- Tổng kết tình hình thu hút và sử dụng FDI trong những năm qua để Đánh giá
thành công và những hạn chế trong hoạt động thu hút và sử dụng FDI.
- Tác động của đầu tư nước ngoài tới nền kinh tế Việt nam.
- Trên có sở mục tiêu phát triển của thời kỳ mới, xác định rõ mục tiêu, định
hướng thút và đề ra một số giải pháp nhằm tăng cường thu hút và sử dụng có hiệu
quả nguồn vốn FDI sau khi gia nhập WTO.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: tập chung vào hoạt động thực tiễn thu hút và sử dụng đầu tư
trực tiếp nước ngoài ở Việt Nam
- phạm vi nghiên cứu của đề tài: là hoạt động thu hút và sử dụng đầu tư trực tiếp
nước ngoài ở Việt Nam giai đoạn 1988 – 2010
5. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể: phân tích tổng hợp, thống kê,
so sánh. Logic, lịch sử cụ thể…
6. Kết cấu của đề tài
Chương I: Cơ sở lý luận và thực tiễn của hoạt động đầu tư trực tiếp nước
ngoài.
Chương II: Thực trạng thu hút và sử dụng vốn FDI ở Việt Nam
Chương III: Giải pháp chủ yếu nhằm thu hút và nâng cao hiệu quả sử dụng
nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài trong thời gian tới.
5
Chương 1. Cơ sở lý luận và thực tiễn về đầu tư trực
tiếp nước ngoài
1.1Cơ sở lý luận của đầu tư trực tiếp nước ngoài
6
1.1.1 Nguyên nhân hình thành và phát triển của đầu tư trực tiếp nước
ngoài
Đầu tư trực tiếp nước ngoài ( Foreign Direct investment – FDI) ngày càng có quan
trọng với nước tiếp nhận đầu tư và nước đi đầu tư. Chính vì vai trò quan trọng của
nó mà có rất nhiều quan điểm của các nhà kinh tế học nhằm lý giải nguyên nhân
hình thành và phát triển của hiện tượng này. Hiện nay, chủ yếu có 2 trường phái lý
giải sự hình thành và phát triển của hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài đó là quan
điểm của các nhà kinh tế học tư bản và xã hội chủ nghĩa.
Quan điểm của các nhà kinh tế học, đại diện là Adam smith (năm 1776), Thomas
Malthus (năm 1798) David Ricardo ( năm 1817) và sau này là Vernon ( năm 1966),
Kojima ( năm 1973), Hymer (năm 1976), Dunning ( năm 1988) … cho rằng hoạt
động đầu tư quốc tế được hình thành và phát triển do một số nguyên nhân chủ yếu
sau:
+ Xuất phát từ học thuyết về phân công lao động quốc tế dựa trên lợi thế so sánh và
thương mại quốc tế, các nhà kinh tế học cổ điển cho rằng khởi nguyên của quan hệ
kinh tế giữa các quốc gia bắt nguồn từ hoạt động thương mại quốc tế. Bằng học
thuyết “Lợi thế so sánh – Comparative advantages”, Adam smith ( năm 1776) và
David Ricardo ( năm 1817) cho rằng mỗi quốc gia trên thế giới đều chuyên môn hoá
sản xuất ra một hoặc một nhóm sản phẩm với chi phí sản xuất thấp hơn so với quốc
gia khác và tiến hành xuất khẩu hàng hoá này sang quốc gia đó. Đồng thời, quốc gia
này cũng giành cơ hội để quốc gia khác sản xuất và xuất khẩu sản phẩm có chi phí
sản xuất thấp hơn chi phí sản xuất do nước mình tiến hành mà không phụ thuộc vào
quy mô sản xuất và trình độ phát triển . Lợi thế so sánh chính là nguyên nhân hình
thành, phát triển quan hệ thương mại quốc tế giữa các quốc gia với nhau và cũng cho
thấy trình độ phát triển về lực lượng sản xuất giữa các quốc gia cơ bản là rất khác
7
nhau. Như vậy, thương mại quốc tế là quan hệ đầu tiên, cơ bản và làm phát sinh quan
hệ kinh tế quốc tế giữa các quốc gia sau này. Tuy nhiên, do có sự chênh lệch về lực
lượng sản xuất giữa các quốc gia và những trở ngại trong hoạt động thương mại
quốc tế đã hình thành và phát triển quan hệ đầu tư giữa các quốc gia. Dưới góc độ
nước tiếp nhận đầu tư, để phát triển một số ngành sản xuất với điều kiện chưa cho
phép hoặc sản xuất với chi phí cao thay vì phải nhập khẩu, quốc gia tiếp nhận đầu tư
đã kêu gọi đầu tư từ những quốc gia có thế mạnh về những ngành công nghiệp đó.
Dưới góc độ của nước đi đầu tư, từ những nước này mong muốn đầu tư tại những
nước có trình độ phát triển thấp hơn để tận dụng chi phí sản xuất rẻ và khai thác tài
nguyên thiên nhiên.
Tại những nước công nghiệp phát triển, do phải đối mặt với môi trường cạnh tranh
gay gắt nên tỷ xuất lợi nhuận của các doanh nghiệp của những quốc gia này là rất
thấp. Do vậy, các doanh nghiệp thường có xu hướng chuyển vốn, công nghệ và tài
sản ra những nước có môi trường cạnh tranh kém hơn so chi phí sản xuất rẻ hơn
nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn và đạt được tỷ xuất lợi nhuận cao hơn.
Các nước đang phát triển đang trong quá trình chuyển đổi nền kinh tế và thực hiện
công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước thường đối mặt với vấn đề thiếu vốn, công
nghệ tiên tiến và trình độ quản lý. Chính vì những nhu cầu này đã tạo điều kiện cho
việc di chuyển vốn, công nghệ và trình độ quản lý từ các nước công nghiệp phát
triển sang các nước phát triển.
Xu hướng bảo hộ mậu dịch ngày càng tăng nên đầu tư nước ngoài là một biện pháp
hữu hiệu nhằm xâm nhập và chiếm lĩnh thị trường ; tránh được hàng rào bảo hộ thuế
quan; giảm chi phí sản vận chuyển hàng hoá.
Các nhà kinh tế học xã hội chủ nghĩa mà đại diện là Lênin cho rằng sự phát triển của
đầu tư trực tiếp nước ngoài dựa trên xuất khẩu tư bản. Khi nghiên cứu giai đoạn phát
triển của chủ nghĩa tư bản, Lênin đã nêu ra một trong năm đặc trưng quan trọng của
chủ Nghĩa đế quốc đó là xuất khẩu của đó là xuất khẩu tư bản. Theo Lênin: “Điểm
8
điển hình của chủ nghĩa tư bản cũ, trong đó sự cạnh tranh tự do còn hoàn toàn thống
trị, là việc xuất khẩu hàng hoá . Đặc điểm của chủ nghĩa tư bản mới nhất, trong đó tổ
chức độc quyền thống trị là việc xuất khẩu tư bản”(Lênin : tác phẩm “chủ nghĩa đế
quốc giai đoạn tột cùng của chủ nghĩa tư bản”). Xuất khẩu tư bản là một nhu cầu tất
yếu khách quan. Bởi vì, tại một số nước phát triển đã tích luỹ được một số lượng tư
bản kếch sù và một bộ phận đã trở thành “tư bản thừa” do không tìm được nơi có tỷ
xuất lợi nhuận cao ở trong nước. Các nước phát triển muốn xuất khẩu tư bản của
mình để tranh thủ lao động, nguyên vật liệu, tài nguyên thiên nhiên rẻ…Ở các nước
kém phát triển, thiếu tư bản.
Bên cạnh việc lý giải nguyên nhân của đầu tư nước ngoài thông qua xuất khẩu
tư bản, các nhà kinh tế học xã hội chủ nghĩa cho rằng chủ nghĩa tư bản đã thiết lập
quan hệ đầu tư quốc tế từ các nước tư bản phát triển sang các nước thuộc địa nhằm
tìm kiếm lợi nhuận, khai thác tài nguyên thiên nhiên và duy trì sự áp bức bóc lột tại
hệ thống do mình quản lý.
1.1.2 Khái niệm, bản chất và đặc điểm của đầu tư trực tiếp nước
ngoài
1.1.2.1Khái niệm về đầu tư trực tiếp nước ngoài
Gần đây, khái niệm đầu tư trực tiếp nước ngoài đã được nhiều tổ chức kinh tế quốc
tế đưa ra nhằm mục đích giúp các quốc gia hoạch định chính sách kinh tế vĩ mô về
FDI, tạo điều kiện thúc đẩy hoạt động tự do hoá thương mại và đầu tư quốc tế và
phân loại, sử dụng trong công tác thống kê quốc tế. Quỹ tiền tệ thế giới
( International Moneytary Fund – IMF), trong báo cáo cán cân thanh toán hàng năm
đã đưa ra định nghĩa về đầu tư trực tiếp nước ngoài như sau:
9
“ Đầu tư trực tiếp nước ngoài là đầu tư có lợi ích lâu dài của một doanh nghiệp tại
một nước khác( nước nhận đầu tư – hosting country, không phải tại nước mà doanh
nghiệp đang hoạt động( nước đi đầu tư – source cuontry) với mục đích quản lý một
cách có hiệu quả doanh nghiệp”
Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế ( Organisation for Economic
Cooperation and development – OECD) cũng đưa ra định nghĩa về đầu tư trực tiếp
nước ngoài tương tự như IMF. Tuy vậy, OECD có quan niệm rất rộng về nhà đầu tư
nước ngoài. Theo quan điểm của OECD, nhà đầu tư nước ngoài là cá nhân hoặc tổ
chức có thể thuộc cơ quan chính phủ hoặc không thuộc cơ quan chính phủ đầu tư tại
nước ngoài.
(1)
Uỷ ban thương mại và phát triển của Liên hợp quốc ( USCTAD), trong báo
cáo đầu tư thế giới năm 1996
(2)
đã đưa ra định nghĩa đầu tư trực tiếp nước ngoài như
sau:
“ đầu tư trực tiếp nước ngoài là đầu tư có mối liên hệ lợi ích và sự kiểm soát lâu dài
của một pháp nhân hoặc thể nhân ( nhà đầu tư trực tiếp nước ngoài hoặc công ty mẹ)
đối với một doanh nghiệp có một nền kinh tế khác (doanh nghiệp FDI hoặc chi nhánh
nước ngoài hoặc chi nhánh doanh nghiệp)”.
UNCTAD còn đưa ra một số khái niệm khác có liên quan đến đầu tư trực tiếp nước
ngoài. Cụ thể như sau:
Thứ nhất, dòng vốn FDI ra và dòng vốn FDI vào là vốn được nhà đầu tư nước ngoài
đầu tư vào doanh nghiệp FDI tại nước tiếp nhận đầu tư.
Cùng với khái niệm này, có ba khái niệm sau:
- Vốn đầu tư cổ phần là cổ phần của nhà đầu tư trực tiếp nước ngoài mua từ doanh
nghiệp ở nước tiếp nhận đầu tư, không phải cổ phần của doanh nghiệp trong nước tại
nước đi đầu tư.
- lợi nhuận tái đầu tư là cổ tức không được chuyển cho nhà đầu tư nước ngoài mà
được giữ lại nhằm mục đích tái đầu tư.
10
- Các giao dịch vay và nợ bên trong công ty là các khoản vay ngắn hạn và dài hạn
giữa công ty mẹ và công ty thành viên.
Thứ hai, vốn cổ phần đầu tư trực tiếp nước ngoài ( Foreign – Direct – Investment
Istock) là giá trị cổ phần và vốn dự trữ ( bao gồm cả lợi nhuận giữ lại) thuộc về công
ty mẹ cộng thêm các khoản nợ ròng của các công ty thành viên.
Hoa Kỳ là một trong những nước tiếp nhận đầu tư và tiến hành đầu tư lớn nhất trên
thế giới cũng đưa ra định nghĩa về FDI: “FDI là bất kỳ dòng vốn nào thuộc sở hữu
đa phần của công dân hoặc công ty của nước đi đầu tư có được từ việc cho vay hoặc
dùng để mua sở hữu của doanh nghiệp nước ngoài” và Hoa Kỳ coi việc sở hữu đa
phần chỉ cần chiếm 10% giá trị của doanh nghiệp nước ngoài. Có thể nhận biết FDI
theo quan điển Hoa Kỳ theo ví dụ sau ( bảng 1.1). (OECD Benchmark Deffinition of FDI, page 5)
Quan điểm về FDI của Việt Nam theo quy định tại khoản 1 điều 2 Luật đầu tư nước
ngoài được sửa đổi bổ xung năm 2000: “ Đầu tư trực tiếp nước ngoài là việc nhà
đầu tư nước ngoài đưa vào Việt Nam vốn hoặc bằng tiền hoặc bất kỳ tài sản nào để
tiến hành các hoạt động đầu tư theo quy định của luật này.”
trong đó nhà đầu tư nước ngoài được hiểu là tổ chức kinh tế, cá nhân nước ngoài đầu
tư vào Việt Nam.
Bảng 3. Ví dụ về định nghĩa FDI của Hoa Kỳ
Đầu tư trực tiếp nước ngoài Đầu tư gián tiếp nước ngoài
Công ty Alcoa của Hoa Kỳ mua 50%
cổ phần của một công ty khai khoáng
của Jamaica.
Công ty Alcoa của Hoa Kỳ mua 5%
cổ phần của một công ty khai khoáng
Jamaica
Công ty Ford của hoa kỳ cho một chi
nhánh ở Canada vay, trong đó Ford
chiếm 55% cổ phần
Công ty Ford của Hoa Kỳ cho một
chi nhanh ở Canada vay, trong đó
Ford chiếm 8% cổ phần.
11
Nguồn: International Economics
Peter H.Lindert and Thomas A.pugel
Qua các định nghĩa về FDI, có thể rút ra định nghĩa về đầu tư trực tiếp nước ngoài
như sau: “ Đầu tư trực tiếp nước ngoài là sự di chuyển vốn, tài sản, công nghệ hoặc
bất kỳ tài sản nào từ nước đi đầu tư sang nước tiếp nhận đầu tư để thành lập hoặc
kiểm soát doanh nghiệp nhằm mục đích kinh doanh có lãi”.
1.1.2.2Các hình thức cơ bản của đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI):
-
Xét theo mục đích đầu tư, FDI được phân làm 2 loại: đầu tư theo chiều ngang và đầu
tư theo chiều dọc.
+ Đầu tư trực tiếp nước ngoài theo chiều ngang ( horizontal FDI): là việc một công
ty tiến hành đầu tư trực tiếp nước ngoài vào chính ngành sản xuất mà họ đang có lợi
thế cạnh tranh một loại sản phẩm nào đó. Với lợi thế này họ muốn tìm lợi nhuận cao
hơn ở nước ngoài nên đã mở rộng và thôn tính thị trường nước ngoài. Hình thức này
dẫn đến cạnh tranh độc quyền mà Mỹ, đang dẫn đầu việc đầu tư này ở các nước phát
triển.
+ Đầu tư trực tiếp nước ngoài theo chiều dọc (vertical FDI): khác với các hình thức
đầu tư theo chiều ngang, hình thức đầu tư theo chiều dọc với mục đích khai thác
nguồn tài nguyên thiên nhiên và các yếu tố đầu vào rẻ như lao động đất đai và các
nước nhận đầu tư. Do các nhà đầu tư thường chú ý khai thác cạnh tranh của các yếu
tố đầu vào giữa các khâu trong quá trình sản xuất ra một loại sản phẩm trong phân
công lao động quốc tế, nên các sản phẩm thường được hoàn thiện qua lắp ráp ở các
nước nhận đầu tư. Sau đó các sản phẩm này lại được nhập khẩu về nước đầu tư hay
12
xuất khẩu sang nước khác. Đây là hình thức khá phổ biến của hoạt động đầu tư trực
tiếp nước ngoài tại các nước đang phát triển.
- Xét về hình thức sở hữu đầu tư trực tiếp nước ngoài thường thường có các hình
thức sau:
+ Hình thức doanh nghiệp liên doanh: đây là hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài,
qua đó pháp nhân mới được thành lập gọi là doanh nghiệp liên doanh. Doanh nghiệp
mới do hai hoặc nhiều bên hợp tác thành lập tại nước chủ nhà trên cơ sở hợp đồng
liên doanh, hình thức này có đặc trưng: pháp nhân mới được thành lập theo hình
thức công ty trách nhiệm hữu hạn, có tư cách pháp nhân theo pháp luật của nước chủ
nhà. Mỗi bên tham gia vào doanh nghiệp liên doanh là một pháp nhân riêng. Nhưng
doanh nghiệp liên doanh là một pháp nhân độc lập với các bên tham gia. Khi các bên
đã đóng góp đủ số vốn đã quy định vào liên doanh thì dù một bên có phá sản, doanh
nghiệp liên doanh vẫn tồn tại. Mỗi bên liên doanh chịu trách nhiệm với bên kia, với
doanh nghiệp liên doanh trong phạm vi phần vốn góp của mình vào vốn pháp định.
+ Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài: đây là doanh nghiệp thuộc quyền sở hữu của
tổ chức cá nhân nước ngoài, được hình thành bằng toàn bộ vốn nước ngoài và do tổ
chức hoặc cá nhân nước ngoài thành lập, tự quản lý điều hành và hoàn toàn chịu
trách nhiệm về kết quả kinh doanh. Doanh nghiệp này được hình thành dưới dạng
các công ty trách nhiệm hữu hạn, là pháp nhân Việt Nam và chịu sự điều chỉnh của
luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam.
- Vốn pháp định cũng như vốn đầu tư do nhà đầu tư nước ngoài đóng góp, vốn
pháp định ít nhất bằng 30% vốn đầu tư của doanh nghiệp.
+ Hình thức hợp tác kinh doanh dựa trên cơ sở hợp đồng hợp tác kinh doanh. Đây là
hình thức đầu tư trực tiếp trong đó hợp đồng hợp tác kinh doanh được ký kết giữa
hai hay nhiều bên ( gọi là các bên hợp tác kinh doanh) để tiến hành một hoặc nhiều
hoạt động kinh doanh ở nước nhận đầu tư trong đó quy định trách nhiệm và phân
chia kết quả kinh doanh cho mỗi bên tham gia mà không cần lập xí nghiệp liên
13
doanh hoặc pháp nhân mới hình thức này không làm hình thành một công ty hay một
xí nghiệp mới. Mỗi bên vẫn hoạt động với tư cách là pháp nhân độc lập của mình và
thực hiện các nghĩa vụ của mình trước nhà nước.
Ngoài ba hình thức cơ bản trên, theo nhu cầu đầu tư về hạ tầng, các công trình xây
dựng còn có hình thức:
+ Hợp đồng xây dựng kinh doanh chuyển giao ( BOT) và một phương pháp đầu tư
trực tiếp dựa trên cơ sở được ký kết giữa các nhà đầu tư nước ngoài ( có thể là tổ
chức cá nhân nước ngoài đầu tư nước ngoài ( có thể là tổ chức cá nhân nước ngoài)
với cơ quan nhà nước có thẩm quyền để xây dựng kinh doanh công trình kết cấu hạ
tầng trong một thời gian nhất định, hết thời gian nhà đầu tư nước ngoài chuyển giao
không bồi hoàn công trình cho các nước chủ nhà.
- Hợp đồng xây dựng – kinh doanh – chuyển giao thường được thực hiện bằng 100%
vốn nước ngoài, cũng có thể được thực hiện bằng vốn nước ngoài và phần vốn góp
của chính phủ hoặc các tổ chức, cá nhân của nước chủ nhà. Trong hình thức đầu tư
này, các nhà đầu tư nước ngoài có toàn quyền tổ chức xây dựng kinh doanh công
trình trong một thời gian đủ thu hồi vốn đầu tư và có lợi nhuận hợp lý, sau đó có
nghĩa vụ chuyển giao cho nước chủ nhà mà không được bồi hoàn bất kỳ khoản tiền
nào.
+ Hợp đồng xây dựng – chuyển giao – kinh doanh và phương thức đầu tư dựa trên
văn bản ký kết giữa các cơ quan nhà nước có thẩm quyền của nước chủ nhà và nhà
đầu tư nước ngoài để xây dựng công trình kinh doanh kết cấu hạ tầng. Sau khi xây
dựng song nhà đầu tư nước ngoài chuyển giao công trình cho nước chủ nhà. Nước
chủ nhà có thể dành cho nhà đầu tư quyền kinh doanh công trình đó trong một thời
gian nhất định để thu hồi vốn đầu tư và lợi nhuận hợp lý
+ Hợp đồng xây dựng – chuyển giao (BT): là một phương thức đầu tư trực tiếp nước
ngoài trên cơ sở văn bản ký kết giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền của nước chủ
nhà và nhà đầu tư nước ngoài để xây dựng công trình kết cấu hạ tầng. Sau khi xây
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét