Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
khi M tăng lên sẽ làm cho mức giá P tăng lên. Nh vậy là khối lợng tiền tệ tăng
lên là nguyên nhân gây ra lạm phát.
Cũng từ M.V =P.Y theo tính chất toán học ta có % thay đổi của M + %
thay đổi của V = % thay đổi của P + % thay đổi của Y.
Vì V = V nên ta có
% thay đổi của M = % thay đổi của P + % thay đổi của Y mà sự thay đổi
của M là do ngân hàng TW cơ quan phát hành tiền quyết định. % thay đổi của
Y do khoa học kỹ thuật quyết định. % của P chính là tỷ lệ lạm phát.
% thay đổi của P = % thay đổi của M - % thay đổi của Y. Vậy là tỷ lệ lạm
phát do ngân hàng TW quyết định. Đây là nội dung của thuyết số lợng tiền tệ.
Thuyết số lợng tiền tệ nói rằng : Ngân hàng TW cơ quan kiểm soát mức
cung ứng tiền tệ trực tiếp kiểm soát tỷ lệ lạm phát.
Theo đó mọi sự tăng tiền tệ cao hơn tăng sản xuất thực tế đều đợc thể hiện
ra bằng sự hiệu chỉnh giá cả chung sao cho giá trị tổng thể của trao đổi bằng giá
trị của khối lợng tiền tệ đang lu thông. Trong ngắn hạn hoặc trong trờng hợp bộ
máy sản xuất không đáp ứng đợc nhu cầu tăng lên của khối lợng tiền tệ giá cả
sẽ tỷ lệ thuận với biến động của khối lợng tiền tệ.
2.2. Lạm phát do cầu.
Giả sử xảy ra hiện tợng thu nhập ngoại tệ từ nớc ngoài tăng đột biến là lợi
nhuận cổ phần và lãi suất trái phiếu thu về từ nớc ngoài tăng, hoặc tăng tiêu
dùng giảm tiêu dùng và tích luỹ làm cho xu hớng tiêu dùng tăng mạnh đến một
mức mà sản xuất không thể đáp ứng đợc sự gia tăng đó. Điều này xảy ra trong
ngắn hạn khi mức sản xuất cha kịp thay đổi hoặc trong trờng hợp đặc biệt là
moị nguồn lực đợc huy động hàng dự trữ đã tung ra hết vẫn không đáp ứng nhu
cầu và nh thế là nhu cầu đã quá mức. Quan hệ cung cầu sẽ đợc hiệu chỉnh giá
cả tăng lên dẫn đến lạm phát.
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
Sự khác biệt đặc thù giữa cách giải thích lạm phát bằng nhu cầu với cách
giải thích bằng tiền tệ là ở chỗ. Dù khối lợng tiền tệ mặc cho là nhiều hay ít thì
lạm phát cũng chỉ xảy ra khi bộ máy sản xuất không đáp ứng đợc nhu cầu.
Trong chiến tranh thế giới lần 2 các nớc ta tập trung sản xuất các hàng hoá
phục vụ chiến tranh vì thế đã cắt bớt hàng hoá tiêu dùng nh thế thu nhập bằng
tiền của họ tăng cao trong khi các hàng hoá tiêu dùng ít tất nhiên lạm phát xảy
ra. Ví dụ giản đơn nh sau : Ví dụ thu nhập là 10.000USD nộp thuế 1.000USD
còn lại 8000 để tiêu dùng để dành 500 nhu cầu về hàng hoá tiêu dùng là 7500.
Trong thời gian này giá trị hàng hoá phục vụ chiến tranh là 4000 giá trị hàng
hoá tiêu dùng là : 10.000 - 4000 = 6000. Vậy là cầu đã vợt cung về hàng hoá
tiêu dùng là 1500. Ngân sách CP bội chi ở mức 4000 - 2000 thuế. Nếu vay trong
dân chúng khoản tiền dành thì Nhà nớc vẫn phải phát hành tiền giấy thêm 1500
USD nữa. Để cân bằng cung cầu giá cả sẽ tăng lên ở mức 1500/6000 = 25%.
Nhu cầu quá mức dẫn đến lạm phát có thể mô tả bằng mô hình cung cầu
sau :
P
P
2
P
1
Y
2.3. Lạm phát do chi phí đẩy.
Khi chi phí sản xuất tâng cao hơn so với khả năng sản xuất của chúng sẽ
kích động các doanh nghiệp phải tăng mức giá hàng hoá và dịch vụ nó cung
cấp. Đến lợt những ngời sử dụng những hàng hoá và dịch vụ đó lại tăng mức giá
Khi nhu cầu tang làm AD dịch từ
AD1 AD2 làm giá cả cân bằng
tăng từ P1 P2
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
của sản phẩm mà họ sản xuất hay đòi tăng lơng đối với các nhân cử nh thế giá
cả ngày càng tăng cao. Theo quan điểm này thì nguồn gốc của lạm phát bắt
nguồn từ chi phí cho các yếu tố sản xuất.
Những nhân tố của sản xuất bao gồm lao động, t bản, tài nguyên thiên
nhiên và công nghệ. Một sự thay đổi đột ngột của các yếu tố sản xuất làm thay
đổi mức cung ứng hàng hoá. Khi giá dầu lửa đột biến gia tăng chi phí sản xuất
sẽ tăng lên, các doanh nghiệp có xu hớng sản xuất ít hơn trong ngắn hạn tạo ra
sự thiếu cung ngay lập tức giá cả sẽ tăng lên làm cân bằng cung cầu. Trong dài
hạn các doanh nghiệp sẽ đáp ứng đợc nhu cầu với mức giá cả hàng hoá tăng cao
hơn trớc mặc dù số lợng sản phẩm không bị giảm sút. Các yếu tố khác thuộc
thành phần t bản và các yếu tố về tài nguyên và công nghệ cũng gây ra lạm phát
với cơ chế tơng tự nh tăng giá dầu lửa.
Khi tiền thuê công nhân tăng lên trong một hay nhiều ngành nó sẽ đợc áp
dụng cho tất cả các doanh nghiệp của ngành đó và tiếp đó nan ra các ngành
khác gây ra khó khăn cho các doanh nghiệp yếu kém. Để tránh khỏi sự phá sản
các doanh nghiệp này không còn cách nào khác là gia tăng giá hàng hoá.
2.4. Lạm phát, hiện tợng cơ cấu.
Lạm phát cho hiện tợng cơ cấu đợc phổ biến ở các nớc đang phát triển theo
lý thuyết này lạm phát xảy ra do mất cân đối sâu sắc trong chính cơ cấu của nền
kinh tế, mất cân đối trong tích lũy và tiêu dùng giữa công nghiệp nặng và công
nghiệp nhẹ giữa công nghiệp và nông nghiệp Sự mất cân đối trong cơ cấu
kinh tế làm cho nền kinh tế hoạt động không có hiệu quả, khuyến khích các lĩnh
vực đòi hỏi chi phí tăng cao. Xét về mặt này lý thuyết cơ cấu giống nh lý thuyết
chi phí.
3. Những tác động của lạm phát.
3.1. Lạm phát dự kiến.
Khi mọi ngời hình thành dự kiến về mức lạm phát trong tơng lai và mức
lạm phát thực tế lại bằng đúng mức lạm phát dự kiến đó thì tác động tiêu cực
của lạm phát sẽ nhẹ nhàng hơn và không gây ra những biến động quá lớn đối
với nền kinh tế. Ví dụ nh lạm phát mỗi tháng là 1% và duy trì trong suốt 12
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
tháng vậy thì lạm phát của 1 năm sẽ là 12%. Những tác động tiêu cực có thể kể
đến nh sau :
Thứ nhất : Lạm phát cao làm tăng lãi suất danh nghĩa. Vì lãi suất là chi phí
của việc giữ tiền cho nên lãi suất tăng mọi ngời sẽ giữ ít tiền hơn. Việc giữ lại ít
tiền gây ra một bất tiện là phải đi rút tiền nhiều lần trong ngân hàng gây ra chi
phí mòn giầy. Đi nhiều lần tới Ngân hàng giầy của ta sẽ bị mòn.
Thứ hai : Lạm phát làm tăng giá cả hàng hoá buộc các doanh nghiệp phải
chi thêm tiền vào việc in ấn lại các bảng biểu giá cả cp1 này gọi là chi phí thực
đơn.
Thứ ba : Do phải mất chi phí thực đơn các doanh nghiệp thờng ngại điều
chỉnh giá cả thờng xuyên làm cho giá cả tơng đối biến động càng lớn. Ví dụ
lạm phát 1/6 vào tháng 1 và tăng đều trong suốt 12 tháng do ngại chi phí thực
đơn mà các doanh nghiệp không điều chỉnh giá cả đến tháng 12 giá cả đã thay
đổi 12%. Vì nền kinh tế thị trờng phân bổ các nguồn lực theo giá cả tơng đối
nên dẫn đến kém hiệu quả trong việc sử dụng các nguồn lực.
Thứ t : Do luật thuế gây lên : luật thuế không tính đến tác động của lạm
phát nên đôi khi đánh thuê thu nhập vào các đối tợng mà thu nhập thực tế bằng
không hoặc âm sau khi tính toán cả lạm phát.
VD : Ông A có 1000USD mua cổ phiếu sau 1 năm ông A bán nó đi với giá
trị thực. Nếu lạm phát bằng O thì giá ban đầu bằng 0. Nếu lạm phát xảy ra trong
năm đó giả sử là 10% thì giá trị thực của cổ phiếu ông A bán ra là 1000 +
1000.10% = 1100USD. Luật thuế không tính lạm phát cho nên cho rằng
100USD mà là thu nhập từ nguồn vốn ban đầu của ông A, ông A phải chịu thuế
cho mức 100USD này.
3.2. Lạm phát không dự kiến.
Lạm phát không dự kiến gây ra sự phân phối lại thu nhập giữa các thành
viên trong nền kinh tế một cách độc đoán. Sự phân phối lại thu nhập độc đoán
thể hiện ở các khoản cho vay dài hạn, các hợp đồng vay mợn dài hạn với mức
lãi suất danh nghĩa dựa trên sự dự kiến trớc về mức lạm phát. Nếu lạm phát thực
tế đúng bằng lạm phát dự kiến thì lãi suất thực đúng bằng lãi suất danh nghĩa.
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
Nếu lạm phát thực cao hơn lạm phát dự kiến thì lợi ích lại thuộc về ngời đi
vay.
Thông thờng trong các hợp đồng kinh tế giữa công nhân và chủ doanh
nghiệp thì mức lơng cũng cố định trong một thời gian nhất định khi lạm phát
xảy ra thì sự thay đổi mức lơng cha. Ngay lập tức thay đổi hoặc nếu có thay đổi
cũng thấp hơn so với sự gia tăng của giá cả cho nên đời sống công nhân gặp khó
khăn.
4. Các giải pháp chung chống lạm phát.
Trong phần trình bày về các lý thuýet lớn về lạm phát đã nêu ra những
nguyên nhân căn bản của lạm phát tuy nhiên lạm phát còn do rất nhiều các
nguyên nhân khác hơn nữa mỗi cuộc lạm phát, xảy ra có thể có hai hay nhiều
nguyên nhân cùng tác động tới hoặc có thể chỉ do một nguyên nhân. Theo
những nguyên nhân tìm ra mà ngời ta có những chính sách, biện pháp khác
nhau để chống lại nó.
Nếu lạm phát là do Nhà nớc tiêu dùng quá nhiều phải phát hành thêm tiền
để bù cho khoản chi tức là lạm phát theo thuyết tiền tệ thì giải pháp sẽ là cắt
giảm dần việc phát hành tiền giấy mà sử dụng biện pháp vay nợ nhân dân để chi
tiêu. Bằng cách tăng lãi suất, khi tăng mức vay chính phủ phải tính đến việc chi
trả tuy nhiên việc chi trả sẽ tiến hành trong dài hạn sẽ làm hạn chế tác động
không tốt đối với nền kinh tế.
Nếu lạm phát là do mức chi phí quá cao, cao hơn mức năng suất lao động
thì giải pháp duy nhất là đổi mới công nghệ, kỹ thuật cải tiến hệ thống quản lý.
Đây là một việc làm khó khăn đòi hỏi thời gian dài.
Nếu lạm phát có liên quan đến ngoại thơng, hoặc điều kiện quốc tế thì vai
trò của ngoại giáo là cực kỳ quan trọng. Nhà nớc cần có chính sách phù hợp.
Biện pháp sử dụng lãi suất để kiểm soát lạm phát là biện pháp sử dụng đối
với lạm phát do cầu. Khi Nhà nớc duy trì mức lãi suất thấp hơn lạm phát tức lãi
suất thực tế là số âm mọi ngời sẽ rút tiền ra khỏi ngân hàng và đổ xô vào mua
vàng, bạc và các hàng hoá tích trữ và nh thế lạm phát sẽ ra tăng lãi suất cao hơn
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
lạm phát tức là lãi suất thực là số dơng khi đó mọi ngời sẽ sử dụng nhiều tiền
cho việc gửi tiết kiệm hoặc cho vay làm cho lạm phát giảm.
Vậy là để giảm mức lạm phát thì tăng lãi suất xét về lý luận là hợp lý. Thế
nhng việc tăng lãi suất còn tác động đến các vấn đề khác nữa : Lãi suất cao mọi
ngời sẽ giảm bớt tiêu dùng để gửi tiết kiệm làm giảm tiêu dùng, lãi suất cao làm
thoái lui đầu t. Cả hai hậu quả trên gây ra một hiện tợng là tổng cầu của nền
kinh tế bị suy giảm dẫn đến sản lợng thấp, thất nghiệp gia tăng, nhiều doanh
nghiệp bị phá sản. Nh vậy tăng lãi suất có tính hai mặt. Đối với bất kỳ nền kinh
tế nào cần đạt đợc mức lạm phát thấp mà không bị suy thoái cho nên khi áp
dụng biện pháp tăng lãi suất để kiểm soát lạm phát cần có sự tính toán, cân nhắc
để có mức tăng hợp lý.
II. Thất nghiệp
Thất nghiệp luôn là một vấn đề nan giải đối với mọi nền kinh tế, nó tác
động đến nhiều mặt của xã hội. Hạn chế tối đa thất nghiệp đa nền kinh tế đến
gần mức toàn dụng nhân công là mục tiêu cơ bản trong chiến lợc phát triển kinh
tế, là mối quan tâm lớn của các nhà kinh tế và hoạch định chính sách.
1. Những khái niệm.
Thất nghiệp đợc hiểu đơn giản là không có việc làm, không tạo ra đợc thu
nhập và đời sống sẽ gặp khó khăn vậy thực chất việc làm là gì ? Thất nghiệp là
nh thế nào ?
Theo quan điểm của Việt Nam việc làm là những hoạt động có ích, không
bị pháp luật ngăn cấm, có thu nhập hoặc tạo điều kiện tăng thu nhập cho ngời
khác trong một đơn vị kinh tế. Việc làm có 3 dạng là : Việc làm trực tiếp đợc
trả công, bằng tiền hoặc hiện vật, việc làm thu đợc lợi nhuận và cuối cùng là
những việc làm cho gia đình nhng không đợc trả thù lao. Trong định nghĩa nếu
trênghiên cứu ó sự khác biệt so với định nghĩa của một số nớc khác : Nó không
tính đến thời gian làm việc, mức thu nhập của công việc. ở Mỹ ngời ta quy định
phải làm trên 35h/1tuần mới coi là có việc làm hay nh ở Philippin ngời ta quy
định tiền lơng tối thiểu và mức thu nhập từ việc làm phải thấp nhất đạt 80% so
với tiền lơng tối thiểu mới là có việc làm.
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
Thất nghiệp cũng theo quan điểm của Việt Nam thì tình trạng ngời trong
độ tuổi lao động theo quy định, có khả năng làm việc hiện cha có việc làm và
đang đi kiếm việc làm gọi là thất nghiệp . Định nghĩa này nêu rõ thất nghiệp
chỉ tính cho những ngời trong độ tuổi lao động theo quy định ở Việt Nam độ
tuổi lao động với nam là từ 15 - 60 với nữ là từ 15 đến 55. Cũng theo định nghĩa
này những ngời cha có việc làm ở độ tuổi lao động mà không muốn đi tìm việc
làm tức là không muốn đi làm thì cũng không tính đến trong diện thất nghiệp.
Những ngời này không đợc tính vào diện thất nghiệp.
Lực lợng lao động là bao gồm những ngời có việc làm và thất nghiệp. Có
những nớc còn tính cả lực lợng vũ trang vào lực lợng lao động. Theo định
nghĩa này những ngời không thuộc lực lợng lao động là : Học sinh, sinh viên
chính quy, ngời mất sức lao động học sinh hay đơn giản là những ngời không
thích làm việc.
2. Phân loại thất nghiệp.
Ngời ta thờng phân chia thất nghiệp ra làm 3 loại là thất nghiệp bất đồng,
thất nghiệp cơ cấu và thất nghiệp chu kỳ.
Thất nghiệp bất đồng : Là loại thất nghiệp mà đối tợng chủ yếu là những
ngời đang đi tìm việc làm xuất thân từ những ngời bỏ việc, những ngời bắt đầu
tham gia vào lực lợng lao động, những ngời tàn tật vẫn có khả năng làm việc
nhng đang tìm việc làm và những ngời làm việc theo thời vụ.
Thất nghiệp bất đồng là hiển nhiên tồn tại ở tất cả các nớc có nền kinh tế
hàng hoá bởi những lý do đơn giản là : Trong xã hội luôn luôn có một lợp ngời
mới đợc đào tạo và đang đi tìm việc làm. Những ngời không thích công việc
hiện tại của họ muốn có một công việc khác thích hợp, thu nhập cao hơn, những
quân nhân xuất ngũ đang đi kiếm việc làm.
Thất nghiệp cơ cấu (Structural Unemploment) hay còn gọi là thất nghiệp
bất tơng xứng. (Mismatching Unemployment) là loại thất nghiệp xảy ra khi nền
kinh tế có sự mất cân bằng về cơ cấu giữa cung và cầu lao động. Sự mất cân
bằng cung cầu lao động có thể xảy ra theo ngành hoặc theo vùng. Có hai
nguyên nhân dẫn đến mất cân bằng cung cầu lao động là :
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
Thứ nhất là do thiếu kỹ năng có thể kể ra một ví dụ nh sau : Ngành sản
xuất công nghiệp nặng. Do yêu cầu sản xuất mà phải giảm số lợng công nhân
trong khi đó ngành chế biến đang cần lao động, tất nhiên số lợng lao động trong
khi đó ngành chế biến đang cần lao động, tất nhiên số lợng lao động thừa ra từ
công nghiệp nặng không thể ngay lập tức có thể làm việc đợc trong ngành chế
biến mà cần phải học mới những kiến thức về chế biến.
Nguyên nhân thứ hai gây lên bất tơng xứng cung cầu lao động giữa các
vùng. Những vùng khác nhau có sự phân bố dân c lao động nơi nhiều việc làm
lại có ít lao động. Cả hai nguyên nhân vừa nêu tạo nên sự vô lý : nơi thừa cứ
thừa nơi thiếu cứ thiếu.
Thất nghiệp chu kỳ là loại thất nghiệp theo chu kỳ kinh doanh gắn với
thuyết Keynes xảy ra khi có sự mất cân bằng cung cầu về hàng hoá. Khi xảy ra
khủng hoảng kinh tế tức là mức sản xuất của xã hội bị giảm sút, các doanh
nghiệp phải sa thải dao động thậm chí là đóng cửa sản xuất.
Thất nghiệp chu kỳ xảy ra ở mọi nơi, mọi lúc khi nền kinh tế có khủng
hoảng.
Ngoài 3 loại thất nghiệp kể trên còn có thất nghiệp tự nguyện và không tự
nguyện.
Thất nghiệp tự nguyện và không tự nguyện phân loại dựa trên giả định nền
kinh tế trong suốt tức là câù cung lao động có thể cân bằng mà không bị cản trở
nào cả.
Thất nghiệp tự nguyện là loại thất nghiệp do mức lơng tại mức cân bằng
cung cầu lao động thấp hơn mức lơng tối thiểu có thể tồn tại nên có một số ngời
chấp nhận bỏ lao động đó để tìm kiếm một mức lơng cao hơn.
Thất nghiệp không tự nguyện : Do một số nớc có luật tiền lơng tối thiểu
tức là các doanh nghiệp chỉ đợc phép trả mức lơng thấp đến một mức tối thiểu
theo quy định. Mặt khác mức cân bằng cung cầu lao động tại mức lơng thấp
hơn mức lơng tối thiểu theo quy định nên mặc dù những ngời lao động có chấp
nhận một mức lơng thấp hơn mức lơng tối thiểu thì họ cũng không đợc nhận
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
vào làm việc theo quy định lực lợng thất nghiệp này gọi là thất nghiệp không tự
nguyện.
3. Những tác động của thất nghiệp.
Thất nghiệp gây ra những tác hại to lớn đối với toàn bộ xã hội.
Trớc hết là đối với cá nhân ngời bị thất nghiệp, lao động là điều kiện để
tồn tại của con ngời. Khi thất nghiệp thì tất nhiên là thu nhập sẽ không có đời
sống khó khăn, những kỹ năng về nghề nghiệp bị xói mòn, mất niềm tin vào
cuộc sống gây lên bệnh tật. Những ngời cha hoặc không có khả năng lao động
trong gia đình của ngời thất nghiệp càng khó khăn hon, giáo dục, y tế gặp khó
khặ lại gây ra một loại tác động khác cho toàn xã hội.
Dù không có thu nhập thì con ngời vẫn cần phải có tiêu dùng. Nhà nớc
hàng năm phải chi ra khoản trợ cấp thất nghiệp rất lớn dù vậy vẫn khó có thể
đáp ứng đợc nhu cầu của nhân dân thậm chí là ở mức tối thiểu. Khi nhu cầu
không đợc đáp ứng sẽ sinh ra tệ nạn xã hội nh trộm cắp, buôn bán ma túy và
làm ăn bất chính. Tệ nạn xã hội gia tăng xã hội lại phải bỏ thêm chi phí vào việc
xử lý các vụ trộm cớp, vào việc đảm bảo an ninh.
Thất nghiệp tác động tới các vấn đề, cá nhân ngời thất nghiệp, xã hội qua
đó gián tiếp tác động đến thu nhập của toàn bộ nền kinh tế. Nhng tác động trực
tiếp của thất nghiệp đến nền kinh tế còn to lớn hơn. Thất nghiệp có nghĩa là một
lợng ngời hiện có trong xã hội sẵn sàng làm việc mà không đợc sử dụng khi đó
sản lợng của nền kinh tế tất yếu bị giảm sút so với mức sản lợng tiềm năng.
Mặc dù những tác động tiêu cực đối với nền kinh tế của thất nghiệp là rất
to lớn, nhng liệu ngời ta có thể xử lý thất nghiệp một cách triệt để bằng việc mở
rộng sản xuất tạo công ăn việc làm đ ợc hay không ? Trên thực tế và cả lý
luận đều cho thấy giữa thất nghiệp và các vấn đề khác có quan hệ trao đổi để
có mức thất nghiệp thấp ngời ta phải chấp nhận lạm phát và một số vấn đề khác
vì vậy các biện pháp khắc phục thất nghiệp cần thận trọng để có kết quả tốt
nhất.
III. Mối quan hệ giữa lạm phát và thất nghiệp.
1. Đờng Phillipips.
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
Đờng Phillips đợc phát hiện năm 1958 do Nhà nớc kinh tế học ngời Anh
A.W Phillips tìm ra theo thời gian nó đợc hoàn thiện nh ngày nay.
Thực chất đờng Phillips chỉ là cách biểu diễn khác của tổng cung. Thật vậy
đờng tổng cung có nhiều mô hình khác nhau dựa trên những giả định khác nhau
nhng nhìn chung đờng tổng cung đều đợc mô tả bằng phơng trình.
Y = Y + a(P - P
e
) (1) (a là tham số dơng)
Y, Y là mức sản lợng thực tế và sản lợng tiềm năng
P, P
e
là mức giá cả thực tế và giá dự kiến
(1) Y - Y = a (P - P
e
)
P - P
e
= 1/a (Y - Y)
P = P
e
+ 1/a (Y - Y) (2)
Nếu trừ hai vế cho mức giá cả năm trớc P
-1
P - P
-1
= (P
e
- P
-1
) + 1/a (Y - Y) (3)
P - P
-1
Chính là tỷ lệ lạm phát ký hiệu là
P
e
- P
-1
Chính là tỷ lệ lạm phát dự kiến ký hiệu
e
Phơng trình (3) trở thành
=
e
+1/a (Y - Y) (4)
Y - Y là mức tăng của sản lợng thực tế so với sản lợng tiềm năng.
Theo định luật Okun sẽ trình bày ở phần sau thì độ lệch của sản lợng thực
tế so với sản lợng tiềm năng tỷ lệ nghịch với độ lệch của tỷ lệ thất nghiệp thực
tế so với tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên nên có thể thay 1/a (Y - Y) bằng (U
t
- U
n
)
Phơng trình (4) trở thành
= e - (U
t
- U
n
) (5) ( > 0)
Trong đó (U
t
- U
n
) là độ lệch của tỷ lệ thất nghiệp thực tế so với tỷ lệ thất
nghiệp tự nhiên.
Phơng trình (5) là phơng trình Phillips đơn giản, đợc sử dụng trớc những
năm 1970 tức là trớc những năm Opếc đột ngột gia tăng mức giá dầu lửa.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét