Hình thức này có đặc điểm sau:
+ Doanh nghiệp trực tiếp nhập khẩu <Bên nhận uỷ thác> không phải bỏ
vốn, không phải xin hạn ngạch (nếu có), không phải nghiên cứu thị trờng tiêu thụ
do không phải tiêu thụ hàng hóa nhập khẩu, mà chỉ đứng ra làm đại diện ch bên uỷ
thác giao dịch với bên nớc ngoài, ký kết hợp đồng, làm thủ tục nhập khẩu hàng
hóa, cũng nh thay mặt cho bên uỷ thác khiếu nại bồi thờng với bên nớc ngoài khi
có tổn thất.
+ Các doanh nghiệp đợc uỷ thác nhập khẩu chỉ đợc tính kim ngạch nhập
khẩu chứ không đợc tính doanh số, doanh thu, bên cạnh đó các doanh nghiệp nhập
khẩu phải lập hai hợp đồng. Một hợp đồng mua bán hàng hóa với nớc ngoài <giữa
bên uỷ thác nhập khẩu với bên xuất khẩu>, một hợp đồng uỷ thác <giữa bên uỷ
thác và bên nhân uỷ thác>.
- Nhập khẩu hàng đổi hàng.
Nhập khẩu hàng đổi hàng cùng trao đổi bù trừ là nghiệp vụ chủ chốt của
buôn bán đối lu, nó lag hình thức nhập khẩu gắn liền với xuất khẩu. Thanh toán
trong trờng hợp này không ogải bằng tiền mà bằng sử dụng uỷ thác, mục đích nk
uỷ thác ở đây không phải chỉ để thu lãi từ nhập khẩu mà còn nhằm để xuất khẩu
thu cả lãi từ hoạt động xuất khẩu.
Đặc điểm của hình thức này là:
+ Hoạt động nhập khẩu này mang lại cho các bên liên quan bởi cùng một
hợp đồng có thể tiến hành cùng một lúc cả hoạt động nhập khẩu và hoạt động xuất
khẩu do vậy có thể thu lời từ hại hoạt động này.
+ Doanh nghiệp đợc tính trực tiếp cả kim ngạch xuất khẩu. Doanh số tiêu
thụ đợc tính trên cả hai mặt hàng alf xuất khẩu và nhập khẩu.
+ Hàng hóa trong hoạt động nhập khẩu cũng là bạn hàng trong hoạt động
xuất khẩu. Để bảo đảm thực nhiện hợp đồng các bên có thể dùng biện pháp sau.
+ Dùng th tín đối ứng <L/C> đây là một loại th tín dụng mà trong nội dung
của nó có các điều khoản chung. L/C chỉ có hiệu lực khi ngời hởng lợi mở một th
tín dụng L/C khác có kim ngạch tơng đơng.
5
+ Dùng ngời thứ 3 khống chế chứng từ sở hữu uỷ thác, ngời này chỉ giao
chứng từ đó cho ngời nhận hàng khi ngời này nhận lại một chứng từ sở hữu một
loại hàng hóa nào đó có giá trị tơng đơng.
+ Phạt về việc giao thiếu hay giao chậm hàng.
- Nhập khẩu tái xuất:
Là hoạt động nhập khẩu hàng hóa vào trong nớc nhng không phải là để tiêu
dùng trong nớc mà để xuất sang nớc thứ 3 naò đó, hoạt động này không đợc chế
biến ở nớc tái xuất, nh vậy hoạt động này đợc thực hiện qua ba nớc; nớc xuất
khẩu, nớc tái xuất khẩu, nớc nhập khẩu.
Hình thức nhập khẩu này có những đặc trng riêng khác với hình thức nhập
khẩu khác, đó là:
+ Doanh nghiệp nhập khẩu ở nớc tái xuất phải tính toán chi phí gép nối bạn
hàng nhập khẩu và bạn hàng xuất khẩu, bảo đảm sao cho có thể thu đợc số tiền lớn
hơn tổng chi phí bỏ ra để tiến hành hoạt động này.
+ Doanh nghiệp xuất khẩu trực tiếp đợc tính cả kim ngạch xuất khẩu, doanh
số tính trên giá trị hàng nhập khẩu đó vẫn phải chịu thuế doanh thu.
+ Doanh nghiệp nớc tái xuất phải lập hai hợp đồng, một hợp đồng xuất khẩu
và một bản hợp đồng nhập khẩu và không chịu thuế nhập khẩu về hình thức kinh
doanh.
+ Để đảm bảo thanh toán, hợp đồng tái xuất thờng dùng th tín dụng giáp lng
<L/C>.
Ngoài ra hàng hóa không nhất thiết phải chuyển về nớc tái xuất mà có thể
chuyển thẳng tới nớc thứ 3, nhng tiền trả phải do ngời tái xuất từ ngời nhập khẩu,
trả cho ngời xuất khẩu, nhiều khi ngời xuất còn thu lợi nhuận từ do thu đợc nhanh
và trả tiền chậm.
- Nhập khẩu liên doanh.
Là hoạt độngnk hàng hóa trên cơ sở liên kết một cách tự nguyện giữa các
doanh nghiệp <trong đó có ít nhất một doanh nghiệp xuất khẩu trực tiếp> nhằm
phối hợp cùng nhau để tiến hành giao dịch và các chu trơng, biện pháp có liên
6
quan đến hoạt động nhập khẩu, thúc đẩy hoạt động này theo hớng có lợi nhất cho
cả hai bên, cùng chịu rủi ro và cùng hởng lợi nhuận.
Sau đó một vài hình thức nhập khẩu khác thì hình thức này ít chịu rủi ro hơn
vì mỗi doanh nghiệp tham gia nhập khẩu chỉ phải đóng góp một phần vốn nhất
định, khi đó quyền hạn và trách nhiệm chỉ phải phân bổ theo tỷ lệ góp vốn.
Trong nhập khẩu liên doanh, doanh nghiệp đứng ra nhập khẩu hàng sẽ đợc
tính kim ngạch nhập khẩu, nhng khi đa hàng về tiêu thụ chỉ đợc tính doanh số trên
hàng theo tỷ lệ vốn góp và chịu thuế doanh thu trên doanh số đó. Doanh nghiệp
đứng ra nhập khẩu phải lập hai hợp đồng, một hợp đồng mua hàng với bên nớc
ngoài và một hợp đồng liên doanh với các doanh nghiệp khác. Cách phân tích hình
thức nhập khẩu trên dựa vào chủ thể của hoạt động nhập khẩu. Nếu quan tâm tới
hình thức thanh toán trong hoạt động này thì có thể thấy hai hình thức chính là
mua bán bằng tiền và mua bán thanh toán bằng hàng. Thanh toán bằng tiền là cách
thức thông dụng, thanh toán bằng hàng <còn gọi là mua bán đối lu> là hình thức
còn khá mới mẻ với chúng ta. Do đó cần phải tìm hiểu kỹ hình thức này.
- Nhập khẩu t doanh.
Là hoạt động độc lập của một số doanh nghiệp nhập khẩu trực tiếp, hoạt
động này đòi hỏi nhà nhập khẩu phải tìm hiểu và nghiên cứu kỹ thị trờng trong n-
ớc, môi trờng kinh doanh nh chính sách kinh tế, hành lang pháp luật của quốc gia
và thông lệ quốc tế. Trong hình thức này doanh nghiệp phải tự đứng ra nhập khẩu,
nên rất rễ xảy ra rủiro, tổn thất cũng nh lợi nhuận thu đợc. Chính vì vậy trớc khi
nhập khẩu nhà nhập khẩu cần phải nghiên cứu kỹ từng bớc, từ khâu nghiên cứu thị
trờng đầu vào, đầu ra, cho đến khâu ký kết thực hiện hợp đồng, kể cả khâu bán
hàng, thanh toán tránh tình trạng tổn thất, trong việc thực hiện hợp đồng doanh
nghiệp phải tự bỏ vốn ra để thanh toán, phải cân nhắc các khoản thu chi để đảm
bảo việc kinh doanh mang lại lợi nhuận.
II. Nội dung của hoạt động nhập khẩu.
Trong giao dịch ngoại thơng nói chung và hoạt động nhập khẩu nói riêng đ-
ợc thực hiện trên pahm vi quốc tế, vì vậy nội dung của hoạt động nhập khẩu phức
tạp hơn so với việc trao đổi hàng hóa, dịch vụ trong nớc. Hoạt động này đợc thực
hiện thông qua nhiều khâu và nhiều nghiệp vụ quan trọng khác, từ khâu nghiên
cứu đầu vào, đầu ra đến khâu tiếp cận thị trờng lựa chọn hàng hóa nhập khẩu, tiến
7
hành giao dịch hàng hóa, đàm phán ký kết hợp đồng khi hàng hóa nhập cảng,
chuyển giao quyền sở hữu cho ngời mua và hoàn thành các thủ tục thanh toán, mỗi
khâu mỗi nghiệp vụ thanh toán đều có mối quan hệ phụ thuộc lẫn nhau, do đó phải
nghiên cứu thực hiện đầy đủ, kỹ lỡng bởi cán bộ ngoại thơng có năng lực đề phòng
sơ xẩy gây tổn thất cho các bên. vấn đề mấu chốt là phải nắm bắt đợc lợi thế nhằm
đảm bảo cho hoạt động ngoại thơng đạt hiệu quả cao.
1. Nghiên cứu thị trờng.
Đối với các doanh nghiệp nhập khẩu việc nghiên cứu thị trờng gồm: Nghiên
cứu thị trờng<Thanh toán quốc tế và thị trờng nội địa> thanh toán bán trong nền
kinh tế hàng hóa thì thị trờng giữ vai trò quan trọng trọng của hoạt động kinh
doanh của mỗi doanh nghiệp. Mà mục đích của hoạt động sản xuất là để tiêu thụ,
phục vụ và thoả mãn nhu cầu của ngời tiêu dùng, do vậy thị trờng mang tính sống
còn đối với hoạt động sản xuất và kinh doanh hàng hóa. Vì vậy nếu còn thị trờng
thì hoạt động sản xuất kinh doanh, nế mất thị trờng thì hoạt động này bị đình trệ.
Hoạt động nhập khẩu đợc thực hiện trên phạm vi quốc tế, vì vậy nội dung
của hoạt động này phức tạp hơn nhiều so với việc kinh doanh hàng hóa nội địa, nó
đợc thực hiện dới nhiều khâu và nhiều hiệp định khác nhau, lựa chọn hàng hóa
nhập khẩu, tiến hành giao dịch, đàm phán, tiếp cận thị trờng, lựa chọn hàng hóa
nhập khẩu, tiến hành giao dịch, đàm phán, ký kết hợp đồng, tổ chức thực hiện hợp
đồng khi hàng hóa nhập cảng, chuyển giao quyền sở hữu cho ngời mua hoàn thành
các thủ tục thanh toán, và mỗi khâu, mỗi nghiệp vụ đều có mối quan hệ phụ thuộc
lẫn nhau, do vậy phải đợc thực hiện nghiên cứu đầy đủ kỹ lỡng bởi cán bộ ngoại
thơng có năng lực để đề phòng sai sót gậy tổn thất cho các bên, vấn đề ở chỗ là
phải nắm bắt đợc lợi thế đảm bảo cho hoạt động đạt hiệu quả cao.
1.1. Nghiên cứu thị trờng nhập khẩu.
Khi nghiên cứu về thị trờng nhập khẩu cần phải nắm bắt rõ các chính sách
phát triển của các nớc hay khu vực mà họ cần nhập, môi trờng chính trị, tình hình
tài chính tiền tệ, điều kiện vận tải và cớc phí.
Vì là thị trờng nớc ngoài nên việc nghiên cứu gặp nhiều khó khăn do không
tìm hiểu kỹ lỡng đợc nh thị trờng nội địa. Nghiên cứu thị trờng nhập khẩu có thể
đợc thực hiện qua các tài liệu, sách báo, tạp chí, các phơng tiện truyền tin về thị
8
trờng đó hoặc trực tiếp thông qua triển lãm, hay những cuộc thăm quan, những
chuyến du lịch hoặc giao dịch trực tiếp.
Khi nghiên cứu thị trờng nhập khẩu, doanh nghiệp cần phải nắm bắt đầy đủ
các yếu tố của thị trờng nh khả năng sản xuất, giá cả, sự biến động của thị trờng.
Hơn nữa doanh nghiệp nhập khẩu cũng cần đặc biệt quan tâmđến hàng hóa vì đây
là biểu hiện bằng tiền của giá trị hàng hóa. Trong kinh doanh nhập khẩu thì sự
biến đọng của giá cả cũng trở nên phức tạp do việc buôn bán diễn ra không phải
lúc nào thì thì nó diễn ra trong khoảng thời gian dài giữa hai quốc gia, hai khu vực
khác nhau, so với lợng trao đổi buôn bán là bao nhiêu, các loại giá cả và những
nhân tố tạo nên sự biến động của giá cả.
Giá cả trên thị trờng biến động là do những nhân tố sau:
- Nhân tố chu kỳ: là do sự vận động theo quy luật của nền kinh tế thế giới,
điều này ảnh hởng trực tiếp tới giá cả của hàng hóa nói chung trên thế giới và hàng
hóa nhập khẩu của doanh nghiệp nói riêng.
- Sự lũng đoạn của thị trờng: cũng làm xuất hiện mức giá của cùng một loại
hàng hóa trên một hay nhiều thị trờng khác nhau.
- Sự cạnh tranh: tuỳ thuộc vào mức độ cạnh tranh, đối tợng cạnh tranh.
- Tính thời vụ: giá cả sẽ thay đổi rất lớn nếu hàng hóa đợc thoả mãn nhu cầu
nếu nó đợc sản xuất đúng thời vụ.
- Tình hình kinh tế xã hội:
Bên cạnh các nhân tố trên thì doanh nghiệp nhập khẩu cũng cần phải tìm
hiểu tình hình vận chuyển hàng hóa, cớc phí vận chuyển, câc chi phí phụ để sao
cho có thể lựa chọn thị trờng nhập khẩu phù hợp nhất.
1.2. Nghiên cứu thị trờng trong nớc.
* Nhu cầu thị trờng.
Nhu cầu là nhân tố đầu tiên mà các nhà kinh doanh nhập khẩu cần phải
nghiên cứu là một trong những yếu tố quyết định sự thành công của mỗi doanh
nghiệp. Kinh nghiệm kinh doanh cũng cho thấy việc đầu tiện là phải nghiên cứu
nhu cầu đầu tiên, sau đó mới tổ chức quá trình sản xuất kinh doanh để nhằm đáp
9
ứng và thoả mãn nhu cầu đó. Thực tế là nhiều doanh nghiệp nớc ta trong hoạt động
nhập khẩu đã cha nghiên cứu hay cha nghiên cứu kỹ lỡng nhu cầu thị trờng trong
nớc, do đó hàng hóa nhập khẩu về đã không đáp ứng đợc nhu cầu của của ngời
tiêu dùng cả về số lợng lẫn chất lợng. Đa số hàng hóa nhập khẩu chỉ dựa vào
những ý kiến chủ quan hoặc các đơn đặt hàng, chào hàng của các công ty nớc
ngoài.
Nghiên cứu nhu cầu ở đây căqn cứ vào tình hình sản xuất và tiêu dùng về
quy cách, chủng loại, kích kỡ, giá cả, thị hiếu, tập quán từng vùng, từng lĩnh vực
sản xuất, từ đó tiến hành nghiên cứu từng mặt của hàng hóa trên thế giới. Việc làm
này đã phát hiện nhiều sự biến đổi trong tiêu dùng khi có tác động của nhân tố
khác, đặc biệt là giá cả.
* Dung lợng thị trờng.
Đối với các doanh nghiệp kinh doanh thì viẹc tìm hiểu dung lợng thị trờng
hàng hóa tơng đối quan trọng. Có thể hiểu dung lợng thị trờng của một loại hàng
hóa là khối lợng hàng hóa giao dịch trên một phạm vi thị trờng nhất định. Dung l-
ợng thị trờng thay đổi theo diễn biến của tình hình tác động tổng hợp của nhiều
yếu tố tác động tổng hợp của nhiều yếu tố khác nhau trong những giai đoạn nhất
định.
Các nhân tố làm dung lợng thị trờng thay đổi có tính chất chu kỳ nh sự vận
động của tình hình kinh tế t bản chủ nghĩa, tính thời vụ trong sản xuất, lu thông và
phân phối hàng hóa.
Các nhân tố ảnh hởng lâu dài đến dung lợng thị trờng thì có nhiều, tuy
nhiên các nhân tố chủ yếu ảnh hởng trong thời gian tơng đối dài.
- Những tiến bộ của khoa học kỹ thuật: với sự tiến bộ của khoa học kỹ
thuật, làm cho nhu cầu về hàng hóa đợc mở rộng, điều đó có nghĩa là dung lợng
thị trờng cũng đợc mở rộng.
- Cơ chế chính sách của Nhà nớc, các tập đoàn sản xuất kinh doanh ảnh h-
ởng tới sự biến đổi của dung lợng thị trờng, chính sách về đầu t nhằm xây dựng và
phát triển theo hớng nào đó có thể thu hút khách hàng về hàng hóa.
10
- Thị hiếu và tập quán của ngời tiêu dùng: Là giới hạn quan trọng đối với sự
biến đổi của dung lợng thị trờng. Tuy nhiên nhà kinh doanh có thể hớng thị hiếu
của ngời tiêu dùng thích nghi dần với hàng hóa của họ, làm cho thị hiếu thay đổi.
- Các nhân tố ảnh hởng tạm thời đối với dung lợng thị trờng. Là các nhân tố
nh đầu cơ đã gây ra những biến đổi về cung cầu, xung đột về chính trị xã
hội, hoặc các yếu tố tự nhiên. tuy nhiên khi nghiên cứu tình hình thị trờng của
hàng hóa khác nhau phải căn cứ vào đặc điểm của chúng để đánh giá ảnh hởng
của từng nhân tố.
- Sự biến động của giá cả: viẹc phân tích và xác định xu thế biến động của
giá cả trên thị trờng thế giới là cơ sở để xác định mức giá cả quốc tế của các loại
hàng hóa cần nhận. Thông thờng các nhà kinh doanh nhập khẩu sử dụng các loại
giá cả đợc công bố trên tài liệu đợc lu hành ở nơchính sách ngoài, mức giá tham
khảo và mức giá khởi điểm để hai bên <mua và bán> trao đôi nhau giá trong các
tài liệu thống kê, giá chào hàng của các hãng buôn bán lớn, giá trong các hợp
đồng đợc ký kết thực tế. Tuy nhiên giá trong hợp đồng rất khó thu thập.
Khi xác định giá cả nhập khẩu của mặt hàng có nhu cầu từ thị trờng nhập
khẩu có thể tham khảo giá xuất từ thị trờng mới đi các nơi khác. song giá cớc đợc
vận chuyển khi tham khảo cũng đặc biệt phải chú ý.
* Lựa chọn mặt hàng.
Doanh nghiệp phải lựa chọn mặt hàng kinh doanh có lợi nhất, muốn vậy thì
nhà nhập khẩu không những phải căn cứ vào nhu cầu của thị trờng mà còn phải
dựa trên một số vấn đề sau.
- Tình hình tiêu thụ mặt hàng trên thị trờng: Cũng do mỗi mặt hàng có thói
quen tiêu dùng riêng thể hiện ở thời gian tiêu dùng, thị hiếu tiêu dùng, quy luật
cung cầu về hàng hóa đó, việc làm này gọi là tìm hiểu tập quán tiêu dùng. Nh vậy
có nắm bắt đợc nhân tố này thì chúng ta mới có thể đáp ứng và thoả mãn nhu cầu
của ngơì tiêu dùng.
- Mặt hàng đó đang ở trong thời kỳ nào của chu kỳ sống: Sở dĩ mỗi mặt
hàng đều có chu kỳ sống riêng của nó, chu kỳ này riễn ra qua các pha: Giới thiệu,
tăng trởng, chín mồi, bão hoà và thoái trào. chính điều này nhà nhập khẩu cần phải
nắm rõ xem mặt hàng này đang ở giai đoạn nào của chu kỳ sống, để giúp cho việc
nâng cao doanh số.
11
- Tình hình sản xuất mặt hàng đó nh thế nào: nhà kinh doanh nhập khẩu cần
phải nắm rõ khả năng sản xuất, tốc đọ phát triển của việc sản xuất ra mặt hàng đó.
- Tỷ suất ngoại tệ của mặt hàng đó là bao nhiêu; trong kinh doanh thơng
mại quốc tế, mỗi quốc gia lại có hệ thống tiền tệ khác nhau cho nên việc tính toán
tỷ suất ngoại tệ là rất quan trọng. Tỷ suất ngoại tệ đối với mặt hàng nhập khẩu là
bản tệ<tiền của quốc gia nhập khẩu> có thể thu về khi phải chi ra một đơn vị
ngoại tệ.
2. Lập phơng án kinh doanh.
Căn cứ vào những thông tin thu thập trong quá trình nghiên cứu thị trờng
lựa chon nhà xuất khẩu và các quyết định, mục tiêu mà doanh nghiệp đề ra để lập
phơng án kinh doanh, phơng án này là kế hoạch hoạt động của doanh nghiệp nhằm
đạt đợc mục tiêu trong quá trình nhập khẩu.
Sau đây là các bớc để tiến hành lập phơng án kinh doanh:
+ Đánh giá đối tác xuất khẩu và tình hình thị trờng: chỉ ra những nét đặc tr-
ng phân tích những thuận lợi và khó khăn trong kinh doanh.
+ Lựa chọn mặt hàng cho phù hợp, thời cơ, điều kiện và phơng thức kinh
doanh. Xác định vốn, phân bổ cán bộ nghiệp vụ cũng nh huy động cơ sở vật chất
ch phơng án kinh doanh.
+ Xác định đối tợng giao dịch để nhập khẩu: giao dịch với công ty nào? ở
đâu, khối lợng nhập khẩu, mức giá dự kiến<trong đó cần nêu rõ điều kiện giao
hàng FOB, CIF>. Thời gian giao hàng và hình thức thanh toán.
+ Xác định rõ thị trờng và khách hàng tiêu thụ sản phẩm:
- Bán hang ở thị trờng nào?
- Thời điểm bán hàng?
- Khách hàng là ai? Ngời tiêu thu chính?
+ Xác định giá cả mua bán.
- Khi đàm phán ký kết hợp đồng nhập khẩu phải đợc duyệt với giá tối đa, tối
thiểu và tới hạn. Ngời làm nhiệm vụ này có thể định giá cao hơn giá tối thiểu và
12
thấp hơn giá tối đa theo từng hoàn cảnh cụ thể khi ký kết hợp đồng. Giá cả xác
định trong phơng án kinh doanh trên cơ sở phân tích giá cả quốc tế, giá chào hàng,
điều kiện giao hàng hay giá cùng loại đã nhập trớc đây.
+ Giá bán trong nớc phải đảm bảo có lợi nhuận sau khi trừ đi các khoản chi
phí khác nh thuế.
- Để ra các mục tiêu cụ thể: sẽ nhập khẩu hàng hóa ở thị trờng nhập khẩu,
giá cả và chi phí khác là bao nhiêu.
- Đề ra các biện pháp thực hiện: đây là công cụ nhằm đạt đợc mục tiêu đã
dự định.
Sau khi các phơng án kinh doanh đã đợc phê duyệt thì doanh nghiệp bắt đầu nỗ
lực để thực hiện.
13
3. Các bớc nhập khẩu hàng hóa.
3.1. Đàm phán và ký kết hợp đồng.
Để có thể soạn thảo và đi đến ký kết hợp đồng thì trớc hết hai bên phải đạt
đợc những thảo thuận chung trong buôn bán. Trong quá trình đàm phán hai bên sẽ
đa ra những nhu cầu, ý muốn của mình để cùng nhau xem xét, thảo luận để rồi đi
đến thống nhất làm căn cứ để để soạn thảo một hợp đồng mua bán có thiện chí.
Đây là sự gặp gỡ giữa hai bên, thể hiện nhu cầu mong muốn và thực hiện thiện chí
của mình trong công việc.
Trong đàm phán ngời ta thờng sử dụng các hình thức sau:
- Đàm phán trực tiếp.
- Đàm phán qua th tín.
- Đầm phán qua điện thoại.
Nhng trên thực tế do tính chất đặc trng của thơng mại quốc tế mầ việc đàm
phán thờng thông qua hình thức đàm phán trực tiếp. Song trong mỗi hình thức đàm
phán đều có u, nhợc điểm riêng nên tuỳ theo những điều kiện cụ thể mà các bên
có thể lựa chọn hình thức nào đó cho phù hợp nhất.
Chẳng hạn, những cuộc tiếp xúc ban đầu thờng qua th từ, sau dần đến đàm phán
trực tiếp, các bên đã tạo đợc ít nhiều uy tín thì có thể qua th tín hoặc điện thoại để
giẩm chi phí hoặc trấnh tình trạng làm lỡ thời cơ kinh doanh, hoặc xác nhận lại
một vài điều khoản mà mọi điều khoản đã thỏa thuận song <chú ý sau khi đàm
phán qua điện thoại phải yêu cầu bên kia có th xác nhận những thỏa thuận cho
nhau để làn chứng để phòng có tranh chấp>.
Nội dung của đàm phán bao gồm:
- Hỏi giá: là việc một ngời mua đề nghị ngời bán cho biết giá cả và các
điều kiện mua bán. Đây có thể là lời thỉnh cầu của ngời mua đa ra cho ngời bán.
- Phát giá: Là lời đề nghị ký kết hợp đồng của ngời bán gửi cho ngời mua
thể hiện ý định bán hàng của mình.
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét