Thứ Ba, 25 tháng 2, 2014

Giải pháp hạn chế rủi ro tín dụng ở ngân hàng công thương hoàn kiếm

đa chi phí mới đảm bảo trả đợc lãi vay ngân hàng. Nh vậy lãi xuất tiền gửi và
lãi xuất cho vay đóng vai trò quan trọng trong tiết kiệm đầu t và tiết kiệm tiêu
dùng.
2.4- Ngân hàng giúp cho nền kinh tế phân bổ vốn giữa các vùng trong
một quốc gia tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển kinh tế của đất nớc.
Gữa các vùng trên lãnh thổ một quốc gia thờng có sự phát triển kinh tế xã
hội không đồng đều mà nguyên nhân chính là do ảnh hởng của điều kiện tự
nhiên. Nơi tài nguyên nghèo, địa hình hiểm trở xa xôi, khí hậu không thuận
lợi để phát triển kinh tế thì nguồn vốn huy động tại chỗ ở địa phơng từ sự tiết
kiệm của dân c và các tổ chức kinh tế không đợc bao nhiêu để dùng vào đầu t.
Các ngân hàng thơng mại thờng đợc tổ chức theo hệ thống, trong đó Ngân
hàng thơng mại Ngân hàng thơng mại trung ơng sẽ đứng ra điều hoà vốn từ
nơi thừa (huy động mà không sử dụng hết) đến nơi thiếu đảm bảo thuận lợi
cho sự phát triển kinh tế vùng, xoá dần sự khác biệt giữa các vùng trên lãnh
thổ về kinh tế và xã hội.
2.5- Ngân hàng góp phần chống lạm phát và là một trong những công
cụ quản lý Nhà nớc có hiệu quả tạo nên sự công bằng và ổn định.
Có hai con đờng dẫn đến lạm phát, trong đó có một con đờng qua lạm
phát tín dụng. Ngân hàng với các biện phảp của mình đã ngăn chặn lợng tiền
thừa vào lu thông ,góp phần chống lạm phát .Ngân hàng với t cách là trung
tâm tiền tệ tín dụng ,thông qua các nghiệp vụ của mình đã kiểm soát bằng tiền
hoạt động của nền kinh tế. Ngân hàng xác định đợc hớng đầu t vốn ,có biện
pháp xử lý những biến động không hợp lý trong nền kinh tế, kiểm soát quá
trình sản xuất, phân phối sản phẩm xã hội. Ngoài ra, ngân hàng là cơ quan
quản lý tiền tệ nên thông qua nghiệp vụ của mình ,điều hoà lu thông tiền tệ, ổn
định sức mua đồng tiền.
2.6-Ngân hàng thơng mại là cầu nối giữa trong nớc và thế giới bên
ngoài tạo nên môi trờng quyết định phát triển ngoại thơng, công nghiệp và
các ngành có liên quan .
Trong điều kiện hiện nay, phát triển kinh tế của một nớc luôn gắn liền với
thị trờng thế giới, nền kinh tế đóng nhờng bớc cho kinh tế mở. Vì vậy tín
dụng ngân hàng đã trở thành một trong những phơng tiện nối liền kinh tế các
nớc với nhau. Đối với các nớc đang phát triển nói chung và Việt Nam nói
riêng, Ngân hàng thơng mại đóng vai trò quan trọng trong việc mở rộng xuất
nhập khẩu hàng hoá, đồng thời nhờ nguồn tín dụng bên ngoài để công nghiệp
hoá và hiện đại hoá đất nớc.
Tóm lại, trong nền kinh tế hiện đại do áp dụng những thành quả khoa học
kỹ thuật, đặc biệt là công nghệ tin học, không gian và thời gian đã thay đổi.
Vốn cho sản xuất ở mỗi nớc không còn khả năng tự lực cánh sinh mà còn phải
có sự hoà nhập với thị trờng vốn thế giới. Ngân hàng thơng mại chính là cầu
nối cho thị trờng trong và ngoài nớc. Nh vậy nó không chỉ là "Bà đỡ" cho sản
xuất hàng hoá mà nó còn chính là trái tim luôn cung cấp máu cho mọi tế bào
của đời sống kinh tế.
3- Các nghiệp vụ chủ yếu của Ngân hàng thơng mại .
3.1- Huy động tiền gửi của các tổ chức kinh tế và cá nhân.
Đây là một trong những nghiệp vụ chủ yếu của ngân hàng thơng mại.
Thực hiện nghiệp vụ này Ngân hàng thơng mại đã thực hiện đợc một phần
chức năng tạo tiền. Nếu tín dụng ngân hàng không tạo đợc tiền để mở ra
những điều kiện thuận lợi cho quá trình sản xuất và những hoạt động của nó
thì trong nhiều trờng hợp hoạt động sản xuất không thực hiện đợc và nguồn
vốn tích luỹ từ lợi nhuận và các nguồn khác sẽ bị hạn chế. Hơn thế nữa các
đơn vị sản xuất có thể gánh chịu tình trạnh ứ đọng vốn, vốn luân chuyển
không đợc sử dụng trong những giai đoạn cụ thể của quá trình sản xuất, nhng
trong các thời kỳ cao điểm mang tính thời vụ của một doanh nghiệp lại không
đủ vốn để thúc đẩy nhu cầu sản xuất kinh doanh.
Sự ra đời của Ngân hàng thơng mại đã tạo ra bớc phát triển về chất trong
quá trình kinh doanh tiền tệ. Nếu nh trớc đây các tổ chức kinh doanh tiền tệ
giữ tiền và gửi tiền để rồi cho vay ra cũng chính những đồng tiền ấy thì kể từ
khi ngân hàng ra đời việc cho vay không nhất thiết là tiền, vàng, bạc mà họ
nhận đợc từ ngời gửi.
Ngân hàng thơng mại hoạt động bằng cách "đi vay để cho vay" khoản
chênh lệch lãi xuất, sau khi đã trừ đi những chi phí khác là lợi nhuận của ngân
hàng. Ngân hàng thơng mại có thể huy động vốn nhàn rỗi trong xã hội bằng
cách nhận tiền gửi của các doanh nghiệp và cá nhân với các lãi xuất khác
nhau nh tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm
Ngoài ra khi cần thêm vốn ngân hàng có thể huy động bằng cách phát
hành các chứng chỉ tiền gửi hay vay vốn của ngân hàng trung ơng hoặc các tổ
chức tín dụng khác.
3.2- Nghiệp vụ đầu t tín dụng.
Nghiệp vụ đầu t tín dụng cho khách hàng là nghiêp vụ kinh doanh mang
lại lợi nhuận chủ yếu cho ngân hàng. Vốn mà Ngân hàng thơng mại sử dụng
để cho vay suất phát từ nguồn vốn mà ngân hàng huy động đợc từ các khoản
tiền nhàn rỗi trong nền kinh tế. Trong việc tạo ra khả năng tín dụng, các ngân
hàng thơng mại đã và đang thực hiện các chức năng xã hội của mình làm cho
sản phẩm xã hội tăng lên, vốn đầu t đợc mở rộng và từ đó dẫn đến lợi nhuận
nhiều hơn, đời sống kinh tế của nhân dân đợc nâng cao. Rõ ràng tín dụng
ngân hàng có ý nghĩa quan trọng đối với toàn bộ hoạt động của nề kinh tế. nó
tạo ra khả năng tài trợ cho hoạt động công nghiệp, thơng nghiệp, nông nghiệp
của đất nớc.
Hoạt động tín dụng của ngân hàng cũng là hoạt động chứa nhiều rủi ro
nhất. vì vậy trong quyết định số 198/NH-QĐ ngày 16/9/1998 của thống đốc
ngân hàng nhà nớc đã ghi 3 nguyên tắc của tín dụng Ngân hàng thơng mại là
"vốn vay phải đợc hoàn trả đầy đủ cả gốc lẫn lãi đúng thời hạn đã kỹ; vốn vay
phải sử dụng đúng mục đích có kết quả; vốn vay phải đảm bảo bằng hàng hoá
có gía trị tơng đơng".
3.3- Nghiệp vụ thanh toán
Việc đa ra một cơ chế thanh toán hay nói cách khác sự vận động vốn là
một trong những chức năng quan trọng do các ngân hàng thơng mại thực
hiện . nó càng trở nên quan trọng khi có đợc sự tín nhiệm trong việc sử dụng
séc và thẻ tín dụng. Phần lớn séc trong nớc đợc thanh toán bù trừ thông qua hệ
thống Ngân hàng thơng mại.
Cùng với sự phát triển của sản xuất hàng hóa, nghiệp vụ thanh toán của
ngân hàng thơng mại không chỉ đơn thuần là trung gian thanh toán mà còn
quản lý các phơng tiện thanh toán một cách có hiệu quả. Hiện nay ở nhiều nớc
ngân hàng đã và đang trang bị hệ thống máy vi tính và các phơng tiện kỹ thuật
hiện đại khác nhằm làm cho quá trình thanh toán bù trừ, thanh toán liên hàng
đợc thực hiện nhanh chóng, giảm bớt chi phí và đạt độ chính xác cao .
3.4-Tham gia vào hoạt động thị trờng hối đoái .
Các Ngân hàng thơng mại có nhiều khách hàng tham gia xuất nhập
khẩu, có thu chi ngoại tệ nhiều .Trong sự phát triển của mình , các ngân
hàng đã hình thành và phát triển nghiệp vụ kinh doanh ngoại tệ và thanh toán
quốc tế .Các nghiệp vụ này là động lực phát triển sản xuất kinh doanh , xuất
nhập khẩu của các đơn vị kinh tế .Xét về mặt ngân hàng, việc mua bán ngoại
tệ cũng nh việc cho vay ngoại tệ đem lại lợi nhuận trên cơ sở mua vào với giá
thấp , bán ra với giá cao hơn, hoặc do sự biến động của tỷ giá ngoại tệ nên
việc mua bán ngoại tệ không thông qua đồng bản tệ hay kinh doanh chênh
lệch giá cũng đem lại lợi nhuận cho ngân hàng.
3.5- Tham gia vào hoạt động trên thị trờng chứng khoán.
Ngân hàng tham gia vào thị trờng chứng khoán là thực hiện các nghiệp
vụ tài chính. Trên thị trờng chứng khoán, ngân hàng thơng mại có thể xuất
hiện với t cách ngời mua bán chứng khoán ,ngời môi giới và bảo lãnh chứng
khoán cho các chủ đầu t, trong đó chức năng ngời môi giới chứng khoán của
ngân hàng trên thị trờng chứng khoán là chức năng quan trọng nhất.
3.6- Thực hiện các dịch vụ đối với khách hàng .
Hoạt động dịch vụ của Ngân hàng thơng mại ngày càng đem lại lợi
nhuận lớn cho ngân hàng .Vì vậy các ngân hàng ngày càng đa dạng hoá các
dịch vụ của mình đối với khách hàng nhằm nâng cao lợi nhuận .Một số dịch
vụ của Ngân hàng thơng mại nh :nhận bảo quản tài sản cho cá nhân , dịch vụ
chuyển tiền, dịch vụ bảo quản vật có giá , quản lý chứng từ có giá , t vấn cung
cấp thông tin về kinh tế cho khách hàng
Với những hoạt động này , Ngân hàng thơng mại xứng đáng đóng vai
trò quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển kinh tế và trở thành trung tâm
của đời sống kinh tế.
II- Rủi ro tín dụng trong hoạt động kinh doanh của ngân
hàng .
1/ Khái niệm về rủi ro.
Mọi hoạt động của mỗi cá nhân cũng nh toàn xã hội , đều hớng tới một
mục đích nào đó .Song có những trờng hợp mục đích đó không đạt đợc do
trong quá trình hoạt động gặp phải rủi ro . Vậy rủi ro là gì ? Đã có nhiều định
nghĩa về rủi ro nh :"Rủi ro là bất trắc gây mất mát , thiệt hại ", "rủi ro là sự bất
trắc cụ thể liên quan đến việc xuất hiện một biến cố không mong đơị " Nhng
nói chung mọi định nghĩa đều đi đến sự khẳng định là rủi ro là sự kiện xảy ra
ngoài ý muốn và đem lại những hậu quả xấu . Rủi ro có thể gặp bất cứ lúc nào
, ngoài ý thức của con ngời trong mọi lĩnh vực của đời sống , nhất là trong lĩnh
vực linh tế.
Trong kinh tế , rủi ro đợc coi là những tổn thất mà các doanh nghiệp phải
chấp nhận khi kinh doanh . Kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ -tín dụng các
ngân hàng cũng phải chấp nhận điều đó . Nhng thực tế đã chứng minh rằng
không một ngành kinh doanh nào mà khả năng dẫn đến rủi ro nhiêù nh kinh
doanh tiền tệ . Rủi ro trong kinh doanh tín dụng là những tổn thất xảy ra trong
quá trình ngân hàng thực hiện các nghiệp vụ kinh doanh tín dụng của mình,
vì tín dụng là việc " một ngời đa hoặc hứa đa vốn cho ngời khác ,dùng chữ kí
cam kết cho ngời này nh bảo lãnh , bảo đảm hay bảo chứng mà có thu tiền "
Nh vậy tín dụng dựa vào lòng tin về sự hoàn trả số nợ vay vào một thời
điểm xác định trong tơng lai . Cơ sở của quan hệ tín dụng dựa trên sự phối hợp
chặt chẽ giữa sự chuỷen giao quyền sử dụng vốn và lòng tin , lòng tin này xuất
phát từ hai phía, hai chủ thể tín dụng: Ngời cung cấp tín dụng và khách hàng.
Khả năng kinh tế, khả năng kỹ thuật, uy tín của mỗi chủ thể là cơ sở để tạo ra
lòng tin giữa họ song tín dụng luôn chứa đựng yếu tố thời gian và trong tơng
lai "số phận" của khoản tín dụng sẽ nh thế nào? đó là một điều mà không ai có
thể khẳng định chắc chắn đợc, nghĩa là rủi ro đang chờ đón họ. Rủi ro không
loại trừ bất kỳ một loại tín dụng nào, song tín dụng ngân hàng có khả năng
gặp phải nhiều trở ngại, rủi ro hơn so với tín dụng thơng mại. Bởi vì xem xét
rủi ro trong tín dụng thơng mại chúng ta nhận thấy rủi ro đợc giới hạn trong
phạm vi hàng hoá, có nghĩa là ngời ta sẽ không mua hàng hoá nếu xét thấy
khả năng không bán đợc và nh vậy sẽ không phát sinh quan hệ tín dụng và
không có rủi ro. Còn nếu xem xét rủi ro trong tín dụng ngân hàng thi tình
hình lại khác hẳn. Tín dụng ngân hàng là tín dụng bằng tiền, có phạm vi rộng
rãi hầu nh không giới hạn. Do vậy nhận thức đúng đắn và đầy đủ về rủi ro
trong kinh doanh tín dụng là một vấn đề cần thiết để đảm bảo cho ngân hàng
có đợc những giải pháp hạn chế rủi ro có hiệu quả, giúp ngân hàng đạt đợc
mục tiêu của quá trình kinh doanh là tối đa hoá lợi nhuận.
2- Các loại rủi ro chủ yếu mà ngân hàng thơng mại thờng gặp.
Chúng ta đều biết rằng hoạt động của ngân hàng là loại hình hoạt động
rất cần sự cận trọng song vẫn thờng gặp phải rủi ro. Một ngân hàng thành
công trong hoạt động của nó không chỉ có những cán bộ chuyên môn giỏi mà
cần phải am hiểu nhiều lĩnh vực và đặc biệt phải có phẩm chất đạo đức tốt , có
tinh thần trách nhiệm với công việc. Tuy nhiên vẫn phải khẳng định rằng kinh
doanh ngân hàng là lĩnh vực gặp nhiều rủi ro nhất, trong đó tập trung vào 5
loại rủi ro sau:
2.1- Rủi ro thuần tuý.
Đó là các rủi ro do tác động của thiên nhiên mang lại nh: Thiên tai, hoả
hoạn, động đất, hoặc những rủi ro nh lừa đảo, trộm cắp, tham nhũng Làm
thiệt hại hoặc gây thất thoát tài sản của ngân hàng.
2.2- Rủi ro lãi suất:
loại này xảy ra khi có sự thay đổi lãi suất trực tiếp tác động tới lợi nhuận
của nhà ngân hàng. Ví dụ, khi lãi suất tiền vay giảm trong khi lãi suất trả cho
tiền gửi hoặc trái phiếu giữ nguyên làm giảm thu nhập của nhà ngân hàng.
Những thiệt hại do rủi ro lãi suất gây ra làm giảm chi phí cho nguồn vốn cao
hơn thu nhập sử dụng vốn dẫn đến kinh doanh của ngân hàng bị lỗ.
2.3- Rủi ro tín dụng.
Đó là loại rủi ro xảy ra khi ngân hàng không thu hồi đợc các khoản vay
chủ yếu do tình trạng nợ khó đòi và nợ không có khả năng thu hồi. Chúng bao
gồm tất cả các khoản cho vay của ngân hàng, các khoản đầu t chứng khoán,
tín dụng tài trợ đến kỳ hạn mà khách hàng, ngời phát hành không thanh toán
hoặc trả nợ đợc cho ngân hàng. Đây là loại rủi ro lớn nhất và thờng xuyên xảy
ra. Bởi vậy việc đánh giá rủi ro này là trách nhiệm của chính các ngân hàng,
hơn 2/3 số tài sản có của ngân hàng là các món nợ cho vay và đầu t chứng
khoán, đem lại thu nhập chủ yếu cho nhà ngân hàng. Thêm vào đó các hoạt
động ngoại bảng tổng kết tài sản nh: Các giao dịch trên thị trờng hối đoái, các
hợp đồng trao đổi, bảo lãnh tín dụng, tín dụng tài trợ đều rất dễ bị rủi ro,
thua lỗ và mất mát.
Nếu các món vay hoặc chứng khoán đến kỳ hạn mà không đợc hoàn trả
ngân hàng sẽ mất cả vốn lẫn laĩ. Nếu giá trị số thiệt hại quá lớn, vợt quá số
vốn tự có của ngân hàng thì chắc chắn ngân hàng sẽ không hoạt động đợc nữa
và lâm vào tình trạng khủng hoảng, có nguy cơ bị phá sản.
2.4- Rủi ro hối đoái.
Đây là loại rủi ro do biến động của thị trờng ngoại hối gây ra. hiện nay
các ngân hàng thơng mại thờng có xu hớng hoạt động đa năng thực hienẹ cả
nghiệp vụ kinh doanh ngoại tệ do đó khi có sự biến động về tỷ giá hối đoái thì
thờng phải chịu ảnh hởng ở một mức độ nào đó (nếu sự biến động đó nằm
ngoài dự kiến của ngân hàng) Nhất là với các Ngân hàng thơng mại Việt Nam,
hiện nay mới đang trong thời kỳ sơ khai, còn nhiều bỡ ngỡ, kinh nghiệm còn
hạn chế do đó vẫn đề rủi ro hối đoái đang đợc các ngân hàng quan tâm một
cách thích đáng.
2.5- Rủi ro nguồn vốn
Thể hiện trên 2 phơng diện: Rủi ro do bị đọng vốn và rủi ro thiếu vốn
khả dụng.
* Rủi ro bị đọng vốn: là trờng hợp ngân hàng huy động vốn mà không
cho vay ra đợc xảy ra tình trạng mất cân đối giữa việc huy động và sử dụng
vốn. Rủi ro này xảy ra có thể do tác động của lãi suất, của công cụ hạn mức
tín dụng hoặc do chất lợng kinh doanh của bản thân ngân hàng.
* Rủi ro thiếu vốn khả dụng xảy ra khi ngân hàng không đáp ứng đợc
nhu cầu thanh toán của khách hàng. Nó xuất phát từ chức năng chuyển hoán
các kỳ hạn sử dụng vốn và gnuồn vốn của ngân hàng. Rủi ro này thể hiện
ngân hàng thiếu vốn hoạt động. Do sự cạnh tranh giữa các thể chế tài chính
trên thị trờng vốn, nếu khả năng thanh toán của ngân hàng kém, ngân hàng lại
càng khó lòng huy động đợc một nguồn vốn dồi dào, từ đó phạm vi hoạt động
của ngân hàng bị thu hẹp, Ngân hàng càng có nguy cơ rủi ro, vỡ nợ. Vì thế
loại rủi ro này rất nguy hiểm đối với nhà quản lý ngân hàng.
Với loại rủi ro này, Ngân hàng luôn đề phòng bằng việc tính toán, duy trì
một hệ thống vốn khả dụng phù hợp với ngân hàng mình. Hệ số này đợc xây
dựng trên cơ sở phân tích cụ thể tình hình nguồn vốn và sử dụng vốn theo tính
chất khả chi và khả dụng thực sự của chúng. Chẳng hạn tiền gửi có kỳ hạn th-
ờng ổn định hơn tiền gửi không kỳ hạn; tiền gửi giữa các ngân hàng thờng bấp
bênh hơn tiền gửi của khách hàng
Nh vậy, trong năm loại rủi ro kể trên, rủi ro tín dụng là có tác động mạnh
mẽ đến sự tồn tại của ngân hàng. nếu nh cho vay là chức năng chính của nhà
ngân hàng và nó đem lại nguồn lợi nhuận lớn thì đi kèm với nó rủi ro tín dụng
cũng luôn thờng trực và khi đã xảy ra thì sức công phá của nó cũng rất nghiêm
trọng, nó có thể biến Ngân hàng từ trạng thái phát dạt đến nguy cơ bị phá sản.
Chính vì vậy nghiên cứu về rủi ro tín dụng và tìm ra các giải pháp cho nó luôn
là một đề tài không bao giờ cũ đối với các nhà phân tích, kinh doanh trong
lĩnh vực ngân hàng. Đối với Việt Nam nói chung và ngân hàng công thơng
Hoàn Kiếm nói riêng thì hơn bao giờ hết, vấn đề này lại càng trở lên nóng hổi
và bức thiết. Sở dĩ có điều này vì d nợ tín dụng của các Ngân hàng thơng mại
Việt Nam trong giai đoạn qua liên tục tăng nhng con số đó cha đủ để làm cơ
sở yên tâm vào sự lớn mạnh cuả các Ngân hàng này. Vấn đề ở chỗ số vốn cho
vay đó có hoạt động hiệu quả hay không và có thực hiện đúng mục đích hay
không. Chúng ta đang tiến hành công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hóa đất
nớc vì vậy nhu cầu về vốn là rất lớn. Lý do đó đòi hỏi không chỉ có giải pháp
huy động vốn đáp ứng nhu cầu mà còn phải xem xét thực trạng các nguồn vốn
vay đang hoạt động ra sao và có an toàn không.
3- Rủi ro tín dụng
3.1- Thực trạng về rủi ro tín dụng ở các Ngân hàng thơng mại.
Nh đã phân tích ở trên, rủi ro tín dụng là một khả năng có thể xảy ra khi
khách hàng của ngân hàng không dáp ứng đợc nghĩa vụ trả nợ theo những
thoả thuận. Rủi ro càng cao thì khả năng bảo toàn vốn tín dụng của Ngân
hàng càng thấp.
- Thời kỳ trớc tháng 12/1986: Hệ thống ngân hàng hoạt động theo cơ chế
kế hoạch hoá tập chung mang tính chất phục vụ là chủ yếu. Vì thế vấn đề rủi
ro ngân hàng không đặt ra xem xét.
- Thời kỳ 1987-1990 : Hệ thống ngân hàng bớc đầu chuyển động trong
cơ chế thị trờng và đã vấp phải vô vàn rủi ro. Đối với hệ thống ngân hàng
chuyên doanh thì hàng ngàn tỷ đồng nợ quá hạn không có khả năng thu hồi.
Đối với hệ thống tổ chức tiền tệ tín dụng ngoài quốc doanh: Ra đời hàng
loạt và cuối năm 1988. Đến năm 1990 sau cơn lãi suất cao, 12 ngân hàng cổ
phần, gần 500 quỹ tín dụng đô thị, hơn 7000 HTX tín dụng lâm vào tình trạng
vỡ nợ không có khả năng thanh toán gây nỗi thất vọng kinh hoàng cho dân
chúng mà d âm còn cho tới nay.
- Thời kỳ 10/1990 đến nay: Là thời kỳ thực hiện hai pháp lệnh ngân
hàng. Tuy nhiên rủi ro ngân hàng và nguy cơ rủi ro vẫn ở mức cao. Trong các
năm 1995, 1996 phần lớn các ngân hàng thơng mại quốc doanh đều lỗ. Chỉ số
nợ quá hạn tính chung cho cả 4 ngân hàng là 19,5% so với tổng d nợ. Theo số
liệu của uỷ ban thanh toán công nợ quốc gia đến 31/12/1997 tổng số nợ của
các ngân hàng thơng mại quốc doanh là 2433 tỷ đồng đến nay mới thu hồi đợc
khoảng 500 tỷ, số còn lại khó có khả năng thu hồi cha kể số nợ quá hạn mới
phát sinh từ đó đến nay.
Các ngân hàng thơng mại quốc doanh cũng gặp nhiều khó khăn trong
việc huy động và cho vay vốn, phần lớn hoạt động cầm chừng, phải gửi vốn
vào ngân hàng Nhà nớc và các Ngân hàng thơng mại quốc doanh cho vay lại.
Nh vậy điểm qua hoạt động cho vay của hệ thống các ngana hàng thơng
mại trong giai đoạn vừa qua chúng ta thấy có 3 vấn đề nan giải nhất sau đây:
- Hiện tợng nợ quá hạn ở nhiều ngân hàng có su hớng tăng lên. Vấn đề
đáng lo ngại hiện nay của nhiều ngân hàng là chất lợng hoạt động tín dụng.
Tình trạng nợ quá hạn trở nên phổ biến, tỷ trọng nợ quá hạn cao, có su hớng ra
tăng. Theo báo cáo của Ngân hàng Nhà nớc thì hầu hết các ngân hàng đều có
nợ quá hạn. Trong toàn bộ hệ thống ngân hàng thơng mại chỉ tính riêng nợ
quá hạn khó đòi đã tới con số hàng ngàn tỷ đồng. Năm 2000 so với 1999, d nợ
quá hạn của các Ngân hàng thơng mại quốc doanh tăng 1,18% nhng do d nợ
tín dụng tăng nên xét về số tuyệt đối thì số nợ tín dụng của năm 2000 sẽ tăng
hơn mức d nợ quá hạn của năm 1999 không phải là 1,18% nữa mà là 1,4%.
Điều này cho thấy mức độ thiệt hại có thể xảy ra càng lớn bởi lẽ d nợ tín dụng
tăng lênchủ yếu nhờ vào nguồn vốn tín dụng tăng còn số vốn tự có của các
ngana hàng thờng tăng lên với một tốc độ chậm chạp, vì thế tỷ lệ rủi ro so với
vốn tụ có cũng theo su hớng tăng lên ,làm lung lay nền tảng của các Ngân
hàng thơng mại .
Cũng nh vậy ,các Ngân hàng thơng mại cổ phần đang phải đối đầu với tỷ
lệ nợ quá hạn thờng ở mức 5% trên tổng d nợ ,nhiều ngân hàng tỷ lệ nợ quá
hạn còn chiếm trên 20 % tổng d nợ một con số nếu không có biện pháp ngăn
ngừa kịp thời sẽ gây nên những hậu quả nghiêm trọng khó lờng.
- Ta biết rằng trong kinh doanh ngân hàng thì nợ quá hạn là một điều
không thể tránh khỏi trong nền kinh tế thị trờng. Sẽ chẳng có gì phải bàn cãi
nếu nh con số nợ quá hạn chỉ đơn thuần theo đúng nghĩa của nó là nợ quá
hạn. Song vấn đề không chỉ dừng lại ở đó vì trong số nợ quá hạn trên 12 tháng
thì nợ khó đòi , nợ không có khả năng thu hồi chiếm tỷ trọng rất lớn.
Khi phân tích chất lợng tín dụng, điều làm ngời ta lo lắng không phải
đơn giản chỉ là sự chậm trễ, sai hẹn trong việc trả nợ của khách hàng, mặc dù
sự chậm trễ ấy có ảnh hởng đến kế hoạch sử dụng vốn của ngân hàng , mà
cái chính là khả năng không thu hồi của số nợ đó. Chính vì thế mà trong nợ
quá hạn ngời ta còn chia ra nợ quá hạn trên một năm , nợ khó đòi , nợ không
có khả năng thu hồi và cũng theo trật tự đó sự lo lắng ngày càng tăng lên
gấp bội còn niềm hy vọng thì giảm dần.
Thực tế những năm gần đây số nợ quá hạn trên một năm, nợ khó đòi
chiếm tỷ trọng lớn trong tổng số nợ quá hạn ,thờng trên 50% ,ở một số Ngân
hàng thơng mại cổ phần tình hình còn đáng sợ hơn nhiều: 80%-90% thậm chí
100%. Một con số làm kinh hoàng cho tất cả những ai hiểu về hoạt động
ngân hàng.
-Tuy nhiên bên cạnh hai loại rủi ro tín dụng trên mà ta cho râừng có vấn
đề đáng lo ngại thì một loại rủi ro đợc gọi là rủi ro tiềm ẩn cũng là vấn đề cần
quan tâm . Đó là loại rủi ro tiềm ẩn trong số d nợ không có vấn đề. Nếu tách
hết số d nợ quá hạn ra khỏi tổng d nợ, ta còn lại d nợ bình thờng, hay d nợ
không có vấn đề gì đáng lo ngại song ở một số ngân hàng số d này vẫn buộc
các nhà ngân hàng phải quan tâm bởi trong số d nợ tởng chừng nh bình thờng
đó lại ẩn chứa nhiều vấn đề không bình thờng, không đúng qui chế pháp luật
nh: Số d nợ đã đợc gia hạn nhiều lần, đảo nợ nhiều lần là những con số đáng

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét