PHÂN TÍCH VẤN ĐỀ NGHÈO ĐÓI Ở VIỆT NAM VÀ
ĐỀ XUẤT CÁC BIỆN PHÁP GIÚP XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO
Tiểu luận môn Kinh tế phát triển
PHẦN MỞ ĐẦU
Đói nghèo là vấn đề toàn cầu, đã và đang diễn ra trên khắp các châu lục với
những mức độ khác nhau và trở thành một thách thức lớn đối với sự phát triển của
từng khu vực, từng quốc gia, dân tộc và từng địa phương. Việt Nam là một nước
nông nghiệp với 70% dân số sống ở nông thôn. Với trình độ dân trí, canh tác còn
hạn chế nên năng suất lao động chưa cao, thu nhập của nông dân còn thấp, tình
trạng đói nghèo vẫn diễn ra rộng khắp các khu vực. Vấn đề đói nghèo đã được
Đảng và Nhà nước hết sức quan tâm. Để người nghèo thoát nghèo là mục tiêu,
nhiệm vụ chính trị - xã hội. Đảng và Nhà nước đã có nhiều chính sách và biện
pháp giải quyết vấn đề đói nghèo. Nhưng việc triển khai thực hiện còn một số hạn
chế do sự thiếu thông tin cũng như nhận thức chưa đầy đủ về tình trạng nghèo đói
hiện nay. Vì thế việc nghiên cứu về thực trạng đói nghèo một cách hệ thống, có
khoa học để từ đó làm cơ sở đưa ra các chính sách xóa nghèo giảm cho từng đối
tượng ở từng địa phương một cách hợp lí là vấn đề mang tính cấp thiết để từng
bước đưa Việt Nam thoát khỏi tình trạng đói nghèo, trở thành một nước phát triển.
Chương 1: Khái niệm về vấn đề nghèo đói.
1. Một số khái niệm về nghèo đói
- Nghèo là tình trạng một bộ phận dân cư có mức sống tối thiểu không thỏa
mãn nhu cầu về ăn, mặc, ở, y tế, giáo dục, đi lại, giao tiếp…
- Đói là tình trạng một bộ phận dân cư nghèo có mức sống nhỏ hơn mức sống
tối thiểu, không đảm bảo nhu cầu vật chất để duy trì cuộc sống.
- Nghèo đói là tình trạng một bộ phận dân không được hưởng và thỏa mãn
những nhu cầu con người đã được xã hội thừa nhận tùy theo trình độ phát
triển kinh tế - xã hội và phong tục tập quán của địa phương.
- Chuẩn đói nghèo: Các quốc gia khác nhau sử dụng các tiêu chuẩn khác nhau
để đánh giá mức độ giàu nghèo. Việt Nam đưa ra chuẩn đói từ 2-1997 đến
1-1-2000 hộ đói là hộ có thu nhập dưới 13kg gạo/người/tháng, tương đương
với 45.000 đồng. Năm 2000, Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội đưa ra
ngưỡng nghèo mới làm căn cứ xác định mục tiêu xoá đói giảm nghèo cho
giai đoạn 2001 - 2005. Ngưỡng nghèo đó được ấn định cho từng khu vực:
nông thôn miền núi, hải đảo: 80.000 đồng/người/tháng; nông thôn đồng
bằng: 100.000 đồng/người/tháng; thành thị: 150.000 đồng.
2. Nhưng quan điểm về nghèo đói.
- Hiện nay, đói nghèo không còn là vấn đề riêng của từng quốc gia, mà là vấn
đề mang tính toàn cầu, bởi vì tất cả các quốc gia trên thế giới ngay cả những
giàu mạnh thì người nghèo vẫn còn và có lẽ khó có thể hết người nghèo khi
trong các xã hội chưa thể chấm dứt những rủi ro về kinh tế, xã hội, môi
trường và sự bất bình đẳng trong phân phối của cải làm ra. Rủi ro quá nhiều
trong sản xuất và đời sống làm cho một bộ phận dân cư rơi vào tình trạng
nghèo. Tháng 3/1995, tại Hội nghị thượng đỉnh thế giới về phát triển xã hội
ở Copenhagen Đan Mạch, những người đứng đầu các quốc gia đã trịnh trong
tuyên bố: Chúng tôi cam kết thực hiện mục tiêu xóa đói, giảm nghèo trên thế
giới, thông qua các hành động quốc gia kiên quyết và sự hợp tác quốc tế, coi
đây như một đòi hỏi bắt buộc về mặt đạo đức xã hội, chính trị, kinh tế của
nhân loại.
- Đói nghèo là một hiện tượng tồn tại ở tất cả các quốc gia dân tộc. Nó là một
khái niệm rộng, luôn thay đổi theo không gian và thời gian. Đến nay, nhiều
nhà nghiên cứu và các tổ chức quốc tế đã đưa ra nhiều khái niệm khác nhau,
trong đó có khái niệm khái quát hơn cả được nêu ra tại Hội nghị bàn về xóa
đói giảm nghèo ở khu vực châu Á Thái Bình Dương do ESCAP tổ chức tại
Thái Lan vào tháng 9/1993, các quốc gia đã thống nhất cho rằng: Đói nghèo
là tình trạng một bộ phận dân cư không được hưởng và thỏa mãn những nhu
cầu cơ bản của con người đã được xã hội thừa nhận, tùy theo trình độ phát
triển kinh tế xã hội và phong tục tập quán của từng địa phương. Đây là khái
niệm khá đầy đủ về đói nghèo, được nhiều nước trên thế giới nhất trí sử
dụng, trong đó có Việt Nam.
- Để đánh giá đúng mức độ nghèo, người ta chia nghèo thành hai loại: Nghèo
tuyệt đối và nghèo tương đối.
+ Nghèo tuyệt đối: là tình trạng một bộ phận dân cư không được hưởng và
thỏa mãn những nhu cầu cơ bản, tối thiểu để duy trì cuộc sống như nhu cầu
về ăn, mặc, nhà ở, chăm sóc y tế,…
+ Nghèo tương đối: là tình trạng một bộ phận dân cư có mức sống dưới mức
trung bình của địa phương, ở một thời kì nhất định.
- Những quan điểm trên về đói nghèo phản ánh ba khía cạnh chủ yếu của
người nghèo là: không được thụ hưởng những nhu cầu cơ bản ở mức tối
thiểu dành cho con người, có mức sống thấp hơn mức sống cộng đồng, thiếu
cơ hội lựa chọn tham gia vào quá trình phát triển của cộng đồng.
Chương 2: Vấn đề nghèo đói và xóa đói giảm nghèo ở việt nam
1. Nguyên nhân nghèo đói ở Việt Nam.
Nghèo ở nước ta do nhiều nguyên nhân, cả khách quan và chủ quan. Nguyên nhân
chủ yếu là do thiếu vốn và kiến thức, kinh nghiệm, bên cạnh đó còn do rủi ro và tệ nạn
xã hội.
Các nguyên nhân nghèo chung cả nước và chia theo vùng
(Tỷ lệ % ý kiến so với tổng)
Thiếu
vốn
Thiếu
đất
Thiếu
LĐ
Thiếu
kinh
nghiệm
Bệnh
tật
Tệ nạnRủi ro
Đông
người
Cả nước 63,69 20,82 11,40 31,12 16,94 1,18 1,65 13,60
1.Đông Bắc
2.Tây Bắc
3.Đồng bằng sông Hồng
4.Bắc Trung Bộ
5.Duyên hải Nam Trung Bộ
6.Tây Nguyên
7.Đông Nam Bộ
8.Đồng bằng sông Cửu Long
55,20
73,60
54,96
80,95
50,84
65,95
79,92
48,44
21,38
10,46
8,54
18,90
12,59
26,12
20,08
47,73
8,26
5,56
17,50
14,60
10,80
7,76
8,64
5,47
33,45
47,37
23,29
50,65
17,57
27,11
20,60
5,88
7,79
5,78
36,26
14,42
31,95
9,03
17,54
4,22
2,30
0,58
1,46
0,80
0,83
1,22
0,37
0,87
1,26
0,52
2,39
1,92
1,34
1,32
0,39
1,80
12,08
9,39
7,30
16,61
20,71
13,72
9,50
11,95
Nguồn: Bộ LĐTBXH (2003), Số liệu nghèo đói năm 2002
Các số liệu cho thấy trong cả nước nguyên nhân hàng đầu của sự nghèo là thiếu
vốn, nguyên nhân này chiếm đến 63,69%. Tiếp theo là các nguyên nhân thiếu kinh
nghiệm sản xuất kinh doanh (31,12%), thiếu đất (20,82%), bệnh tật (16,94%),
đông người (13,6%), thiếu 1ao động (11,40%) Trình tự này đúng với hầu hết các
vùng, tuy có khác nhau về mức độ. Sự khác nhau này phần nào phản ánh đặc điểm
của từng vùng. Chẳng hạn, nguyên nhân thiếu vốn có vẻ trầm trọng ở vùng nghèo
như Bắc Trung Bộ (80,95%), Tây Bắc (73,6%), ở đây người dân cần vốn để sản
xuất nhằm giảm nghèo, tiến tới đủ ăn, đủ mặc. Tuy nhiên ở vùng Đông Nam Bộ,
nơi có thu nhập bình quân cao nhất cũng thiếu vốn, nhưng mang tính chất khác với
các vùng nghèo, vì họ cần vốn để sản xuất kinh doanh, những nơi này không có
vốn cũng có thể dẫn đến nghèo. Nhu cầu về vốn ở người nghèo khá lớn nhưng việc
tiếp cận các nguồn vốn còn khó khăn, bởi vì nếu vay của tư nhân thì lãi suất cao,
còn các tổ chức tín dụng, như ngân hàng hoặc một số quỹ thì gặp các rào cản như
thủ tục rườm rà… Hầu hết ở các vùng nhiều ý kiến cho rằng vai trò của kinh
nghiệm sản xuất kinh doanh đóng vai trò quan trọng trong giảm nghèo. Kiến thức
và kinh nghiệm luôn cần để sử dụng tiềm năng về đất, vốn, lao động. Những vùng
nghèo như Tây Bắc (47,37%) và Bắc Trung Bộ (50,65%) là nơi có nhiều ý kiến
cho rằng đây là nguyên nhân quan trọng. Nguyên nhân thiếu đất có thể xảy ra với
các vùng có mật độ dân số cao, tỷ lệ đất canh tác trên đầu người thấp như Bắc
Trung Bộ hay Duyên hải miền Trung, và cả đối với vùng cần có diện tích lớn để
canh tác, như Đồng bằng sông Cửu Long, trong đó một số hộ nghèo bán/chuyển
nhượng quyền sử đụng đất canh tác mà trước đây họ đã được cấp. Đây là một hiện
tượng nổi cộm có liên quan đến cơ chế quản lý, phương thức sản xuất Nguyên
nhân thiếu lao động dẫn đến nghèo thường đi đôi với đông người, thường diễn ra
với các gia đình có đông con, nhiều người sống phụ thuộc, không có khả năng lao
động Nguyên nhân rủi ro xảy ra không chỉ khi thời tiết bất hoà, mà cả khi mất giá
trong một số sản xuất hàng hoá nông nghiệp (cà phê, hoa quả) và do con người gây
nên hoả hoạn, cháy rừng… Nhưng đây không phải là nguyên nhân phổ biến.
2. Thực trạng nghèo đói và giảm nghèo ở Việt Nam.
- Theo chuẩn nghèo hiện tại, tỷ lệ hộ nghèo năm 2004 ở nước ta là 8,3%
tương đương với khoảng 1,45 triệu hộ nghèo (năm 2001 tỷ lệ nghèo là 17,4% với
khoảng 2,8 triệu hộ nghèo). Điều này cho thấy thực trạng nghèo đói đã được cải
thiện nhanh.
Tỷ lệ hộ nghèo ở nước ta trong thời gian qua
Đơn vị: %
Các chỉ tiêu 1993 1998 2002
Tỷ lệ hộ nghèo (theo chuẩn chung)
- Thành thị
- Nông thôn
Tỷ lệ hộ nghèo theo chuẩn lương thực
- Thành thị
- Nông thôn
Khoảng cách nghèo
- Thành thị
- Nông thôn
58,1
25,1
66,4
24,9
7,9
29,1
18,5
6,4
21,5
37,4
9,2
45,5
15
2,5
18,6
9,5
1,7
11,8
28,9
6,6
35,6
10,9
1,9
13,6
6,9
1,3
8,7
Nguồn: Chương trình phát triển của Liên hiệp quốc (2003), báo cáo phát triển
con người 2002
Nếu năm 1993 có 58,1% hộ nghèo, thì năm 1998 còn 37,4% số hộ và đến năm
2002 tỷ lệ này là 28,9% (khoảng 4,73 triệu hộ nghèo). Nghĩa là sau 10 năm hơn
một nửa số hộ nghèo đã được thoát nghèo. Tuy nhiên, tốc độ giảm nghèo ở
nông thôn và thành thị không giống nhau, trong đó thành thị giảm đi tới 4 lần,
từ 25,1% năm 1993 xuống còn 6,6% năm 2002, trong khi đó nông thôn chỉ
giảm được gần 1/2 số hộ nghèo, từ 66,4%/o xuống 35,6%. Nếu tính theo chuẩn
lương thực, thực phẩm, thì ở thành thị số tỷ lệ hộ nghèo còn giảm nhanh hơn, từ
7,9% xuống còn 1,9%, nghĩa là giảm đi 4 lần, trong khi đó ở nông thôn chỉ
giảm đi hơn 2 lần từ 29,1% xuống còn 13,6%. Các số liệu theo chỉ số khoảng
cách nghèo tính theo chuẩn nghèo chung (chỉ số này cho biết mức độ nghèo và
được từ bằng phân chênh lệch giữa mức chi tiêu thực tế so với chuẩn nghèo và
được bình quân hoá) cũng cho biết xu hướng tương tự, cụ thể, giảm từ 18,5%
năm 1993 còn 9,5% vào năm 1998 và đến năm 2002 còn 6,9%.
- Số hộ nghèo vẫn còn nhiều, và phần lớn ở vùng nông thôn, số hộ ở cận kề
chuẩn nghèo còn đông, nếu nâng chuẩn nghèo lên gấp đôi thì tỷ lệ hộ nghèo đã
tăng lên gấp hơn 3 lần. Mức độ nghèo còn khá nghiêm trọng
Căn cứ vào chuẩn nghèo hiện nay ở nước ta có thể thấy được mức độ nghèo của
một bộ phận không nhỏ dân cư. Theo các nhà hoạch định chính sách, nếu nâng
chuẩn nghèo lên, dự kiến 180.000 VNĐ- 200.000 VNĐ/người/tháng đối với vùng
nông thôn và khoảng 250.000 VNĐ-260.000 VNĐ/người/tháng đối với vùng
thành thị, thì Việt Nam sẽ có khoảng 4,6 triệu hộ nghèo, chiếm 26% tổng số hộ
toàn quốc. Trong đó hộ nghèo ở nông thôn miền núi sẽ là 45,9%, ở vùng nông
thôn đồng bằng sẽ là 23,2% và ở khu vực thành thị là 12,2%. Khi đó, tỷ lệ nghèo ở
các vùng kinh tế sẽ có chênh lệch đáng kể: Tây Bắc là 72,3%; Đông Bắc 36,1%;
Đồng bằng sông Hồng 19,8%; Bắc Trung Bộ 39,7%; Duyên hải miền Trung
23,3%; Tây Nguyên 52,2%; Đông Nam Bộ 10,2% và Đồng bằng sông Cửu Long
20,8%.
Có thể thấy rõ hơn thực trạng của các hộ nghèo qua một số chỉ tiêu phản ánh cuộc
sống hàng ngày của họ. Theo số liệu điều tra về mức sống dân cư Việt Nam, nếu
chia dân cư thành 5 nhóm thu nhập (tổng số nhân khẩu điều tra được sắp xếp theo
mức thu nhập bình quân đầu người từ thấp đến cao, sau đó chia thành 5 nhóm với
số nhân khẩu bằng nhau - 20%), thì nhóm 1- nhóm nghèo nhất có thu nhập trung
bình năm 1998 là 62.916 VNĐ/người/tháng. (755 nghìn/năm) và năm 2002 là
107.670 VNĐ/người/tháng. Trên 62,71% thu nhập của hộ nghèo là từ hoạt động
nông lâm nghiệp và thủy sản, 8% tìm hoạt động phi nông nghiệp, 19,24% từ tiền
công, tiền lương và 10,05% là nguồn thu khác. Điều này phản ánh rằng các hộ
nghèo chủ yếu sống dựa vào nông nghiệp và ở nông thôn. Cơ cấu chi tiêu của
nhóm nghèo tập trung cho các nhu cầu thiết yếu, như trên 70%. chi tiêu là cho
nhu cầu ăn, uống, hút và chưa đến 30% cho các nhu cầu khác như mặc, y tế, giao
thông, giáo dục, văn hoá, thể thao. Một trong những nhu cầu cơ bản của con
người là nơi ở. Năm 2002 có 39,93% người nghèo sống trong những căn nhà đơn
sơ, tạm bợ, không bảo đảm an toàn. Các đồ dùng lâu bền phục vụ sinh hoạt hàng
ngày vẫn còn rất thiếu so với nhu cầu cuộc sống hiện đại. Năm 1998 chỉ có 0,11%
hộ nghèo có tủ lạnh, 1,41% hộ nghèo có xe máy, và chưa đến 0,01% hộ nghèo có
điện thoại.
- Sự phân hóa giàu nghèo, giữa các khu vực nông thôn và thành thị, giữa các
vùng kinh tế và giữa các đơn vị hành chính đang tồn tại với khoảng cách tương
đối lớn, có xu hướng tăng.
Tỷ lệ nghèo theo chuẩn nghèo chung chia theo vùng (%)
Vùng 1998 2002
Đồng bằng sông Hồng
Đông Bắc
Tây Bắc
Bắc Trung Bộ
Duyên hải Nam Trung Bộ
Tây Nguyên*
Đông Nam Bộ*
Đồng bằng sông Cửu Long
29,3
62,0
73,4
48,1
34,5
52,4
12,2
36,9
22,4
38,4
68,0
43,9
25,2
51
10,6
23,4
Chú thích: (*) theo sự phân vùng lại năm 2002 Đông Nam Bộ bao gồm cả các tỉnh
Ninh Thuận, Bình Thuận và Lâm Đồng.Vùng Tây Nguyên không bao gồm Lâm
Đồng.
Nguồn: Tổng cục thống kê (2004). Kết quả điều tra mức sống hộ gia đình năm
2002.
Các số liệu cho thấy sự chênh lệch về nghèo đói giữa các vùng. Năm 2002 vùng có
tỷ lệ hộ nghèo cao nhất là Tây Bắc (68,0%), sau đó đến Tây Nguyên (51,8%), Bắc
Trung Bộ (43,9%), và thấp nhất là Đông Nam Bộ (10,6%). Tỷ lệ hộ nghèo ở vùng
Tây Bắc nhiều gấp gần 7 lần vùng Đông Nam Bộ, còn Tây Nguyên là gần 5 lần và
Bắc Trung Bộ là 4 lần Cùng với xu hướng giảm tỷ lệ nghèo chung của cả nước,
các vùng cũng có xu hướng giảm, trong đó Đông Bắc và Đông bằng sông Cửu
Long có mức giảm nhanh nhất. Các tỉnh có tỷ lệ nghèo lương thực, thực phẩm cao
nhất tập trung ở vùng miền núi phía Bắc là Lai Châu (35,68%), Bắc Kạn (30,74%),
Lào Cai (29,56%), Cao Bằng (27,01%), ở Tây Nguyên có tỉnh Gia Lai (18,18%), ở
Bắc Trung Bộ có tỉnh Hà Tĩnh (22,55%).
Các tỉnh có tỷ lệ nghèo lương thực, thực phẩm thấp nhất là Thành phố Hồ Chí
Minh (1,26%), Bình Dương (1,68%), Đà Nẵng (1,83%), Hà Nội (2,25%). Nếu so
sánh chỉ tiêu này chúng ta thấy sự chênh lệch này rất lớn, thí dụ, tỷ lệ nghèo của
tỉnh Lai Châu nhiều gấp hơn 28,3 lần so với thành phố Hồ Chí Minh và gấp 15,86
lần so với Hà Nội.
- Sự bất bình đẳng giữa các nhóm dân cư khá rõ nét, các hộ nghèo ít có cơ hội
tiếp cận đối với giáo dục, y tế, việc làm và các hoạt động văn hoá, tinh thần so
với các hộ giàu.
Sự phân hóa giàu nghèo còn thể hiện rõ khi điều tra dựa trên phân tổ theo 5 nhóm
thu nhập, như đã giải thích ở trên. Năm 2002 nhóm giàu nhất có thu
nhập/người/tháng là 873 nghìn, gấp 8,1 lần nhóm nghèo nhất (108 nghìn).
Sự bất bình đẳng giữa nhóm nghèo nhất và nhóm giàu nhất năm 2002
Các chỉ tiêu chủ yếu
Nhóm nghèo
nhất
Nhóm giàu
nhất
1. Tỷ lệ biết chữ (%)
2. Chi tiêu cho giáo dục bình quân năm (nghìn đồng)
3. Tỷ lệ đến khám chữa bệnhtại các cơ sở y tế (%)
4. Chi tiêu cho y tế bình quân năm (nghìn đồng)
5. Số giờ làm việc trung bình tuần (giờ)
6. Thu nhập bình quân đầu người tháng (nghìn đồng)
7. Chi tiêu cho đời sốngbình quân/người/tháng (nghìn đồng)
8. Diện tích ở bình quân nhân khẩu (m2)
9. Tỷ lệ hộ sử dụng nước máy (%)
83,9
236
16,5
395,03
25
108
123,3
9,5
1,28
97
1418
22
1181,43
42,4
873
547,53
17,5
34,93
Nguồn: Tổng cục Thống kê (2004). Kết quả điều tra mức sống hộ gia đình năm
2002
Đơn giản chỉ cần làm phép so sánh (chia hoặc trừ) giữa hai nhóm dân cư nghèo
nhất và giàu nhất, kết quả sẽ cho biết mức độ bất bình đẳng giữa họ. Nhóm dân cư
giàu đã có ưu thế trong nhiều lĩnh vực dịch vụ, kể cả việc làm. Bởi vì số giờ làm
việc trung bình của nhóm giàu nhiều hơn nhóm nghèo đến 1,7 lần, không phải vì
những người nghèo làm ít giờ và không muốn làm việc, mà do tình trạng thiếu việc
làm, đặc biệt là tình trạng thời gian nhàn rỗi ở khu vực nông thôn.
Ngoài sự phân tích ở trên, sự phân hóa giàu nghèo còn được nhận biết qua hệ số
GINI. Nếu GINI = 0 thì không có sự bất bình đẳng, và khi GINI = 1 thì sự bất bình
đẳng là tuyệt đối. Hệ số GINI của Việt Nam tính từ số liệu thu nhập như sau: năm
1994 là 0,35; năm 1999 là 0,39 và năm 2002 là 0,42. Chỉ tiêu này có khác biệt
nhưng không nhiều giữa các khu vực và các vùng; Điều đó cho thấy sự bất bình
đẳng về thu nhập ở mức thấp nhưng đang có xu hướng tăng.
Chương 3: Giải pháp và kiến nghị
1. Giải pháp
1.1. Giải pháp kinh tế quản lí
- Đẩy mạnh phát triển kinh tế, chuyển dịch cơ cấu kinh tê.
- Đẩy mạnh phát triển giáo dục đào tạo nâng cao dân trí
- Đẩy mạnh mục tiêu xóa đói giảm nghèo, phát triển văn hóa thông tin
1.2. Giải pháp cơ sở hạ tầng
- Vận động nhân dân mang sản phẩm của mình trao đổi tại chợ.
- Song song với đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, công tác tu bổ, bảo dưỡng
cũng cần được coi trọng.
1.3. Giải pháp giáo dục và đào tạo nghề
- Tăng mức độ sẵn có của giáo dục thông qua chương trình xây dựng trường
học.
- Giảm chi phí đến trường cho mỗi cá nhân các gia đình nghèo.
- Nâng cấp chất lượng giáo dục.
- Khuyến khích các tổ chức cá nhân tình nguyện tham gia giúp đỡ người
nghèo nâng cao trình độ.
1.4. Giải pháp vốn
- Ưu tiên hộ chính sách nằm trong diện hộ nghèo đói vay trước.
- Lãi suất cho vay đây chính là yếu tố mang nội dung kinh tế và tâm lý đối với
người đi vay, đặc biệt là người nghèo. Lãi suất cho vay ưu đãi hiện nay là 0.87%
đối với NHNN&PTNT và 0.65% đối với NHTB&XH.
1.5. Giải pháp công tác khuyến nông
- Cần nâng cao các dịch vụ khuyến nông nhằm tạo điều kiện cho nông dân
tiếp cận với thông tin và kỹ thuật sản xuất, tiếp cận thị trường.
- Mở thêm các lớp tập huấn cho người dân, cần phát triển HTXDV đối với
từng thôn xóm.
1.6. Giải pháp ở hộ gia đình
- Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp.
- Khai thác sử dụng hết các tiềm năng, đặc biệt là đất đai.
- Nguồn lao động cần tham gia các lớp tập huấn khuyến nông, tự hoàn thiện,
nâng cao trình độ của mình thông qua các lớp học xóa mù chữ.
2. Kiến nghị
2.1. Đối với nhà nước
- Cần khẳng định một cách mạnh mẽ rằng, xóa đói giảm nghèo không dừng
lại ở việc thực hiện chính sách xã hội, không phải việc riêng của ngành lao động -
xã hội hay một số ngành khác, mà là nhiệm vụ chính trị, kinh tế, văn hóa, là nhiệm
vụ chung của toàn Đảng, toàn dân. Muốn thực hiện thành công việc xóa đói giảm
nghèo, tất cả mọi cán bộ đảng, chính quyền đều phải quan tâm cùng giải quyết,
thực hiện các giải pháp một cách đồng bộ và phải có sự tham gia của toàn thể
cộng đồng
- Cần củng cố hoàn thiện hệ thống tổ chức bộ máy làm công tác xóa đói giảm
nghèo từ trung ương đến cơ sở.
- Hoàng thiện các chính sách xã hội nông thôn, khuyến khích các tổ chức, cá
nhân trong nước và quốc tế phối hợp hành động xóa đói giảm nghèo.
2.2. Đối với cơ quan địa phương
- Bồi dưỡng nghiệp vụ cho đội ngũ làm công tác xóa đói giảm nghèo
- Quản lý chặt chẽ các nguồn vốn xóa đói giảm nghèo.
- Củng cố Ban xoá đói giảm nghèo của xã, cử cán bộ chủ chốt trực tiếp làm trưởng
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét