Chủ Nhật, 23 tháng 2, 2014

Thực hiện đường lối đổi mới, tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước (1986 - 2006)

nước ta.
Ngày 12-9-1987, Bộ Chính trị đã ra Nghị quyết Về cuộc vận động làm trong sạch và nâng cao
sức chiến đấu của tổ chức Đảng và bộ máy nhà nước, làm lành mạnh các quan hệ xã hội.
Tháng 6-1988, Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương Đảng ra Nghị quyết Về một
số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng. Công tác xây dựng Đảng theo phương hướng do Đại hội VI
nêu ra là phải đổi mới tư duy, đổi mới tổ chức, đổi mới đội ngũ cán bộ, đổi mới phong cách lãnh
đạo, nâng cao giác ngộ, bồi dưỡng lý tưởng, kiến thức và năng lực lãnh đạo, mở rộng dân chủ, đi
đôi với tăng cường kỷ luật trong Đảng.
Qua hai năm thực hiện công cuộc đổi mới đã đem lại những kết quả bước đầu, song chưa
đồng bộ và cơ bản. Đất nước vẫn nằm trong tình trạng khủng hoảng kinh tế - xã hội. Hội nghị lần
thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng (tháng 3-1989) được triệu tập để đánh giá tình hình và
đề ra những chủ trương cụ thể để chỉ đạo công cuộc đổi mới vào chiều sâu và nêu ra các nguyên
tắc cơ bản phải được toàn Đảng, toàn dân trong quá trình tiếp tục công cuộc đổi mới.
Hội nghị đã quyết định 12 chủ trương, chính sách lớn đẩy mạnh công cuộc đổi mới và đề ra
những nguyên tắc cơ bản chỉ đạo công cuộc đổi mới như sau:
Một là, đổi mới không phải là thay đổi mục tiêu xã hội chủ nghĩa, mà làm cho mục tiêu đó
được thực hiện tốt hơn bằng quan niệm đúng đắn, hình thức, biện pháp và bước đi thích hợp.
Hai là, đổi mới không phải xa rời chủ nghĩa Mác - Lênin, mà là vận dụng sáng tạo học thuyết
Mác - Lênin và khắc phục những quan niệm không đúng về học thuyết đó.
Ba là, đổi mới tổ chức và phương thức hoạt động của hệ thống chính trị phải nhằm tăng
cường, chứ không phải là làm yếu sức mạnh và hiệu lực của chuyên chính vô sản.
Bốn là, xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự
nghiệp xây dựng xã hội chủ nghĩa. Song dân chủ phải có lãnh đạo, lãnh đạo phải trên cơ sở dân
chủ; dân chủ với nhân dân, nhưng phải chuyên chính với kẻ địch.
Năm là, kết hợp chủ nghĩa yêu nước với chủ nghĩa quốc tế xã hội chủ nghĩa, kết hợp sức
mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại.
Công cuộc đổi mới ở nước ta tuy đạt được những kết quả bước đầu, song đất nước vẫn chưa
ra khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội. Trên thế giới đang có những diễn biến phức tạp. Năm 1989,
tại nhiều nước xã hội chủ nghĩa đã diễn ra những biến động chính trị lớn và khủng hoảng nghiêm
trọng. ở nhiều nước, Đảng Cộng sản mất quyền lãnh đạo. Tháng 4-1989, tại Trung Quốc diễn ra sự
kiện Thiên An Môn. Những biến động chính trị trên đã tác động trực tiếp đến tư tưởng của đảng
viên và quần chúng nhân dân, ảnh hưởng xấu tới công cuộc đổi mới của Đảng ta. Để giữ vững ổn
định chính trị, tháng 8-1989 Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương ra Nghị quyết về
Một số vấn
151
đề cấp bách về công tác tư tưởng trước tình hình trong nước và quốc tế hiện nay.
Nghị quyết Hội nghị nêu rõ: Công tác tư tưởng phải được tiến hành toàn diện, tập trung vào
các nhiệm vụ và nội dung quan trọng :
Một là, khẳng định tính tất yếu lịch sử của chủ nghĩa xã hội và những thành tựu vĩ đại của hệ
thống xã hội chủ nghĩa thế giới.
Hai là, khẳng định tính khách quan và phương hướng xã hội chủ nghĩa của quá trình cải tổ,
cải cách, đổi mới.
Ba là, nhận rõ bản chất và con đường diệt vong tất yếu của chủ nghĩa tư bản, nâng cao cảnh
giác cách mạng, đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc và các thế lực phản động quốc tế.
Bốn là, giáo dục trong Đảng và trong nhân dân kiên trì mục tiêu, lý tưởng xã hội chủ nghĩa,
trên cơ sở quán triệt năm nguyên tắc và những chính sách đổi mới của Đảng.
Năm là, nâng cao phẩm chất, đạo đức cách mạng xã hội chủ nghĩa, tăng cường sự đoàn kết
thống nhất trong Đảng, sự thống nhất ý chí và hành động trong xã hội, đấu tranh chống những biểu
hiện tiêu cực.
Trên cơ sở bám sát tình hình quốc tế và trong nước, Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành
Trung ương Đảng (tháng 3-1990) thông qua Nghị quyết về tình hình các nước xã hội chủ nghĩa, sự
phá hoại của chủ nghĩa đế quốc và nhiệm vụ cấp bách của Đảng ta (Nghị quyết 8A).
Hội nghị cũng đã thảo luận và thông qua Nghị quyết Về tăng cường mối quan hệ giữa Đảng
và dân, phát huy quyền làm chủ của nhân dân, đẩy mạnh công cuộc đổi mới (Nghị quyết 8B) khẳng
định: Tăng cường mối quan hệ giữa Đảng và nhân dân là nhân tố bảo đảm cho sự nghiệp đổi mới
phát triển và ngăn chặn kẻ thù phá hoại sự nghiệp cách mạng.
Đến năm 1990, tình hình kinh tế - xã hội của ta đã có một số chuyển biến tốt nhưng vẫn còn
yếu kém. Bối cảnh quốc tế đang diễn biến phức tạp. Hội nghị lần thứ chín (tháng 8-1991) của Ban
Chấp hành Trung ương đã bàn một số vấn đề kinh tế - xã hội cấp bách, với tư tưởng chỉ đạo là
kiên quyết thực hiện đổi mới cơ chế quản lý kinh tế, nêu cao tinh thần độc lập tự chủ, tự cường đi
đôi mở rộng quan hệ quốc tế, xây dựng ý chí làm cho dân giàu, nước mạnh, chủ động có những
phương án khác nhau để thích ứng với tình hình mới, nêu cao ý thức tiết kiệm xây dựng đất nước
và ý thức tổ chức kỷ luật, giữ vững kỷ cương, tôn trọng luật pháp trong hoạt động kinh tế - xã hội.
Tháng 11-1990, Hội nghị lần thứ mười họp thông qua Nghị quyết Về phương hướng chỉ đạo kế
hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 1991. Mục tiêu của kế hoạch năm 1991 nhằm phấn đấu vượt
qua những khó khăn mới về kinh tế - xã hội, giữ vững và ổn định về chính trị, tạo thế đi lên cho
những năm sau, phải tập trung thực hiện ba chương trình kinh tế lớn.
Thực hiện quyết định của Đại hội lần thứ VI, Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã dự thảo
Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Chiến
152
lược ổn định và phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2000 và các văn kiện khác để trình Đại hội
lần thứ VII của Đảng. Dự thảo Cương lĩnh và các văn kiện đó đã được các cấp bộ Đảng và nhân
dân sôi nổi thảo luận và đóng góp nhiều ý kiến để Ban Chấp hành Trung ương Đảng hoàn chỉnh
trước khi trình trước Đại hội VII của Đảng sẽ họp vào năm 1991.
Từ tháng 12-1986 đến tháng 6-1991, sau hơn bốn năm thực hiện đường lối đổi mới của Đảng
trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, chúng ta đã đạt được những thành tựu bước đầu rất
quan trọng. Đó là:
- Tình hình chính trị của đất nước ổn định. Nền kinh tế có những chuyển biến tích cực: đã đạt
được những tiến bộ rõ rệt trong việc thực hiện các mục tiêu của ba chương trình kinh tế, bước đầu
hình thành nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, vận động theo cơ chế thị trường, có sự quản lý
của Nhà nước, nguồn lực sản xuất của xã hội được huy động tốt hơn, tốc độ lạm phát được kìm
chế bớt, đời sống vật chất và tinh thần của một bộ phận nhân dân có phần được cải thiện.
- Sinh hoạt dân chủ trong xã hội ngày càng được phát huy.
- Quốc phòng được giữ vững, an ninh quốc gia được bảo đảm. Từng bước phá thế bị bao vây
về kinh tế và chính trị, mở rộng quan hệ quốc tế, tạo ra môi trường thuận lợi hơn cho công cuộc
xây dựng và bảo vệ đất nước.
Những điểm nêu trên chứng tỏ đường lối đổi mới của Đại hội VI đề ra là đúng, bước đi của
công cuộc đổi mới về cơ bản là phù hợp. Đó là cơ sở quan trọng để chúng ta tiếp tục tiến lên trong
những năm tiếp theo.
Bên cạnh thành tựu bước đầu đã đạt được, đất nước còn nhiều yếu kém và khó khăn chưa
vượt ra khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội, nhiều vấn đề kinh tế - xã hội nóng bỏng vẫn chưa được
giải quyết, công cuộc đổi mới còn nhiều hạn chế.
2. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng (tháng 6-1991) và thực hiện kế hoạch nhà
nước 5 năm (1991-1996)
a) Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng
Đại hội họp từ ngày 24 đến ngày 27-6-1991 tại Hà Nội. (Đại hội họp nội bộ từ ngày 22 đến
ngày 17-6-1991). Dự Đại hội có 1.176 đại biểu thay mặt cho trên hai triệu đảng viên cả nước. Các
đoàn đại biểu Đảng Cộng sản Liên Xô, Đảng Nhân dân cách mạng Lào, Đảng Nhân dân cách
mạng Campuchia, Đảng Cộng sản Cuba và nhiều khách quốc tế đã đến tham dự.
Đại hội VII họp trong bối cảnh trên phạm vi thế giới đang diễn ra cuộc tấn công quyết liệt của
các thế lực đế quốc và phản động vào các lực lượng hoà bình, độc lập dân tộc, chủ nghĩa xã hội,
nhằm tiến tới xoá bỏ chủ nghĩa xã hội bằng mọi thủ đoạn thâm độc. Cuộc khủng hoảng toàn diện
trong hệ thống xã hội chủ nghĩa Đông Âu dẫn đến sự sụp đổ của chế độ xã hội chủ nghĩa ở nhiều
nước (1989-1990). Chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô đang đứng trước những thử thách nghiêm
trọng. So sánh lực lượng diễn ra
153
bất lợi cho cách mạng thế giới. ở trong nước, sau 4 năm thực hiện đường lối đổi mới, tình
hình kinh tế - xã hội có những biến chuyển đáng kể, song vẫn chưa thoát khỏi được khủng hoảng.
Bối cảnh trên đây đặt ra cho Đại hội lần này một nhiệm vụ hết sức nặng nề: phải định hướng đúng
đắn, vạch ra đường lối để đưa đất nước thoát khỏi khó khăn, xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội
và bảo vệ vững chắc Tổ quốc.
Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Nguyễn Văn Linh đọc Báo cáo chính trị của
Ban Chấp hành Trung ương về các văn kiện Đại hội VII. Đại hội đã thông qua Cương lĩnh xây
dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Chiến lược ổn định và phát triển kinh tế -
xã hội đến năm 2000, Báo cáo chính trị, Báo cáo xây dựng Đảng và sửa đổi Điều lệ Đảng, kiểm
điểm sự lãnh đạo của Ban Chấp hành Trung ương khoá VI.
Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội được Đại hội thông
qua đã trình bày: Đánh giá tổng quát quá trình cách mạng Việt Nam và nêu lên năm bài học kinh
nghiệm lớn; quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta; những định hướng lớn về chính sách kinh tế,
xã hội, quốc phòng - an ninh, đối ngoại; hệ thống chính trị và vai trò lãnh đạo của Đảng.
Cương lĩnh đã trình bày quan niệm của Đảng Cộng sản Việt Nam về chủ nghĩa xã hội mà
nhân dân ta xây dựng và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội trong thời kỳ quá độ; những đặc trưng
cơ bản của xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta xây dựng là một xã hội:
- Do nhân dân lao động làm chủ.
- Có một nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và chế độ công hữu
về các tư liệu sản xuất chủ yếu.
- Có nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.
- Con người được giải phóng khỏi áp bức, bóc lột, bất công, làm theo năng lực, hưởng theo
lao động, có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện cá nhân.
- Các dân tộc trong nước bình đẳng, đoàn kết và giúp đỡ lẫn nhau cùng tiến bộ.
- Có quan hệ hữu nghị và hợp tác với nhân dân tất cả các nước trên thế giới.
Cương lĩnh vạch ra 7 phương hướng cơ bản chỉ đạo quá trình xây dựng và bảo vệ Tổ quốc:
1. Xây dựng Nhà nước xã hội chủ nghĩa, Nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân
dân.
2. Phát triển lực lượng sản xuất, công nghiệp hoá đất nước theo hướng hiện đại; phát triển
một nền nông nghiệp toàn diện.
3. Thiết lập quan hệ sản xuất từ thấp đến cao, đa dạng về hình thức sở hữu và phù hợp với sự
phát triển của lực lượng sản xuất.
154
4. Tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa trên lĩnh vực tư tưởng và văn hoá.
5. Thực hiện chính sách đại đoàn kết các dân tộc.
6. Xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc là hai nhiệm vụ chiến lược của cách mạng
Việt Nam.
7. Xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh.
Mục tiêu tổng quát phải đạt tới khi kết thúc thời kỳ quá độ là xây dựng xong về cơ bản những
cơ sở kinh tế của chủ nghĩa xã hội, với kiến trúc thượng tầng về chính trị và tư tưởng, văn hóa phù
hợp, làm cho nước ta trở thành một nước xã hội chủ nghĩa phồn vinh.
Quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta là một quá trình lâu dài, trải qua nhiều chặng đường.
Mục tiêu của chặng đường đầu là: thông qua đổi mới toàn diện, xã hội đạt tới trạng thái ổn định
vững chắc, tạo thế phát triển nhanh ở chặng sau.
Cương lĩnh đã nêu những định hướng lớn về chính sách kinh tế, xã hội, quốc phòng - an ninh,
đối ngoại.
Về hệ thống chính trị và vai trò lãnh đạo của Đảng, Cương lĩnh nêu rõ:
- Toàn bộ tổ chức và hoạt động của hệ thống chính trị nước Việt Nam trong giai đoạn mới là
nhằm xây dựng và từng bước hoàn thiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm quyền lực thuộc
về nhân dân. Dân chủ gắn liền với công bằng xã hội phải được thực hiện trong thực tế cuộc sống
trên tất cả các lĩnh vực thông qua hoạt động của Nhà nước do nhân dân cử ra và bằng các hình
thức dân chủ trực tiếp. Dân chủ đi đôi với kỷ luật, kỷ cương, phải được thể chế hóa bằng pháp luật
và được pháp luật bảo đảm. Nhà nước định ra các đạo luật nhằm xác định các quyền công dân và
quyền con người, quyền đi đôi với nghĩa vụ và trách nhiệm.
- Trong hệ thống chính trị, Đảng Cộng sản Việt Nam là một bộ phận và là tổ chức lãnh đạo hệ
thống đó. Đảng Cộng sản Việt Nam là đội tiên phong của giai cấp công nhân Việt Nam, đại biểu
trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc. Đảng lấy chủ
nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động,
lấy tập trung dân chủ làm nguyên tắc tổ chức cơ bản. Đảng lãnh đạo xã hội bằng cương lĩnh, chiến
lược, các định hướng về chính sách và chủ trương công tác; bằng công tác tuyên truyền, thuyết
phục, vận động, tổ chức kiểm tra và bằng hành động gương mẫu của đảng viên, v.v Đảng liên hệ
mật thiết với nhân dân, chịu sự giám sát của nhân dân, hoạt động trong khuôn khổ hiến pháp và
pháp luật.
Chiến lược ổn định và phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2000 ghi rõ mục tiêu phát triển là
phát triển kinh tế - xã hội theo con đường củng cố độc lập dân tộc và xây dựng chủ nghĩa xã hội ở
nước ta là quá trình thực hiện dân giàu, nước mạnh, tiến lên hiện đại trong một xã hội nhân dân
làm chủ, nhân ái, có văn hóa, có kỷ cương, xóa bỏ áp bức, bất công, tạo điều kiện cho mọi người
có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc.
Mục tiêu tổng quát của chiến lược đến năm 2000 là ra khỏi khủng hoảng, ổn định
155
tình hình kinh tế - xã hội, phấn đấu vượt qua tình trạng nước nghèo và kém phát triển, cải
thiện đời sống của nhân dân, củng cố quốc phòng và an ninh, tạo điều kiện cho đất nước phát triển
nhanh hơn vào đầu thế kỷ XXI.
Về cơ cấu kinh tế, cơ chế quản lý và các chính sách lớn của Đảng cũng đã được ghi rõ trong
Chiến lược ổn định và phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2000.
Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương trình Đại hội đã khẳng định công cuộc đổi
mới đã đạt được những thành tựu bước đầu quan trọng, song còn nhiều khó khăn, yếu kém, đất
nước vẫn chưa ra khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội, nhiều vấn đề kinh tế - xã hội nóng bỏng chưa
được giải quyết và nêu ra năm bài học bước đầu về đổi mới.
Báo cáo chính trị nêu những phương hướng, nhiệm vụ chủ yếu của 5 năm (1991-1995) với
mục tiêu tổng quát là vượt khó khăn, thử thách, ổn định và phát triển kinh tế - xã hội, tăng cường
ổn định chính trị, đẩy lùi tiêu cực và bất công xã hội, đưa nước ta cơ bản ra khỏi tình trạng khủng
hoảng hiện nay. Những mục tiêu cụ thể cần đạt được trong những năm 1991 - 1995 là tiếp tục
kiềm chế và đẩy lùi lạm phát, giữ vững và phát triển sản xuất, bắt đầu có tích luỹ từ nền kinh tế
quốc dân; tạo thêm nhiều việc làm cho người lao động, giảm mạnh nhịp độ tăng dân số, ổn định và
từng bước cải thiện đời sống của nhân dân; tiếp tục phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, đổi mới
hoạt động của Nhà nước; bảo đảm quốc phòng, an ninh và trật tự an toàn xã hội, bảo vệ thành quả
cách mạng.
Báo cáo về xây dựng Đảng xác định nhiệm vụ đổi mới và chỉnh đốn Đảng là: Phát huy truyền
thống cách mạng, tăng cường bản chất giai cấp công nhân và tính tiên phong của Đảng; xây dựng
Đảng thật sự vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức, gắn liền với đổi mới cơ chế quản lý
kinh tế - xã hội, cải cách bộ máy nhà nước, đổi mới công tác quần chúng, bảo đảm cho Đảng làm
tròn nhiệm vụ lãnh đạo sự nghiệp cách mạng xã hội chủ nghĩa.
Đại hội thông qua Điều lệ Đảng (sửa đổi), trong đó: khẳng định cùng với chủ nghĩa Mác-
Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động của Đảng.
Đại hội đã bầu 146 đồng chí vào Ban Chấp hành Trung ương khoá VII, Bộ Chính trị gồm 13
đồng chí, Ban Bí thư gồm 9 đồng chí. Đỗ Mười được bầu làm Tổng Bí thư. Nguyễn Văn Linh,
Phạm Văn Đồng, Võ Chí Công được giao trọng trách là Cố vấn Ban Chấp hành Trung ương.
Đại hội VII của Đảng là "Đại hội của trí tuệ - đổi mới, dân chủ - kỷ cương - đoàn kết". Đại
hội đã hoạch định con đường quá độ lên chủ nghĩa xã hội phù hợp với đặc điểm của Việt Nam và
những giải pháp đưa đất nước ra khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội. Đại hội đã củng cố thêm niềm
tin tưởng của nhân dân đối với công cuộc đổi mới.
b) Thực hiện kế hoạch nhà nước 5 năm (1991-1996)
Từ sau Đại hội VII, tình hình thế giới tiếp tục diễn biến nhanh chóng và phức tạp.
156
Đảng Cộng sản Liên Xô bị giải tán (ngày 25-8-1991), chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô sụp
đổ (tháng 8-1991). Chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch âm mưu xóa bỏ các nước xã hội chủ
nghĩa còn lại. Sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta đứng trước thử thách hết sức nghiêm trọng.
Song, Đảng ta và nhân dân ta vẫn giữ vững bản lĩnh chính trị, kiên trì xây dựng đất nước theo
đường lối đổi mới. Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã cụ thể hóa và phát triển đường lối của Đại
hội VII, giải quyết một loạt vấn đề quan trọng về đối nội và đối ngoại trước những diễn biến mới
của tình hình thế giới và trong nước.
Hội nghị lần thứ hai Ban Chấp hành Trung ương Đảng họp từ ngày 25-11 đến ngày 4-12-
1991 đã bàn về vấn đề ổn định và phát triển kinh tế - xã hội, xác định quan điểm, chủ trương thực
hiện Nghị quyết Đại hội VII và việc sửa đổi Hiến pháp.
Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng họp từ ngày 18 đến ngày 29-6-1992 đã
nghiên cứu và quyết định ba vấn đề quan trọng về: tình hình thế giới và chính sách đối ngoại; củng
cố quốc phòng, giữ vững an ninh quốc gia; đổi mới và chỉnh đốn Đảng.
Công tác đối ngoại giữ vị trí quan trọng trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ
quốc. Đảng chủ trương "mở rộng, đa dạng hoá và đa phương hoá quan hệ đối ngoại cả về chính trị,
kinh tế, văn hóa và khoa học - kỹ thuật, cả về Đảng, Nhà nước và các đoàn thể nhân dân, các tổ
chức phi chính phủ, trên nguyên tắc tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, không can
thiệp vào công việc nội bộ của nhau, bình đẳng cùng có lợi, bảo vệ và phát triển kinh tế, giữ gìn và
phát huy những truyền thống và bản sắc tốt đẹp của nền văn hóa dân tộc"
1
.
Củng cố quốc phòng và giữ vững an ninh quốc gia là nhiệm vụ chung của toàn Đảng, toàn
dân, toàn quân, trong đó Quân đội nhân dân và Công an nhân dân là lực lượng nòng cốt.
Đổi mới và chỉnh đốn Đảng là một nhiệm vụ đặc biệt quan trọng và cấp bách, có ý nghĩa
quyết định đối với toàn bộ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước, đối với vận mệnh của chế độ
và của Đảng.
Mục tiêu đổi mới và chỉnh đốn Đảng là nhằm nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu
của Đảng phù hợp với yêu cầu của cách mạng nước ta trong tình hình mới.
Trong công cuộc đổi mới, về mặt kinh tế, nông nghiệp là khâu đột phá hàng đầu. Để tiếp tục
đẩy mạnh đổi mới về nông nghiệp và nông thôn, Hội nghị lần thứ năm của Ban Chấp hành Trung
ương Đảng họp từ ngày 3 đến ngày 10-6-1993 nghiên cứu sâu hơn về thực trạng nông nghiệp và
nông thôn, đã quyết định những chủ trương để đưa nông nghiệp và nông thôn tiến nhanh và vững
chắc hơn. Nghị quyết Tiếp tục đổi mới và phát triển kinh tế - xã hội nông thôn của Hội nghị đã xác
định ba mục tiêu, bốn quan điểm cùng các phương hướng và giải pháp cụ thể nhằm tạo ra
bước chuyển biến mới trong sự nghiệp phát triển nông nghiệp và kinh tế - xã hội nông thôn.
Từ sau Đại hội VII, mặc dù tình hình thế giới, đặc biệt là hệ thống xã hội chủ nghĩa đã có
những diễn biến phức tạp, song Đảng và nhân dân Việt Nam vẫn kiên trì con đường đổi mới, đẩy
mạnh phát triển kinh tế - xã hội, giữ vững ổn định chính trị, củng cố an ninh quốc phòng, đa dạng
quan hệ đối ngoại, từng bước phá thế bao vây, cấm vận. Song, chúng ta còn nhiều mặt yếu kém và
nhiều vấn đề mới nảy sinh. Thực hiện Điều lệ mới của Đảng, Ban Chấp hành Trung ương đã chuẩn
bị triệu tập Hội nghị đại biểu giữa nhiệm kỳ của Đảng.
Từ ngày 20 đến ngày 25-1-1994 tại Hà Nội, 647 đại biểu đã dự Hội nghị đại biểu toàn quốc
giữa nhiệm kỳ của Đảng. Hội nghị khẳng định: Đổi mới là sự nghiệp khó khăn, song chúng ta đã
mạnh dạn tìm tòi, dũng cảm tiến hành và giành thắng lợi quan trọng. Trước mắt, nhân dân ta đang
đứng trước những thách thức lớn và những cơ hội lớn.
Những thách thức đó là: nguy cơ tụt hậu xa hơn về kinh tế so với nhiều nước trong khu vực
và trên thế giới; nguy cơ chệch hướng xã hội chủ nghĩa; nguy cơ về nạn tham nhũng và tệ quan
liêu; nguy cơ "diễn biến hòa bình" của các thế lực thù địch.
Những thuận lợi cơ bản, thời cơ lớn là: Đảng có đường lối đúng đắn; nhân dân ta cần cù,
thông minh, yêu nước, có bản lĩnh và ý chí kiên cường, tin tưởng sự lãnh đạo của Đảng; các lực
lượng vũ trang trung thành với sự nghiệp cách mạng của Đảng và nhân dân ta; những thành tựu
đổi mới đang tạo ra thế và lực mới của cách mạng khoa học kỹ thuật và xu thế mở rộng quan hệ
hợp tác trên thế giới và khu vực đem lại cho chúng ta khả năng thêm nguồn lực quan trọng.
Hội nghị nêu rõ trong những năm còn lại của nhiệm kỳ Đại hội VII phải thúc đẩy nhanh hơn
nhịp độ thực hiện những mục tiêu của chiến lược ổn định và phát triển kinh tế - xã hội đến năm
2000, phấn đấu vì dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh và đề ra những nhiệm vụ chủ
yếu để thực hiện thắng lợi mục tiêu chiến lược đó.
Về nhân sự, Hội nghị đã bầu bổ sung vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng 20 uỷ viên mới
để thay thế cho các uỷ viên vì lý do sức khoẻ đã rút lui và hoặc bị kỷ luật.
Để triển khai Nghị quyết Hội nghị đại biểu giữa nhiệm kỳ, Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp
hành Trung ương Đảng đã họp từ ngày 25 đến ngày 30-7-1994 bàn định về chủ trương, chính sách
phát triển công nghiệp, công nghệ và xây dựng giai cấp công nhân, nhằm đẩy tới một bước công
nghiệp hóa, hiện đại hoá đất nước.
Yêu cầu của đất nước trong thời kỳ phát triển mới đòi hỏi phải ra sức xây dựng, kiện toàn bộ
máy nhà nước vững mạnh, trong sạch, có hiệu lực và có hiệu quả. Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp
hành Trung ương Đảng họp từ ngày 16 đến ngày 23-1-1995 đã bàn thảo và ra nghị quyết về việc
tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, cải cách một
bước nền hành chính nhà nước. Kiện toàn Nhà nước là một quá trình tương đối lâu dài phải được
tiến hành với những bước đi tích cực, vững chắc, đặt trong tổng thể đổi mới hệ thống chính trị, gắn
chặt với đổi mới và chỉnh
158
đốn Đảng.
Kể từ tháng 6-1991 đến nửa năm đầu năm 1995, toàn Đảng, toàn dân ta dưới sự lãnh đạo và
tổ chức của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, chúng ta đã vượt qua những khó khăn, thách thức
vô cùng gay gắt, giành được nhiều thắng lợi mới to lớn. Đó là:
- Đẩy nhanh nhịp độ phát triển kinh tế, hoàn thành vượt mức nhiều mục tiêu chủ yếu của kế
hoạch năm năm.
- Tạo được một số chuyển biến tích cực về mặt xã hội. Giữ vững ổn định chính trị, củng cố
quốc phòng, an ninh. Thực hiện có kết quả một số đổi mới quan trọng về hệ thống chính trị.
- Phát triển mạnh mẽ quan hệ đối ngoại, phá thế bị bao vây cấm vận, tham gia tích cực vào
đời sống cộng đồng quốc tế.
Bên cạnh đó chúng ta còn những khuyết điểm và yếu kém. Nước ta còn nghèo và kém phát
triển, nhưng chưa thực hiện tốt việc cần kiệm trong sản xuất, tiết kiệm trong tiêu dùng để dồn vốn
đầu tư phát triển; tình hình xã hội còn nhiều tiêu cực và nhiều vấn đề phải giải quyết; việc lãnh đạo
xây dựng quan hệ sản xuất mới vừa có phần lúng túng, vừa buông lỏng; quản lý nhà nước về kinh
tế, xã hội còn yếu; hệ thống chính trị còn nhiều nhược điểm, chưa nâng lên kịp đòi hỏi của tình
hình. Tuy vậy, về cơ bản nhiệm vụ do Đại hội VII đề ra cho năm năm 1991-1995 đã được hoàn
thành. Nước ta đã ra khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội, nhưng một số mặt còn chưa vững chắc.
Từ thực tiễn của sự nghiệp đổi mới 10 năm đã qua cho thấy con đường đi lên chủ nghĩa xã
hội ở nước ta ngày càng được xác định rõ hơn.
3. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng và thực hiện kế hoạch nhà nước 5 năm
(1996-2000)
a) Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng
Đại hội lần thứ VIII của Đảng đã họp từ ngày 28-6 đến ngày 1-7-1996 tại Hà Nội (trong đó từ
ngày 22-6 đến ngày 26-6 Đại hội nội bộ). Dự Đại hội có 1.198 đại biểu thay mặt cho 2.130.000
đảng viên trong cả nước và còn có 41 đoàn đại biểu quốc tế.
Đại hội VIII diễn ra trong bối cảnh Liên Xô tan rã và chủ nghĩa xã hội đi vào thoái trào. Cách
mạng khoa học và công nghệ phát triển với trình độ ngày càng cao. Nước ta đã ra khỏi khủng
hoảng kinh tế - xã hội.
Đại hội đã thảo luận và thông qua các văn kiện: Báo cáo chính trị; Phương hướng nhiệm vụ
kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm (1996-2000); Điều lệ Đảng (bổ sung, sửa đổi). Đại hội đã
kiểm điểm, đánh giá kết quả 5 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội VII và đánh giá tổng quát trong
10 năm đổi mới:
- Công cuộc đổi mới trong 10 năm (1986-1996) thu được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa
rất quan trọng. Nhiệm vụ do Đại hội VII đề ra cho 5 năm (1991-1995) đã hoàn thành về cơ bản.
159
- Nước ta đã ra khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội, nhưng một số mặt còn chưa vững chắc.
- Con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ngày càng được xác định rõ hơn.
- Nhiệm vụ đề ra cho chặng đường đầu của thời kỳ quá độ là chuẩn bị tiền đề cho công
nghiệp hoá đã cơ bản hoàn thành, cho phép chuyển sang thời kỳ mới đẩy mạnh công nghiệp hoá,
hiện đại hoá đất nước.
- Xét trên tổng thể, việc hoạch định và thực hiện đường lối đổi mới những năm qua về cơ bản
là đúng đắn, đúng định hướng xã hội chủ nghĩa, tuy trong quá trình thực hiện có một số khuyết
điểm, lệch lạc và kéo dài, dẫn đến chệch hướng ở lĩnh vực này, hay lĩnh vực khác, ở mức độ này,
hay mức độ khác.
- Giữ vững mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, nắm vững hai nhiệm vụ chiến lược
xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, kiên trì chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh.
- Kết hợp chặt chẽ ngay từ đầu đổi mới kinh tế với đổi mới chính trị, lấy đổi mới kinh tế làm
trọng tâm, đồng thời từng bước đổi mới chính trị.
- Xây dựng nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường, đi đôi
với tăng cường vai trò quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Tăng trưởng kinh
tế gắn liền với tiến bộ và công bằng xã hội, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, bảo vệ
môi trường sinh thái.
- Mở rộng và tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân, phát huy sức mạnh của cả dân tộc.
- Mở rộng hợp tác quốc tế, tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ và giúp đỡ của nhân dân thế giới,
kết hợp sức mạnh của dân tộc với sức mạnh của thời đại.
- Tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng, coi xây dựng Đảng là nhiệm vụ then chốt.
Xuất phát từ đặc điểm tình hình thế giới và trong nước, căn cứ vào cương lĩnh của Đảng, Đại
hội quyết định cần tiếp tục nắm vững hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo
vệ Tổ quốc, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Đến năm 2020, ra sức phấn đấu đưa nước ta
cơ bản trở thành một nước công nghiệp.
Đại hội xác định mục tiêu, từ nay đến năm 2020 ra sức phấn đấu đưa nước ta cơ bản trở thành
một nước công nghiệp với:
Lực lượng sản xuất sẽ đạt trình độ tương đối hiện đại, phần lớn lao động thủ công đã được
thay thế bằng lao động sử dụng máy móc, điện khí hoá cơ bản được thực hiện trong cả nước, năng
suất lao động xã hội và hiệu quả sản xuất kinh doanh cao hơn nhiều so với hiện nay. GDP tăng từ
8-10 lần so với năm 1990.
Về quan hệ sản xuất: chế độ sở hữu, cơ chế quản lý và chế độ phân phối gắn kết với nhau,
phát huy được các nguồn lực, tạo ra động lực mạnh mẽ thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, thực hiện
công bằng xã hội.
160

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét