ tiêu dùng và
xuất khẩu, tăng nguồn thu cho ngân sách nhà nớc khoảng 1 tỷ USD/năm điều mà
trớc đổi mới không thể có.
Cơ cấu các ngành kinh tế bớc đầu có thay đổi theo hớng tiến bộ. Trớc đổi mới,
kinh tế Việt Nam chủ yếu là nông nghiệp. Cùng với quá trình công nghiệp hoá và
mở cửa, hoạt động nh nông nghiệp mở rộng, dịch vụ phát triển mạnh, tạo ra sự
chuyển cơ cấu kinh tế quốc dân theo hớng tăng tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ,
giảm tỷ trọng nông nghiệp. Cơ cấu GDP tính theo giá thực tế:
1991 1995
Công nghiệp 22,7% 29,09%
Dịch vụ 38,6% 41,87%
Nông nghiệp37,7% 29,4%
Sự chuyển dịch này, phản ánh sự thay đổi về chất của nền kin tế quốc dân và
tạo ra những tiền đề và điều kiện để đẩy nhanh nhịp độ công nghiệp hoá. Đó là sự
tiến bộ đáng kể.
Khoa học kỹ thuật thực sự đã thành một yếu tố của lực lợng sản xuất, thúc đẩy
kinh tế phát triển ổn định với tốc độ cao là nét mới của kinh tế Việt Nam trong đổi
mới. Nét mới này đợc thể hiện trên các mặt chủ yếu sau:
Tăng tỷ lệ đầu t cho nghiên cứu khoa học từ 0,1% trớc đây lên 0,4% so với
GDP hiện nay.
Mở rộng ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật trong các ngành sản xuất và
dịch vụ, nhất là ngành sản xuất.
Đào tạo và đào tạo lại cán bộ kỹ thuật và quản lý kinh tế, phù hợp với cơ
chế thị trờng khuyến khích nhân tài.
Tăng tỷ lệ chất xám trong sản phẩm công, nông nghiệp.
Sản xuất công nghiệp tăng mạnh. Giá trị tổng sản lợng công nghiệp hoá năm
1995 đạt 26403 tỷ đồng (giá cố định 1989) tăng gấp bốn lần năm 1975, tốc độ
tăng bình quân 7,2%/năm trong 4 năm. Đặc biệt thời kỳ 1991-1995, tốc độ tăng tr-
ởng của công nghiệp đều trên 10% (1991:10%, 1992: 17,1%, 1993:12,7%,
1994:13,5%, 1995: 14%). Đã hình thành hàng loạt ngành công nghiệp mới nh dầu
khí, hoá dầu, điện tử cao cấp, lắp ráp ô tô, xe máy. Sản lợng dầu khí khai thacds từ
0,04 triệu tấn năm 1986 đã tăng lên 7,7 triệu tấn năm 1995 và 8,5 triệu tấn năm
13
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
1996 (ớc tính). Sản lợng điện năm 1995 đạt trên 14,61KW tăng gấp 4 lần năm
1996 và hơn 3 lannf năm 1985.
Nông nghiệp phát triển ổn định, vợt qua những thăng trầm năm 1988, vơn lên
sản xuất hàng hoá, từ đó giải quyết vững chắc vấn đề lơng thực, thực phẩm cho đất
nớc, có d gạo để xuất khẩu.
Sản lợng lơng thực năm 1975 mới đạt 11,6 triệu tấn, năm 1985 đạt 18,2 triệu
tấn, 1986:18,3 triệu tấn, 1987:17,5 triệu tấn, 1988 :19,5 triệu tấn, 1989: 21,5 triệu
tấn, 1990 21,5 triệu tấn, 1991: 21,9 triệu tấn, 1992: 24,2 triệu tấn, 1993: 25,5 triệu
tấn, 1994: 26,2 triệu tấn, 1995: 27,5 triệu tấn. Tốc độ tăng trởng lơng thực trong
10 năm đổi mới trên 4%, cao hơn tốc độ tăng dân số, nên lơng thực bình quân đầu
ngời từ 300Kg năm 1986 tăng lên 371Kg năm 1995. Từ 1989 đến 1995 Việt Nam
đã xuất khẩu (chính ngách0 gồm 12 triệu tấn gạo tốt (tơng đơng 14 triều tấn thóc),
bình quân 1,71 triệu tấn/năm. Từ nớc thiếu lơng thực trớc năm 1988, ngày nay
Việt Nam đã trở thành nớc xuất khẩu gạo lớn thứ 3, thứ 4 trên thế giới sau Thái
Lan, Mỹ, ấn Độ. Chăn nuôi, sản xuất cây công nghiệp phát triển mạnh nhất là cà
phê, cao su.
Thơng mại phát triển theo hớng tự do hoá và mở cửa mở rộng thị trờng và đổi
mới phơng thức mua và bán, nên thị trờng sôi động, hàng hoá phong phú, đa dạng,
giá ổn định. Tổng mức bán lẻ hàng hóa dịch vụ toàn xã hội năm 1995 đạt 121
nghìn tỷ đồng, tăng gấp 6,3 lần năm 1990. Tỷ trọng thơng nghiệp ngoài quốc
doanh 76%so với 66% năm 1990. Hoạt động xuất nhập khẩu có tiến bộ vợt bậc.
Năm 1995 Việt nam có quan hệ buôn bán với 120 nớc và vùng lãnh thổ, đạt giá trị
xuất khẩu là 5,5 tỷ USD, giá trị nhập khảu là 6,5 tỷ USD ( so nới 222,7 triệu và 1
tỷ USD của năm 1976). Cơ cấu ngoại thơng đã thay đổi theo chiều hớng tích cực
đã hình thành các mặt hàng chủ lực về xuất khẩu nh dầu thô, gạo, dệt may, thuỷ
sản, cà phê với số lợng và chất lợng ngày càng tăng.
Bộ mặt đất nớc đổi thay, đời sống nhân dân đợc cải thiện. Đến đầu năm 1996
đã có trên 70% số xã, phờng có điện, nông thôn là 63% số xã và 55% số hộ có
điện, 71,3% số hộ có nhà ở kiên cố, thu nhập bình quân đầu năm 1994 đạt 176,9
nghìn đồng/tháng, năm 1995 là 199 nghìn đồng. Tỷ lệ hộ giàu tăng từ 8% năm
1986 lên 15% hiện nay, tỷ lệ hộ nghèo từ trên 50% giảm xuống còn 25% trong 10
năm đổi mới.
Nhiệm vụ đề ra cho chặng đờng đầu của thời kỳ quá độ là chuẩn bị tiền đề cho
công nghiệp hoá đã cơ bản hoàn thành cho phép chuyển sang thời kỳ đẩy mạnh
công nghiệp hóa hiện đại hoá đất nớc.
1.2- Con đờng đi lên chủ nghĩa xã hội ở nớc ta ngày càng xác định rã hơn.
Trong quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam Đảng ta đã không ngừng tìm
tòi, khám phá, đẻ ngày càng xác định rõ hơn, cụ thể hơn, đúng đắn hơn con đờng
đi lên chủ nghĩa xã hội ở nớc ta. Qua gần bảy thập kỷ, đặc biệt gần 30 năm lại
đây, thực tiễn sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ tổ quốc kể cả những
thành công và thất bại đã làm cho: Con đờng đi lên chủ nghĩa xã hội ở nớc ta
ngày càng đợc xác định rõ hơn. Điều này có ý nghĩa không chỉ về tổ chức thực
tiễn mà cả về lý luận, là nguồn cổ vũ mạnh mẽ sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã
hội và bảo vệ tổ quốc của nhân dân ta, trong thời đại ngày nay. Đi lên con đờng xã
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét