Thứ Ba, 25 tháng 2, 2014

THỰC TRẠNG HUY ĐỘNG VỐN TẠI NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN CHI NHÁNH BÁCH KHOA

GVHD: ThS Lê Thu Thủy Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của NHNo&PTNT Chi nhánh
Bách Khoa trong giai đoạn 2007 – 2009.
4. Phương pháp nghiên cứu
Sử dụng các phương pháp: so sánh, phân tích, tổng hợp, thống kê
5. Bố cục chuyên đề
CHƯƠNG I: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ HUY ĐỘNG VỐN TẠI
NHTM
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG HUY ĐỘNG VỐN TẠI NGÂN HÀNG
NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN CHI NHÁNH BÁCH
KHOA
CHƯƠNG III: MỘT SỐ GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ NHẰM TĂNG
CƯỜNG HUY ĐỘNG VỐN CỦA NHNO&PTNT CHI NHÁNH BÁCH
KHOA
Sinh viên: Nguyễn Văn Đại Lớp TCDN VB2
2
GVHD: ThS Lê Thu Thủy Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
CHƯƠNG I: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ HUY ĐỘNG
VỐN TẠI NHTM
1.1 Tổng quan về NHTM
1.1.1. Khái niệm NHTM
Lịch sử hình thành và phát triển của ngân hàng gắn liền với sự phát
triển của nền sản xuất hàng hoá. Đó là hai quá trình có tác động tương hỗ lẫn
nhau, không thể tách rời. Nghề ngân hàng bắt đầu với các thợ đúc tiền vàng
và nghiệp vụ đổi tiền. Đầu tiên, những người buôn tiền đã dùng vốn tự có để
cho vay, mặc dù vậy quá trình này không kéo dài. Từ hoạt động thực tiễn, họ
nhận thấy thường xuyên có người gửi tiền vào và có người lấy tiền ra, song
tất cả người gửi tiền lại không rút tiền cùng một lúc, nên đã tạo ra số tiền thừa
thường xuyên ở trong két. Do tính chất vô danh của tiền, nhà buôn tiền có thể
sử dụng số tiền mà khách hàng gửi để cho vay trong thời gian nhất định.
Hoạt động cho vay dựa trên tiền gửi của khách, tạo nên lợi nhuận lớn hơn nên
các ngân hàng tìm đủ mọi cách mở rộng thu hút tiền gửi để cho vay bằng cách
trả lãi cho người gửi tiền. Cứ như vậy, qua thời gian ngân hàng trở thành tổ
chức chuyên cung ứng các dịch vụ tài chính thông qua đó kiếm tìm lợi nhuận.
Điều 1 và điều 20 Luật tín dụng Việt Nam quy định rõ: “NHTM là tổ
chức tín dụng là doanh nghiệp hoạt động kinh doanh tiền tệ, làm dịch vụ ngân
hàng với nội dung nhận tiền gửi và sử dụng tiền gửi để cấp tín dụng, cung cấp
các dịch vụ thanh toán”. Từ định nghĩa trên, có thể thấy NHTM là tổ chức tài
chính với hoạt động cơ bản là nhận tiền gửi và dùng tiền gửi đó để cho vay.
NHTM có một số chức năng chủ yếu như sau:
 Làm trung gian tín dụng
NHTM một mặt thu hút các khoản tiền nhàn rỗi trong xã hội, bao gồm
tiền của các nguồn có thể huy động được như các hộ gia đình, cá nhân, doanh
nghiệp và các cơ quan Nhà nước. Mặt khác, NHTM dùng chính số tiền huy
Sinh viên: Nguyễn Văn Đại Lớp TCDN VB2
3
GVHD: ThS Lê Thu Thủy Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
động được để cho vay đối với các thành phần kinh tế trong xã hội có nhu cầu
sử dụng vốn.
Trong nền kinh tế thị trường, NHTM là một trung gian tài chính đóng
vai trò chủ đạo để điều chuyển vốn, đưa vốn từ người thừa sang đến người
thiếu. Sự điều tiết này có ý nghĩa rất tích cực, thể hiện tầm quan trọng của
NHTM trong việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, tăng thêm việc làm, cải thiện
mức sống của dân cư, ổn định tình hình ngân sách của Chính phủ. góp phần
rất lớn trong việc điều hòa lưu thông tiền tệ, ổn định sức mua đồng tiền, kiềm
chế lạm phát gia tăng.
 Làm trung gian thanh toán
Nếu như mọi khoản chi trả của xã hội được thực hiện bên ngoài ngân
hàng thì chi phí để thực hiện chúng sẽ rất lớn, bao gồm: chi phí in đúc, bảo
quản vận chuyển tiền… Với sự ra đời của NHTM, phần lớn các khoản chi trả
về hàng hóa và dịch vụ của xã hội đều được thực hiện qua ngân hàng với
những hình thức thanh toán thích hợp, thủ tục đơn giản và kỹ thuật ngày càng
tiên tiến. Nhờ tập trung công việc thanh toán của xã hội vào ngân hàng, nên
việc giao lưu hàng hóa, dịch vụ trở nên thuận tiện, nhanh chóng, an toàn và
tiết kiệm hơn. Không những vậy, do thực hiện chức năng trung gian thanh
toán, NHTM có điều kiện huy động tiền gửi của xã hội trước hết là của doanh
nghiệp tới mức tối đa, tạo nguồn vốn cho vay và đầu tư, đẩy mạnh hoạt động
kinh doanh của ngân hàng.
 Tạo tiền cho nền kinh tế
Sự ra đời của các ngân hàng đã tạo ra một bước phát triển về chất trong
kinh doanh tiền tệ. Nếu như trước đây các tổ chức kinh doanh tiền tệ nhận
tiền gửi và rồi cho vay cũng chính bằng các đồng tiền đó, thì nay các ngân
hàng đã có thể cho vay bằng tiền giấy của mình, thay thế tiền bạc và vàng do
khách hàng gửi vào ngân hàng.
Hơn nữa, khi đã hoạt động trong một hệ thống ngân hàng, NHTM có khả
năng “tạo tiền” bằng cách chuyển khoản hay bút tệ để thay thế cho tiền mặt.
Sinh viên: Nguyễn Văn Đại Lớp TCDN VB2
4
GVHD: ThS Lê Thu Thủy Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Điều này đã đưa NHTM lên vị trí là nguồn tạo tiền. Quá trình tạo tiền của hệ
thống NHTM dựa trên cơ sở tiền gửi của xã hội, số tiền gửi được nhân lên
gấp bội khi ngân hàng cho vay thông qua cơ chế thanh toán chuyển khoản
giữa các ngân hàng.
1.1.2. Vai trò của NHTM
NHTM có vai trò rất quan trọng đối với nền kinh tế. Điều đó được thể
hiện thông qua một số điểm sau đây.
 Trước hết, NHTM cung ứng vốn cho nền kinh tế quốc dân.
Vốn được tạo ra từ quá trình tích luỹ, tiết kiệm của mỗi cá nhân, doanh
nghiệp và các tổ chức trong nền kinh tế. Vì vậy, muốn có nhiều vốn phải tăng
thu nhập quốc dân, có mức độ tiêu dùng hợp lý. Tăng thu nhập quốc dân đồng
nghĩa với việc mở rộng sản xuất và lưu thông hàng hoá, đẩy mạnh sự phát
triển của các ngành trong nền kinh tế. Chính vì vậy, vốn được coi như nguồn
sống không thể thay thế cho hoạt động sản xuất kinh doanh của mỗi doanh
nghiệp. Khi thiếu vốn, doanh nghiệp sẽ mất đi cơ hội đầu tư mới hoặc không
thể kịp thời thực hiện quá trình tái sản xuất.
NHTM chính là người đứng ra tiến hành khơi thông nguồn vốn nhàn rỗi
ở mọi tổ chức, cá nhân, mọi thành phần kinh tế Thông qua hình thức cấp tín
dụng, ngân hàng đã tạo điều kiện cho doanh nghiệp có khả năng mở rộng sản
xuất, cải tiến máy móc, thiết bị, đổi mới quy trình công nghệ, nâng cao năng
suất lao động đem lại hiệu quả kinh tế, cũng có nghĩa là đưa doanh nghiệp lên
những nấc thang cạnh tranh cao hơn. Cạnh tranh càng mạnh mẽ, kinh tế càng
phát triển. Như vậy với khả năng cung cấp vốn, NHTM đã trở thành một
trong những điểm khởi đầu cho sự phát triển nền kinh tế đất nước.
 NHTM có vai trò tăng cường sự luân chuyển về vốn
Trong điều kiện nền kinh tế thị trường, hoạt động của các doanh nghiệp
chụi sự tác động mạnh mẽ của các quy luật kinh tế như: quy luật giá trị, quy
luật cung cầu, quy luật cạnh tranh và sản xuất phải trên cơ sở đáp ứng nhu cầu
thị trường, thoả mãn nhu cầu thị trường về mọi phương diện không chỉ: giá
Sinh viên: Nguyễn Văn Đại Lớp TCDN VB2
5
GVHD: ThS Lê Thu Thủy Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
cả, khối lượng, chất lượng mà còn đòi hỏi thoả mãn trên phương diện thời
gian, địa điểm. Để có thể đáp ứng tốt nhất nhu cầu của thị trường doanh
nghiệp không những cần nâng cao chất lượng lao động, củng cố và hoàn
thiện cơ cấu kinh tế, chế độ hạch toán kinh tế mà còn phải không ngừng cải
tiến máy móc thiết bị, đưa công nghệ mới vào sản xuất, tìm tòi và sử dụng
nguyên vật liệu mới, mở rộng quy mô sản xuất một cách thích hợp.
Những hoạt động này đòi hỏi phải có một lượng vốn đầu tư lớn, nhiều
khả năng vượt quá lượng vốn mà doang nghiệp đang sở hữu. Do đó để giải
quyết khó khăn này doanh nghiệp đến ngân hàng để xin vay vốn phục vụ cho
nhu cầu đầu tư của mình. Thông qua hoạt động cấp tín dụng cho doanh
nghiệp, ngân hàng đóng vai trò là cầu nối doanh nghiệp với thị trường. Nguồn
vốn tín dụng của ngân hàng cung cấp cho doanh nghiệp có ý nghĩa rất quan
trọng trong việc nâng cao chất lượng về mọi mặt của quá trình sản xuất kinh
doanh, đáp ứng nhu cầu của thị trường và từ đó tạo cho doanh nghiệp chỗ
đứng vững chắc trong cạnh tranh.
 NHTM còn là công cụ thi hành chính sách tiền tệ của Nhà nước
Một trong những con đường dẫn đến lạm phát của nền kinh tế là lạm
phát qua con đường tín dụng. Khi xảy ra lạm phát, ngân hàng trung ương sẽ
tăng tỉ lệ vào dự trữ bắt buộc, lãi suất tái chiết khấu hoặc tham gia vào thị
trường mở để thông qua các ngân hàng thương mại thay đổi lại lượng tiền
trong lưu thông. Các Ngân hàng thương mại sẽ kiểm soát lạm phát thông qua
các hoạt động tín dụng, bảo lãnh. Từ đó ngân hàng xác định được hướng đầu
tư vốn và đề ra các biện pháp xử lý những tác động xấu ảnh hưởng đến nền
kinh tế, làm cho quá trình tái sản xuất diễn ra liên tục, góp phần điều hoà lưu
thông tiền tệ, ổn định sức mua của đồng tiền, kiềm chế lạm phát.
Từ những chức năng trên, ta rút ra kết luận rằng sự phát triển và hoàn
thiện các hoạt động của NHTM chính là thước đo cho sự phát triển của nền
kinh tế.
Sinh viên: Nguyễn Văn Đại Lớp TCDN VB2
6
GVHD: ThS Lê Thu Thủy Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
1.1.3. Một số hoạt động cơ bản của NHTM
1.1.3.1. Hoạt động huy động vốn
 Nghiệp vụ tiền gửi:
Đây là nghiệp vụ phản ánh hoạt động Ngân hàng nhận các khoản tiền
gửi từ các doanh nghiệp vào để thanh toán hoặc với mục đích bảo quản tài
sản. Ngoài ra, NHTM cũng có thể huy động các khoản tiền nhàn rỗi của cá
nhân hay các hộ gia đình được gửi vào ngân hàng. Mục đích chủ yếu của việc
gửi tiền loại này là để bảo quản hoặc hưởng lãi trên số tiền gửi.
 Nghiệp vụ đi vay:
Nghiệp vụ đi vay được các NHTM sử dụng thường xuyên nhằm mục
đích tạo vốn kinh doanh cho mình bằng việc vay các tổ chức tín dụng trên thị
trường tiền tệ và vay ngân hàng Nhà nước dưới các hình thức tái chiết khấu,
vay có đảm bảo Trong đó các khoản vay từ ngân hàng Nhà nước chủ yếu
nhằm tạo sự cân đối trong việc quản lý vốn của bản thân NHTM, đặc biệt
trong các trường hợp NHTM không tự cân đối được nguồn vốn.
1.1.3.2. Hoạt động sử dụng vốn
Đây là nghiệp vụ phản ánh quá trình sử dụng vốn của NHTM vào các
mục đích khác nhau nhằm đảm bảo an toàn kinh doanh cũng như tìm kiếm lợi
nhuận. Một số nghiệp vụ cơ bản mà NHTM có thể sử dụng hiệu quả nguồn
vốn của mình có thể kể đến như:
 Nghiệp vụ cho vay:
Đây có thể nói là nghiệp vụ quan trọng bậc nhất trong hoạt động quản lý
tài sản có của NHTM. Thông thường thì nghiệp vụ này đóng góp phần lớn lợi
nhuận trong quá trình hoạt động kinh doanh của các ngân hàng. Thông qua
nghiệp vụ này mà ngân hàng cung cấp các khoản tín dụng ngắn, trung và dài
hạn cho các thành phần trong nền kinh tế, thúc đẩy nền kinh tế phát triển.
 Nghiệp vụ đầu tư tài chính:
Sinh viên: Nguyễn Văn Đại Lớp TCDN VB2
7
GVHD: ThS Lê Thu Thủy Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Bên cạnh nghiệp vụ tín dụng, các NHTM còn dùng số vốn huy động
được từ dân cư, từ các tổ chức kinh tế - xã hội để đầu tư vào nền kinh tế dưới
các hình thức như: hùn vốn, góp vốn, kinh doanh chứng khoán trên thị
trường và trực tiếp thu lợi nhuận trên các khoản đầu tư đó.
1.1.3.3. Hoạt động khác
Ngoài các nghiệp vụ chủ yếu được nêu trên, trong hoạt động kinh doanh,
các NHTM còn tiến hành các một số dịch vụ khác trên thị trường như: kinh
doanh ngoại tệ, vàng bạc và đá quý, thực hiện dịch vụ tư vấn, dịch vụ ngân
quỹ, nghiệp vụ uỷ thác và đại lý trong hoạt động cung ứng chứng khoán ra thị
trường cùng với hàng loạt những dịch vụ khác liên quan đến hoạt động ngân
hàng như: dịch vụ bảo quản giấy tờ có giá, dịch vụ cho thuê két sắt, dịch vụ
cầm đồ Sự phát triển của nền kinh tế hàng hoá đặc biệt là trong nền kinh tế
theo cơ chế thị trường, hoạt động thu - chi hộ, chuyển tiền qua ngân hàng
ngày càng được mở rộng và phát triển. Các ngân hàng đã không ngừng áp
dụng những tiến bộ, thành tựu khoa học công nghệ, kết hợp với uy tín kinh
doanh của ngân hàng làm cho nghiệp vụ này ngày càng được thay đổi về chất.
1.2. Huy động vốn tại NHTM
1.2.1. Khái niệm vốn
Vốn của các NHTM là toàn bộ các giá trị tiền tệ mà Ngân hàng huy
động và tạo lập để đầu tư cho vay và đá ứng các nhu cầu khác trong hoạt động
kinh doanh của ngân hàng.
Thực chất nguồn vốn của các NHTM là một bộ phận thu nhập quốc dân
tạm thời nhàn rỗi trong quá trình sản xuất, phân phối, tiêu dùng mà khách
hàng gửi vào Ngân hàng với các mục đích khác nhau. Nói cách khác khách
hàng chuyển quyền sử dụng tiền tệ cho ngân hàng và Ngân hàng trả cho
khách hàng một khoản lãi. Ngân hàng đã thực hiện vai trò tập trung và phân
phối vốn làm tăng nhanh quá trình luân chuyển vốn trong nền kinh tế, phục vụ
và kích thích mọi hoạt động kinh tế phát triển đồng thời chính các hoạt động
Sinh viên: Nguyễn Văn Đại Lớp TCDN VB2
8
GVHD: ThS Lê Thu Thủy Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
đó lại quyết định đến sự tồn tại và phát triển hoạt động kinh doanh của ngân
hàng.
Có nhiều loại vốn như vốn chủ sở hữu, vốn đi vay, hay vốn huy động.
 Về mặt kinh tế, vốn chủ sở hữu là vốn riêng của ngân hàng do các chủ
sở hữu đóng góp và nó còn được tạo ra trong quá trình kinh doanh dưới dạng
lợi nhuận giữ lại. Vốn chủ sở hữu còn được gọi là “ vốn riêng”. Theo quy
định của luật các tổ chức tín dụng 1998, vốn chủ sở hữu bao gồm phần giá trị
thực có của vốn điều lệ, các quỹ dự trữ và một số tài sản nợ khác của tổ chức
tín dụng theo quy định của ngân hàng nhà nước (NHNN).
 Vốn huy động: NHTM huy động vốn thông qua các hoạt động nhận
tiền gửi, phát hành giấy tờ có giá, vay vốn giữa các tổ chức tín dụng và vay
vốn ngắn hạn của NHNN.
 Vốn đi vay: vay từ các NHTM khác, hoặc vay từ NHTW để đảm bảo
khả năng thanh khoản cho các ngân hàng.
1.2.2. Vai trò của vốn
 Vốn là xuất phát điểm mọi hoạt động trong NHTM
Trong nền kinh tế thị trường bất kỳ doanh nghiệp nào muốn sản xuất
kinh doanh cũng cần có vốn, vốn quyết định đến khả năng kinh doanh của
doanh nghiệp. Đối với NHTM vốn là đói tượng kinh doanh chủ yếu, vốn là cơ
sở để ngân hàng tổ chức mọi hoạt động kinh doanh. Nếu thiếu vốn NHTM
không thể thực hiện các hoạt động kinh doanh, do đó những ngân hàng có vốn
lớn sẽ có thế mạnh trong kinh doanh. Vì vậy vốn là điểm xuất phát đầu tiên
trong hoạt động kinh doanh của NHTM.
 Vốn quyết định quy mô hoạt động tín dụng và các hoạt động khác
Ngoài vai trò là cơ sở để ngân hàng tổ chức các hoạt động kinh doanh,
vốn còn quyết định đến việc mở rộng hoặc thu hẹp khối lượng tín dụng và các
hoạt động khác của NHTM.
Vốn tự có của ngân hàng ngoài việc sử dùng để mua sắm TSCĐ, trang
thiết bị, góp vốn liên doanh Vốn tự có của ngân hàng là căn cứ để giới hạn
Sinh viên: Nguyễn Văn Đại Lớp TCDN VB2
9
GVHD: ThS Lê Thu Thủy Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
các hoạt động kinh doanh tiền tệ bao gồm cả hoạt động tín dụng. Việc quy
định tỷ lệ cho vay, tỷ lệ huy động vốn trên vốn tự có của NHTW thể hiện vai
trò quản lý, điều tiết thị trường của nhà nước, để đảm bảo an toàn hệ thống
ngân hàng và đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của người gửi tiền. Những
quy định về mức cho vay, mức huy động trên Vốn tự có như:
- Mức cho vay một khách hàng không vượt quá 15% vốn tự có
- Mức vốn huy động không được vượt quá 20 lần vốn tự có
- Mua cổ phần hoặc góp vốn liên doanh không được vượt quá 50% vốn
tự có
Qua những quy định của NHTW đối với NHTM ta thấy vốn tự có quyết
định đến khả năng cấp tín dụng, huy động vốn của NHTM vì thế những
NHTM có vốn tự có lớn thì quy mô tín dụng càng lớn và ngược lại.
Không những vốn tự có ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh mà vốn
huy động cũng ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động tín dụng và hoạt động khác.
Vốn tự có rất quan trọng nhưng chỉ chiếm một phần rất nhỏ trong tổng nguồn
vốn, vốn huy động chiếm tỷ trọng lớn nhất và là nguồn vốn chủ yếu để ngân
hàng tiến hành các hoạt động kinh doanh do đó ngân hàng nào có nguồn vốn
huy động càng lớn thì khả năng cấp tín dụng cho nền kinh tế và các hoạt động
khác càng được mở rộng.
 Vốn ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh của NHTM
Một NHTM có thể thu hút được đông đảo khách hàng đến gửi tiền và sử
dụng các dịch vụ của ngân hàng đó khi ngân hàng đó có uy tín trên thị
trường. Uy tín của ngân hàng trước hết thể hiện ở khả năng sẵn sàng thanh
toán cho khách hàng khi họ yêu cầu. Khả năng thanh toán của ngân hàng
thông thường tỷ lệ thuận với khối lượng vốn mà ngân hàng đó có. Nếu có lớn
vốn năng lực thanh toán của ngân hàng được nâng cao, do đó uy tín của ngân
hàng được nâng cao từ đó sẽ thu hút được nhiều khách hàng và nâng cao được
vị thế của ngân hàng trên thị trường.
Sinh viên: Nguyễn Văn Đại Lớp TCDN VB2
10
GVHD: ThS Lê Thu Thủy Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
1.2.3. Các hình thức huy động vốn
1.2.3.1. Vốn chủ sở hữu
Vốn tự có là giá trị thực có của vốn điều lệ và các quỹ dự trữ và một số
tài sản nợ khác của ngân hàng theo quy định của NHNN. Vốn tự có chiếm tỷ
trọng rất nhỏ nhưng có vai trò rất quan trọng đối với hoạt động của NHTM.
Vốn tự có gồm:
- Vốn điều lệ : là số vốn do pháp luật quy định khi ngân hàng mới
thành lập và đi vào hoạt động.
- Quỹ dự trữ bổ xung vốn điều lệ :được trích lập hàng năm theo tỷ lệ
5% lợi nhuận sau thuế và không được vượt quá vốn điều lệ.
- Quỹ dự phòng tài chính: được trích lập hàng năm theo tỷ lệ 10% lợi
nhuận sau thuế nhương không được vượt quá 25% vốn điều lệ.
- Tài sản nợ khác:
+ Lợi nhuận chưa phân phối
+ Thu nhập lớn hơn chi pní
+ Hao mòn TSCĐ
1.2.3.2. Tiền gửi không kì hạn
 Tiền gửi không kỳ hạn của doang nghiệp: là khoản tiền mà khách
hàng gửi vào ngân hàng nhưng khách hàng có thể rút ra bất cứ lúc nào chủ
yếu phục vụ mục đích thanh toánvà ngân hàng phải luôn đảm bảo yêu cầu
này.
 Mục đích của khách hàng khi gửi tiền vào ngân hàng là an toàn và
hưởng các dịch vụ ngân hàng, tạo mối quan hệ với ngân hàng. Tỷ trọng tiền
gửi không kỳ hạn của tổ chức kinh tế trong tổng nguồn vốn của ngân hàng
cao và nguồn vốn này có tính ổn định tương đối cao vì bao giờ các tổ chức
kinh tế cũng duy trì ít nhất ở một số dư nhất định. Đối với nguồn vốn này
ngân hàng chỉ phải trả lãi thấp nhưng chi phí phi lãi rất cao. Đó là chi phí mua
và vận hành ATM, chi phí phục vụ
Sinh viên: Nguyễn Văn Đại Lớp TCDN VB2
11

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét