liên tịch số 69/2000/TTLT/BNN-TCTK hướng dẫn tiêu chí để xác định kinh tế trang
trại như sau:
2.1.3.1. Giá Trị Sản Lượng Hàng Hoá Và Dịch Vụ Bình Quân Hàng Năm
_ Đối với các tỉnh phía Bắc và huyện Duyên hải miền Trung từ 40 triệu trở lên.
_ Đối với các tỉnh phía Nam và Tây Nguyên từ 50 triệu trở lên.
2.1.3.2. Qui mô sản xuất
_ Đối với trang trại trồng trọt:
(1) Trang trại trồng trọt hàng năm:
-Từ 2 ha trở lên đối vớ
i các tỉnh phía Bắc và Duyên hải miền Trung.
-Từ 3 ha trở lên đối với các tỉnh phía Nam và Tây Nguyên.
(2) Trang trại trồng cây lâu năm:
-Từ 5 ha trở lên đối với các tỉnh phía Nam và Tây Nguyên.
-Trang trại Tiêu 0,5 ha trở lên.
(3) Trang trại Lâm nghiệp từ 10 ha trở lên.
_ Đối với trang trại chăn nuôi:
(1) Chăn nuôi gia súc: Trâu, bò
• Sinh sản lấy sữa 10 con trở lên.
• Lấy thịt 50 con trở lên.
(2) Chăn nuôi gia súc lợn dê
• Heo sinh sản 20 con , dê sinh sản 100 con trở lên.
• Heo thịt 100 con, dê 200 con trở lên.
(3) Chăn nuôi gia cầm các loại từ 2000 con trở lên.
• Đối với trang trại nuôi trồng thuỷ sản: có diện tích 2 ha trở lên (đối
với nuôi tôm thịt theo công nghiệp từ 1 ha trở lên).
• Đối với các trang trại đặc thù: như trồng hoa, cây cảnh đặc sản thì
tiêu chí xác định dựa vào giá trị sản xuất hàng hóa.
2.1.4. Vai Trò Kinh Tế Trang Trại Trong Sự Phát Triển Của Nền Nông Nghiệp
Nhiều Thành Phần Hiện Nay Ở Việt Nam
Ở các nước phát triển, trang trại gia đình là loại hình trang trai chủ yếu, có vị trí
đặc biiệt quan trọng trong hệ thống kinh tế nông nghiệp, có vai trò to lớn và quyết định
trong sản xuất nông nghiệp, là lực lượng sản xuất ra phần lớn sản phẩm nông nghiệp
5
trong xã hội, tiêu thụ sản phẩm cho các ngành công nghiệp, cung cấp nguyên liệu cho
chế biến và thương nghiệp.
Trong điều kiện nước ta, vai trò và hiệu quả phát triển của kinh tế trang trại phải
được đánh giá, nhìn nhận trên cả ba mặt: hiệu quả về mặt kinh tế, hiệu quả về mặt xã
hội, và hiệu quả về mặt bảo vệ môi trường.
Vai trò này thể hiện rõ nét các vấn đề
chủ yếu sau đây:
• Vai trò thúc đẩy sản xuất hàng hóa phát triển, góp phần đưa sản xuất nông
nghiệp lên công nghiệp hóa hiện đại hóa.
Kinh tế trang trại là một bước phát triển mới của nền sản xuất xã hội, là nhân tố
mới ở nông thôn, là động lực mới, nối tiếp và phát huy động lực kinh tế hộ nông dân, là
sự đột phá trong bước chuyển qua sản xuât nông nghiệp hàng hoá, tạo ra sức sản xu
ất
mới, có khả năng và đã tạo ra khối lượng lớn về nông sản hàng hoá đáp ứng tiêu dùng
trong nước và xuất khẩu.
Kinh tế trang trại làm ra sản phẩm để bán theo yêu cầu của thị trường, nên kích
thích sản xuất và đòi hỏi cạnh tranh để tồn tại, phát triển. Để giành thắng lợi trong cạnh
tranh, các trang trại phải nâng cao năng suất lao động , phải nâng cao chât lượng sản
phẩm, giả
m giá thành sản phẩm và nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh. Muốn vậy
các trang trại phải biết đầu tư qui mô sản xuất hợp lý, đầu tư khoa học cộng nghệ, đầu tư
máy móc thiết bị, tăng cường quản lý , như vậy kinh tế trang trại đã góp phần thúc đẩy
nhanh việc sản xuất hàng hóa trong nông nghiệp nông thôn.
Sự tập trung sản xuất đòi hỏi các trang trại phải sử d
ụng máy móc để sản xuất,
cơ giới hoá khâu làm đất và vận chuyển sản phẩm, cơ khí hóa khâu thu hoạch, khâu
bơm nước tưới, chủ động nguồn nước tưới, điện, Như vậy, kinh tế trang trại đã tạo
điều kiện để đưa nông nghiệp đi dần vào công nghiệp hoá, hiên đại hóa, tạo tiền đề đi
lên sản xuất hàng hóa lớn.
• Vai trò chuyển dịch c
ơ cấu kinh tế và hình thành quan hệ sản xuất mới trong
nông nghiệp và nông thôn.
Sự hình thành và phát triển kinh tế trang trại ở nước ta hiện nay là xu hướng tất
yếu của tập trung hóa, chuyên môn hóa và thị trường hóa sản xuất trong nông nghiệp,
góp phầntích cực trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn,
phát triển các loại cây trồng, vật nuôi có giá trị hàng hoá cao, khắc phục dần tình trạng
manh mún, phân tán, tạo nên những vùng chuyên canh hóa, tập trung hàng hóa và thâm
6
canh cao, tạo điều kiện thúc đẩy công nghiệp phát triển nhất là công nghiệp chế biến,
thương mại và dịch vụ, góp phần làm nông thôn phát triển, tạo thu nhập ổn địnhtrong
một bộ phận dân cư làm nông nghiệp.
Nhiều chủ trang trại đã đầu tư hoặc tự giác hợp tác với nhau để đầu tư mua sắm
máy móc, thiết bị công nghiệp để chế biến sản phẩm t
ạo ra những bán thành phẩm nông
sản hàng hóa cung cấp đầu vào cho các cơ sở chế biến hàng xuất khẩu lớn hơn của Nhà
nước.
Một số doanh nghiệp Nhà nước đã hợp tác với các trang trại, thực hiện đầu tư
ứng trước vốn trên cơ sở diện tích cho chủ trang trại, bao tiêu toàn bộ sản phẩm tạo thế
chủ động về nguồn nguyên liệu cho sản xuất kinh doanh.
M
ột số lâm trường quốc doanh đã khoán khoanh nuôi, bảo vệ,chăm sóc rừng
cho nhân dân.
Điều này đã tạo ra sự phân công và hợp tác, làm chuyển dịch cơ cấu kinh tế
nông nghiệp, nông thôn theo khuynh hướng công nghiệp hoá hiện đại hóa.
• Vai trò huy động, khai thác các nguồn lực trong dân, giải quyết việc làm cho lao
động xã hội, làm giàu cho nông dân, làm giàu cho đất nước.
Kinh tế trang trại là sự đột phá trong bước chuyển sang sản xuất nông nghiệp
hàng hoá, lấy việc khai thác tiềm nă
ng và lợi thế so sánh phục vụ nhu cầu xã hội làm
phương thức chủ yếu, nên các trang trại đang nổ lực tìm mọi biện pháp để phát huy tiềm
năng đât đai, huy động và khai thác được nguồn lực về vốn, lao động, kinh nghiệm và kĩ
thuật trong dân một cách đầy đủ, hợp lý và có hiệu quả để mở rộng và phát triển sản
xuất, tăng thêm lợi nhuận. Sự tích tụ, t
ập trung đất đai và vốn đầu tư cho sản xuất của
các trang trại ngày một lớn hơn.
Chủ trang trại tận dụng mọi nguồn lao động trong gia đình là chính. Song trang
trại nào cũng phải thuê từ 3 - 5 lao động thường xuyên và một đến vài ngàn ngày công
lao động thời vụ.
Kinh tế trang trại đòi hỏi đầu tư lớn để sản xuất ra nhiều sản phẩm đáp ứng nhu
cầ
u thị trường trong và ngoài nước, nên có tổng doanh thu lớn, nộp thuế cho nhà nước
khá nhiều. Ví dụ, tính chung cho khu vực kinh tế trang trại của các tỉnh vùng Đông Nam
Bộ, mỗi năm nộp cho nhà nước ước tính khoảng 3.000 tỷ đồng tiền thuế. Mức và tỉ lệ
đóng góp của các trang trại cho nhà nước và cho cộng đồng chưa nhiều, nhưng đã và
đanh mở ra khả năng tăng nhanh những năm tới. Đi
ều đáng khích lệ là, nguồn đóng góp
7
này được tạo ra trên những vùng đất xấu, khí hậu khắc nghiệt và chủ yếu bằng nguồn
vốn đầu tư của các Chủ trang trại gốc nông dân.
Ngoài việc góp phần làm giàu đất nước, kinh tế trang trại đã mở ra khả năng làm
giàu cho các hộ gia đình nông dân. Kết quả và hiệu quả kinh tế - xã hội rõ nét nhất là
các chủ trang trại đã biến những vùng kinh tế trù phú, mang đậm tính chất sản xuất hàng
hóa quy mô lớn, đầu tư cao, phát triển các loại hình dịch vụ phục vụ sản xuất, đời sống
và sinh hoạt của nông dân, tận dụng sức lao động, tạo việc làm cho dân để phát triển sản
xuất nông, lâm, ngư nghiệp, tạo thêm nhiều của cải vật chất cho xã hội và làm giàu đất
nước, cho chính bản thân của mình.
• Vai trò sử dụng hiệu quả và bảo vệ tài nguyên đất đai.
Bên cạnh l
ợi ích về kinh tế, Nhà nước và cộng đồng còn thu được lợi ích về tài
nguyên và môi trường. Phát triển kinh tế trang trại đã góp phần khai thác và sử dụng có
hiệu quả tài nguyên nông nghiệp (đất, mặt nước, khí hậu, thời tiết), đưa đất đai hoang
hóa vào phát triển sản xuất, nhất là vùng trung du, miền núi và ven biển. Ngoài ra, trang
trại còn góp phần tăng nhanh diện tích rừng bao phủ, bảo vệ môi trường, sinh thái thông
qua việc trồng và bảo vệ r
ừng, tận dụng mặt nước nuôi trồng thuỷ sản
Từ những phân tích trên, có thể nhìn nhận một cách tổng quát là:
• Kinh tế trang trại tuy mới xuất hiện và còn là một lực lượng sản xuất nhỏ bé,
nhưng đang góp phần đáng kể vào phát huy nội lực, khơi dậy tiềm năng lao động, đất
đai, vốn trong dân vào sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp - nông
thôn.
• Phát triển kinh t
ế trang trại ở nước ta hiện nay là rất cần thiết, đúng hướng. Kinh
tế trang trại giữ vai trò quan trọng trong sản xuất nông nghiệp, đang trở thành một hình
thức tổ chức sản xuất chủ yếu, một mô hình làm ăn kinh tế phổ biến, có hiệu quả và
không lâu sẽ trở thành một bộ phận kinh tế quan trọng ở nước ta. Nhưng trên thực tế, xã
hội chưa có thố
ng nhất nhận thức về vai trò, vị trí của kinh tế trang trại, làm cho chủ
trang trại chưa yên tâm, gặp nhiều khó khăn trong quá trình tổ chức sản xuất và giao
dịch trên thương trường. Vì vậy cần phải khuyến khích, tạo điều kiện cho kinh tế trang
trại phát triển như một tổ chức kinh tế có đầy đủ tư cách pháp nhân, theo quy định của
pháp luật.
• Kinh tế trang trại là một bộ
phận của nền nông nghiệp sản xuất hàng hoá nhiều
thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường, có sự quản lý của nhà nước theo định
8
hướng xã hội chủ nghĩa, nên nó cũng được hưởng tất cả chính sách đổi mới của Đảng và
Nhà nươc đối với nông nghiệp; đồng thời, kinh tế trang trại cũng phải làm tất cả nghĩa
vụ mà các thành phần kinh tế khác trong nông nghiệp phải làm. Ngoài ra, kinh tế trang
trại mang nhiều yếu tố sản xuất hàng hoá lớn, sẽ gánh vác vai trò lịch sử của nó là thực
hiện sự phân công sâu sắc hơn và h
ợp tác rộng hơn, cùng với các thành phần, lĩnh vực
kinh tế khác trong phát triển sản xuất nông- lâm- ngư nghiệp, chế biến nông sản thực
phẩm, mở mang ngành nghề, dịch vụ ở nông thôn theo cơ cấu hợp lý, góp phần đẩy
nhanh tiến trình công nghiệp hoá, hiện đaị hoá nông nghiệp nông thôn.
• Sự ra đời, hiệu quả hoạt động kinh tế trang trại ở Việt Nam tuy đã khẳng định
đượ
c bước đầu những ưu thế và vai trò của nó đó đối với sự tăng trưởng, phát triển kinh
tế - xã hội nhưng kéo theo đó cũng nảy sinh nhiều vấn đề cần được khắc phục, đó là:
_ Cùng với sự phát triển của kinh tế trang trại thì sự phân cực và những bất bình
đẳng trong nông nghiệp- nông thôn cũng có xu hướng gay gắt thêm mà nổi bật là hố sâu
của sự giàu nghèo, sự chênh l
ệch lớn trong hưởng thụ những thành quả mà tăng trưởng
và đổi mới mang lại.
_ Sự tích tụ ruộng đất khá lớn vào tay một số người. Phát triển kinh tế trang trại
tất yếu sẽ dẫn đến tích tụ và tập trung ruộng đất. Điều cần lưu ý là Vấn đề ruộng đất
không phải chỉ là vấn đề kinh tế thuần nhất, mà còn là vấn đề ý ngh
ĩa trọng yếu về
chính trị - xã hội.
_ Kinh tế trang trại là hình thức tổ chức sản xuất kinh doanh chứ không phải là
tổ chức kinh tế xã hội. Do đó, cần tránh sự nhìn nhận thái quá, từ đó, ép “ đẻ non” ra
những trang trại, hoặc “phong trào hoá” kinh tế trang trại.
_ Có thái độ phủ nhận những loại hình tổ chức kinh doanh khác đang tồn tại,
phát sinh tác dụng tích cực trong nông nghiệp, nông thôn như kinh tế hộ
, kinh tế hợp
tác.
_ Coi nhẹ ý nghĩa của việc bảo vệ môi trường sinh thái trong quá trình phát triển
kinh tế trang trại.
2.2. Cơ Sở Thực Tiễn
2.2.1. Kinh Tế Trang Trại Ở Việt Nam
Quá trình hình thành và phát triển kinh tế trang trại của nước ta trải qua nhiều
giai đoạn lịch sử của đất nước. Trước cách mạng và trong thời kì chống Pháp và chống
Mỹ đã có dạng trang trại, đồn điề
n của địa chủ và phú nông. Dạng trang trại này chủ
9
yếu là sử dụng lao động làm thuê từ tá điền, cũng là kiểu phát canh thu tô và công cụ
sản xuất thủ công, sử dụng sức người sức súc vật là chính. Ngoài ra, nó còn mang tính
quảng canh và độc canh cây lúa là chính.
Bên cạnh đó, còn có kinh tế trang trại của những nhà tư sản trong nước và nước
ngoài cũng như một số tướng lĩnh thời ngụy làm ăn kinh tế. Hình thức trang trại lúc này
ở dạng các xí nghiệp nông nghiệp tư b
ản chủ nghĩa, đồn điền cao su, cà phê và những
cây công nghiệp khác phục vụ cho mục đích làm giàu của chúng.
Sau khi đất nước hoàn toàn giải phóng (30/04/1975) các trang trại trước đó
không còn nữa và được cải tạo, tập thể hóa, quốc doanh hóa thành các cơ sở sản xuất
tập thể và nhà nước dưới hình thức hợp tác xã, nông trường, trạm, trại. Tiếp theo đó,
nhà nước đã có những chủ trương mới về giao
đất, giao rừng, thực hiện nông lâm kết
hợp, khuyến khích di dân kinh tế mới, khai hoang đất mới đã tạo tiền đề cho kinh tế
trang trại phát triển. Đặc biệt, nghị quyết 10 của Bộ chính trị khoá VI và nghị quyết TW
5 khóa VII cũng như luật đất đai năm 1993 đã mở đường cho các thành phần kinh tế
nông nghiệp phát triển và từ đó xuất hiện nhiều chủ trang trại. Bước sơ
khai của kinh tế
trang trại trong giai đoạn này mang tính tự phát và đến nay đã được Trung ương quan
tâm( từ hội nghị TW 4 khoá khóa VIII ).
Chính phủ đã ban hành nghị quyết 03/2000/NQ - CP ngày 02/02/2000 về kinh tế
trang trại đã nhấn mạnh chủ trương của Chính phủ trong việc phát triển kinh tế trang
trại.Tạo điều kiện hợp pháp cho loại hình kinh tế trang trại phát huy năng lực sản xuất,
kinh doanh thông qua các chính sách ưu đãi về nhiều m
ặt đối với kinh tế trang trại.
Mặt khác, hình thành các tiêu chí kinh tế trang trại nhằm tạo điều kiện quản lý,
hỗ trợ và khuyến khích phát triển kinh tế trang trại trong nền kinh tế thị trường có sự
quản lý của Nhà nước.
Như vậy sự hình thành kinh tế trang trại ở nước ta là sự vận động thoát thai từ
kinh tế nông hộ gắn liền với quá trình đổi mới của đất n
ước và quá trình hình thành kinh
tế trang trại chứa đựng những đặc điểm sau đây:
Những đặc điểm về quá trình phát triển kinh tế trang trại ở nước ta
_ Sự hình thành kinh tế trang trại diễn ra với tốc độ nhanh, chủ yếu là những
năm đổi mới, nhất là thời gian gần đây khả năng phát triển mạnh. Quá trình này hàm
chứa xu hướng phát triển kinh tế hàng hoá, đi lên sản xuất l
ớn trong nông nghiệp,
hướng đến thị trường là xu thế hợp với quy luật phát triển.
10
_ Có nhiều thành phần kinh tế trong xã hội tham gia kinh tế trang trại nhưng nền
tảng chủ yếu hình thành kinh tế trang trại là do vận động kinh tế hộ gia đình nông dân.
Điều đó cho thấy chủ trang trại có trang trại có năng lực thực sự để đáp ứng nhu cầu sản
xuất hàng hoá hướng đến người tiêu dùng và có khả năng trong quản lý, điều hành sản
xuất cũng như áp d
ụng các tiến bộ mới vào sản xuất của họ nhằm đáp ứng nhu cầu nông
sản hàng hóa cho xã hội.
_ Các trang trại đều có điểm xuất phát chung là hình thành và đi lên từ đất đai,
chủ yếu là đất rừng và hoang hoá ở vùng đồi núi và vùng Đồng Tháp Mười, Tây
Nguyên, Đông Nam Bộ. Một số không nhỏ được hình thành từ quá trình tích tụ và tập
trung đất đai vượt hạn điền, nhưng không phải t
ước đoạt, mua bán mà chủ yếu thông
qua sự điều tiết bởi các chính sách của nhà nước thể hiện ở luật đất đai như giao quyền
sử dụng đất, giao khoán đất, đấu thầu cho thuê,
2.2.2. Kinh Nghiệm Phát Triển Kinh Tế Trang Trại Của Một Số Nước Trên Thế
Giới
Nền nông nghiệp đã tồn tại hàng ngàn năm và phát triển với phương thức kinh
doanh
đa dạng, phong phú bởi sự không thuần nhất của cây trồng, vật nuôi có quá trình
sinh trưởng, phát triển theo quy luật sinh học, trên các nền tự nhiên, xã hội khác nhau.
Hình thức kinh tế trang trại đã manh nha và phát triển qua các giai đoạn lịch sử xã hội.
Trang trại gia đình là loại hình cơ sở sản xuất nông nghiệp của các hộ gia đình
nông dân, hình thành và phát triển trong điều kiện của nền kinh tế thị trường từ khi
phương th
ức sản xuất tư bản thay thế phương thức sản xuất phong kiến, khi bắt đầu
cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ nhất ở một số nước châu Âu.
Về kinh tế nông hộ, C.Mác khi nghiên cứu tình hình kinh tế- xã hội của các
nước Tây Âu, đặc biệt là nước Anh, một nước tiến hành công nghiệp hóa sớm, lúc đầu
C.Mác dự đoán trong nông nghiệp cũng phát triển theo hướng tập trung như công
nghi
ệp, giai cấp nông dân sẽ bị xóa bỏ cùng với sự phát triển của đại công nghiệp.Ông
viết: “ Trong lĩnh vực nông nghiệp, đại công nghiệp tác động cách mạng hơn cả theo
nghĩa nó thủ tiêu thành trì của xã hội cũ là người nông dân và thay thế nó bằng người
công nhân làm thuê ”â. [ C.Mác. Tư bản. Quyển1, tr631].
Tuy nhiên sau đó, sự phát triển kinh tế nông nghiệp - nông thôn có quy luật
riêng của nó, bất chấp xu hướng ban đầudiễn ra trong thời kì công nghiệp hoá nhanh
chóng ở
nươc Anh, trang trại gia đình vẫn tỏ ra sức sống mãnh liệt với hiệu quả của
11
nó.Từ đó, khi viết quyển III bộ tư bản, C.Mác đã rút ra kết luận :” Ngay những nước
siêu công nghiệp đã khẳng định hình thức lãi nhất không phải là trang trại công nghiệp
mà là trang trại gia đình không sử dụng lao động làm thuê. Ở những nước còn giữ hình
thức tư hữu chia đất thành khoanh nhỏ, giá lúa mì rẻ hơn so với các nước có nền sản
xuất tư bản chủ nghĩa”.[C.Mác. Tư bản,quy
ển 3,tr265].
V.I.Lê Nin khi bàn về sự lựa chọn con đường phát triển nông nghiệp của nước
Nga trong tác phẩm” Sự phát triển chủ nghĩa tư bản ở nước Nga” đã phân tích đời sống
chính trị- kinh tế của các tầng lớp xã hội, phân tích sự phân hoá và phân tầng của nông
dân thành chủ trại và vô sản ở nông thôn và dự đoán xu hướng phát triển” Tính thuần
nhất của kinh tế tự nhiên khuôn theo nếp cũ đã nhường ch
ổ cho tính muôn màu, muôn
vẻ của những hình thức nông nghiệp thương phẩm”.[ V.I.Lê Nin toàn tập. Sự phát triển
chủ nghĩa tư bản ở nước Nga.Tr 388].
Kinh tế trang trại ở nhiều nước trên thế giới đã trải qua quá trình phát triển hàng
năm với đặc điểm khác nhau, tuỳ thuộc vào điều kiện kinh tế- xã hội chính trị truyền
thống ở từng nước và ngày càng trở thành nhân tố tích cực thúc
đẩy sản xuất phát triển.
Từ những đặc điểm của quá trình hình thành và phát triển đó, có thể rút ra một
số bài học kinh nghiệm đó là:
- Một là: Quá trình phát triển trang trại ở hầu hết các nước trên thế giới( các
nước công nghiệp phát triển cũng như các nước đang phát triển) đều có xu hướng chung
là:
• Kinh tế trang trại là một trong những biểu hiện văn minh kinh tế trong lĩnh vực
sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp đã xuất hiện ở một số nước trên thế giới vào thời kỳ
kinh tế hàng hóa bắt dầu được vận hành theo cơ chế thị trường. Cho đến nay kinh tế
trang trại đã phát triển hầu hết các nước có sản xuất nông - lâm nghiệp và trở thành mô
hình sản xuất phổ biến nhất của nền nông nghiệp thế giới.
• Trang trại là loạ
i hình tổ chức sản xuất nông nghiệp của các hộ gia đình nông
dân, phù hợp gắn liền với quá trình công nghiệp hóa từ thấp đến cao. Kinh tế trang trại
là sự phát triển tất yếu của nền nông nghiệp và là sản phẩm tất yếu của kinh tế thị
trường và của quá trình công nghiệp hóa. Chính công nghiệp hóa đã đặt yêu cầu khách
quan cho phát triển sản xuất nông sản hàng hóa nhằm đáp ứng nhu cầu công nghiệp hóa
và tạo ra những điều kiện cho kinh tế trang trại hình thành và phát triển.
12
• Các trang trại gia đình được hình thành chủ yếu từ cơ sở của các hộ tiểu nông
sau khi phá vỡ cái vỏ bọc sản xuất tự cấp, tự túc khép kín, vươn lên sản xuất nhiều nông
sản hàng hoá với qui mô từ nhỏ đến lớn, tiếp cận với thị trường, từng bước thích nghi
với nền kinh tế cạnh tranh. So với kinh tế tiểu nông thì kinh tế trang trại là một bước
phát triể
n của nền sản xuất xã hội.
• Trải qua hàng thế kỷ nay, trang trại tiếp tục phát triển từ các nước tư bản công
nghiệp lâu đời, đến các nước đang phát triển, các nước công nghiệp mới và bắt đầu đi
vào các nước xã hội chủ nghĩa với các cơ cấu và qui mô sản xuất khác nhau.
• Con đường đi từ kinh tế tự nhiên sang kinh tế hàng hóa, từ sản xuất tiểu nông
sang sản xuất trang trại, không phải là sản phẩm riêng của các nước công nghiệp hoá tư
bản chủ nghĩa, mà là bước phát triển tất yếu của xã hội, phù hợp với qui luật tiến hóa
chung của loài người. Kinh tế trang trại không quyết định bản chất của một chế độ xã
hội. Chưa có dấu hiệu tư bản hóa loại hình kinh tế trang trại. Khi chủ nghĩa tư bản phát
tri
ển, hình thành nên thị trường sản xuất hàng hoá phát triển, một bộ phận lao động
nông nghiệp trở thành lao động làm thuê nhưng trang trại vẫn tồn tại và phát triển.
• Đến thập kỷ cuối cùng của thế kỷ XX, trang trại trở thành mô hình sản xuất phổ
biến nhất của nền nông nghiệp thế giới, chiếm tỷ trọng lớn tuyệt đối về đất canh tác và
khối lượng nông sả
n làm ra. Theo Nguyễn Điền, Trần Đức, Trần Huy Năng, 1993 thì:
• Trên thế giới hiện nay có khoảng trên 300 triệu trang trại gia đình (ở Mỹ có
khoảng 96- 98% trang trại là trang trại gia đình). Hiện nay ở các nước tư bản phát triển,
trang trại gia đình chỉ chiếm 5- 7% lao động toàn xã hội nhưng vẫn sản xuất nông sản
nuôi sống cả xã hội. Kinh tế trang trại gia đình đã có sự thích nghi với điề
u kiện phát
triển của chủ nghĩa tư bản phát triển.
• Kinh tế trang trại có thể và có điều kiện phát triển ở tất cả các lĩnh vực sản xuất
kinh doanh nông nghiệp( nông, lâm, ngư nghiệp) và tất cả các vùng khác nhau ( đồi núi,
đồng bằng, ven biển, ).
• Ở hầu hết các nước, trang trại là hình thức tổ chức sản xuất giữ vị trí xung kích
trong quá trình công nghiệp hoá nông nghiệp, nông thôn và trở thành lực l
ượng chủ lực
khi nền kinh tế phát triển đến giai đoạn cao. Thực tiễn đã chứng tỏ rằng kinh tế trang
trại có vai trò quan trọng ở các nước đang phát triển (Hàn Quốc, Đài Loan, ) và đang
tiếp tục phát huy tác dụng ở những nước có nền kinh tế thi trường phát triển cao ( Mỹ,
Tây Âu, Nhật Bản, ). Kinh tế trang trại gia đình đã thể hiện rõ vai trò tích cực trong
13
quá trình phát triển nông nghiệp thế giới, thúc đẩy ngành sản xuất nông sản xuất hàng
hóa và đưa nền nông nghiệp tiến lên hiện đại.
• Trong thời kì bắt đầu công nghiệp hóa, lao động ở nông thôn tăng nhiều, nhưng
khả năng còn thấp, thì số lượng trang trại gia đình tiếp tuc tăng nhiều, quy mô nhỏ. Khi
công nghiệp phát triển đạt trình độ cao, khả năng thu hút lao động của công nghiệp và
dịch vụ tăng thì s
ố lượng trang trai giảm, quy mô lại tăng.
Ở hầu hết các nước, trang trại là hình thức tổ chức sản suất xung kích trong quá
trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn và trở thành lực lượng
chủ lực của nền kinh tế phát triển của trình độ cao. Thực tiễn đã chứng tỏ rằng kinh tế
trang trại có vai trò quan trọng ở các nước kinh tế đang phát triển (Hàn quốc, Đài loan
) và đang phát huy tác dụng ở
những nước có nền kinh tế thị trường phát triển cao (Mĩ,
Nhật, Tây âu ). kinh tế trang trại đã thể hiện rõ vai trò tích cực trong phát triển nông
nghiệp thế giới, thúc đẩy nhanh sản xuất nông sản hàng hoá và đưa nền nông nghiệp
tiến lên hiện đại.
• Trong thời kì bắt đầu công nghiệp hóa, lao đông ở nông thôn tăng nhiều, nhưng
khả năng còn thấp, thì số luợng trang trại còn tăng nhiều, quy mô nhỏ. Khi công nghi
ệp
phát triển đến trình đô cao, khả năng thu hút lao đông của công nghiệp cao thì số lượng
trang trại giảm, quy mô lại tăng.
Theo Nguyễn Điền, Trần Đức, Trần Huy Năng,1993 thì:
Ở những vùng đất mới như Châu Mĩ và Châu Úc thì quy mô trang trại lại rất
lớn. Như ở Mĩ, mỗi trang trại có diện tích bình quân từ 180 -200 ha, ở Canada là 400 -
450 ha, ở Úc là 500 ha, thậm chí hàng nghìn ha vv Họ gọi là trang trại, nhưng thực
chấ
t đó là những đồn điền được nhà nước khuyến khích, bảo vệ bằng hệ thống pháp luật
hoàn chỉnh
Ở Mỹ, năm 1950 có 5.648.000 trang trại với diện tích bình quân là 86 ha/ trang
trại còn 2.954.000 là trang trại với diện tích bình quân 151 ha / trang trại và đến năm
1992 còn 1.925.000 trang trại có diện tích bình quân là 198 ha / trang trại. Về cơ cấu sản
xuất, trang trại sản xuất ngũ cốc chiếm phần lớn, ngoài ra còn có trang trại sản xuất
khoai tây ch
ăn nuôi bò sữa và gia cầm nhưng thành tựu chủ yếu của nền nông nghiệp
Mĩ là nhờ kinh tế trang trại.
Ở Anh, năm 1950 có 453.000 trang trại với diện tích bình quân là 36 ha, đến
năm 1987 còn 254.000 trang trại với diện tích bình quân là 71 ha/trang trại.
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét