Thứ Sáu, 14 tháng 2, 2014
Hóa học biển
4
6.1.4 Qui luật phân bố chất hữu cơ trong biển 136
6.2 TỔNG HỢP VÀ PHÂN HUỶ CHẤT HỮU CƠ TRONG BIỂN 137
6.2.1 Quá trình tổng hợp chất hữu cơ trong biển 138
6.2.2 Quá trình phân giải chất hữu cơ trong biển 141
6.3. CHU TRÌNH VẬT CHẤT-CHẤT HỮU CƠ TRONG BIỂN 142
TÀI LIỆU THAM KHẢO CHÍNH 145
5
LỜI GIỚI THIỆU
Giáo trình HOÁ HỌC BIỂN được biên soạn để phục vụ công tác
đào tạo sinh viên ngành Hải dương học, Trường Đại học Khoa học Tự
nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội.
Nội dung giáo trình bao gồm các kiến thức cơ bản về thành phần
hoá học nước biển, các quá trình thành tạo và biến đổi cũng như mối
tương tác và trao đổi của các hợp phần hoá học trong biển dưới ảnh
hưở
ng của các quá trình vật lý, hoá học, sinh học hải dương
Trong khi biên soạn giáo trình, ngoài các kiến thức cơ sở của hoá
học hải dương và các dẫn chứng minh hoạ được tập hợp từ nhiều nguồn
tài liệu khác nhau, tác giả đã cố gắng tập hợp và cập nhật các tư liệu, số
liệu mà Hoá học biển Việt Nam đạt được trong những năm gần đây nhằm
làm sáng tỏ
các vấn đề lý thuyết được đề cập trong giáo trình. Điều đó
hy vọng có thể giúp sinh viên làm quen và hiểu rõ hơn về các vấn đề có
liên quan đến hoá học vùng biển nhiệt đới và biển Việt Nam.
Là tài liệu phục vụ đào tạo khoa học biển tại Trường Đại học Khoa
học Tự nhiên, ĐHQG HN, song giáo trình này cũng là tài liệu tham khảo
tốt đối với công tác đào tạo trong các lĩnh vực Hoá họ
c, Sinh học, Môi
trường có liên quan đến biển, không chỉ ở ĐHQG HN mà còn ở nhiều
trường đại học, trung học chuyên nghiệp khác có đào tạo chuyên môn
này. Cũng như vậy, các cán bộ đang làm công tác nghiên cứu biển có thể
sử dụng giáo trình như một tài liệu tham khảo khi gặp những vấn đề có
liên quan.
Mặc dù đã cố gắng, song không thể tránh khỏi những khiếm khuyết
trong nội dung giáo trình. Tác giả mong nhận đượ
c những góp ý của các
đồng nghiệp và sinh viên để kịp thời bổ sung sửa chữa. Các ý kiến xin
gửi về địa chỉ: Bộ môn Hải dương học, Khoa Khí tượng Thuỷ văn và Hải
dương học, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc Gia Hà
Nội.
Tác giả
6
Chương 1
THÀNH PHẦN HOÁ HỌC NƯỚC BIỂN
1.1 ĐẶC ĐIỂM CHUNG THÀNH PHẦN HOÁ HỌC NƯỚC BIỂN
1.1.1 Các nguyên tố hoá học tồn tại trong nước biển
Nhìn một cốc nước biển trong veo lấy ở ngoài khơi, tưởng chừng
như không có gì trong đó, nhưng thực ra bằng mắt thường ta đã không
thấy được vô vàn các hạt vật chất nhỏ li ti và những vi cơ thể. Nhìn một
cốc nước biển lấy ở vùng cửa sông, ta thấy nó đụ
c lờ lờ hoặc vàng nhạt
và có thể phát hiện bằng mắt thường các phần tử phù sa lơ lửng hoặc các
phần tử vật chất khác. Nếm nước biển ở bất cứ vùng nào, ta thấy có vị
mặn chát do trong nó có các muối hoà tan như NaCl, CaCO
3
, MgSO
4
Ta cũng biết nước biển mang tính kiềm yếu và là một dung dịch đệm pH
do có các axit yếu và muối của chúng, cũng đã biết đến nhiều tính chất
hoá lý của nước biển như khả năng truyền âm, truyền ánh sáng, độ đục,
độ dẫn điện, độ ôxy hoá, độ phóng xạ, tính ăn mòn
Hiển nhiên nước biển không phải là nước tinh khiết, cũng không
phải là "nước nhạt" như nướ
c các sông, ngòi, hồ, ao, cũng không có mầu
hoặc mùi như nước ở các đầm lầy, hầm mỏ, cống thải Vậy trong nước
biển có những nguyên tố và hợp chất gì, thành phần hoá học của nước
biển như thế nào? Trả lời câu hỏi này thật không dễ dàng!
Để có một khái niệm đơn giản nhất về thành phần hoá học nước
biển, chúng ta hãy xem một mẫu nước biển "đi
ển hình" sau đây (theo
R.A. Horne): nặng 1000 gam, chứa khoảng 19 gam Clo ở dạng ion, 11
gam ion Natri, 1,3 gam ion Magiê, 0,9 gam Lưu huỳnh (chủ yếu ở dạng
ion Sunfat). Nói một cách khác, nước biển là dung dịch 0,5M NaCl,
0,05M MgSO
4
, một lượng đáng kể khí hoà tan, một lượng nhỏ các chất
và hỗn hợp khác và dấu vết của nhiều nguyên tố đã biết trong tự nhiên.
Ngoài ra, trong nước biển còn có cả các phần tử lơ lửng, đó là các hạt
7
keo, khoáng, bọt khí, mảnh vụn chất hữu cơ của xác sinh vật, các vi
khuẩn và động thực vật phù du
Cho đến nay, bằng các phương pháp phân tích và thiết bị đo tiên
tiến người ta đã tìm thấy trong nước biển có khoảng 60 nguyên tố hoá
học tồn tại ở nhiều dạng khác nhau (bảng 1.1). Nhiều nguyên tố tồn tại
trong nước biển với nồng độ lớn (gọi là các nguyên tố đại lượng), song
có r
ất nhiều nguyên tố tồn tại với nồng độ nhỏ và rất nhỏ (nguyên tố vi
lượng), thậm chí nhỏ tới mức các thiết bị hiện đại nhất cũng khó xác
định được nồng độ mà chỉ phát hiện được sự có mặt của chúng (nguyên
tố vết - trace). Cũng có những nguyên tố người ta chỉ chứng minh được
sự tồn tại của chúng trong nước biển, hoặc ch
ỉ phát hiện ra chúng do
được tích luỹ trong sinh vật hay trầm tích biển.
Bảng 1.1: Các nguyên tố hoá học có trong nước biển (theo Gondberg)
STT Nguyên tố Nồng độ (mg/l) Dạng tồn tại chủ yếu
1 H 108 H
2
O
2 He 5.10
-6
Khí
3 Li 0,17 Li
+
4
Be 6.10
-7
-
5 B 4,6 B(OH)
3
, B(OH)
4
-
6 C 28 HCO
3
-
, H
2
CO
3
, CO
3
-2
, hợp chất hữu cơ
7 N 0,5 NO
3
-
, NO
2
-
, NH
4
+
, khí, hợp chất hữu cơ
8 O 857 H
2
O, khí, SO
4
-2
và các anion khác
9 F 1,3 F
-
10 Ne 1.10
-4
Khí
11 Na 10500 Na
+
12 Mg 1350 Mg
+2
, MgSO
4
13 Al 0,01 -
14 Si 3 Si(OH)
4
, Si(OH)
3
O
-
15 P 0,07 H
2
PO
4
-
, HPO
4
-2
, PO
4
-3
, H
3
PO
4
16 S 885 SO
4
-2
17 Cl 19000 Cl
-
18 Ar 0,6 Khí
19 K 380 K
+
20 Ca 400 Ca
+2
, CaSO
4
21 Sc 4.10
-5
-
22 Ti 0,001 -
23 V 0,002 VO
2
(OH)
3
-2
24 Cr 5.10
-5
-
25 Mn 0,002 Mn
+2
, MnSO
4
26 Fe 0,01 Fe(OH)
3
27 Co 5.10
-4
Co
+2
, CoSO
4
8
STT Nguyên tố Nồng độ (mg/l) Dạng tồn tại chủ yếu
28 Ni 0,002 Ni
+2
, NiSO
4
29 Cu 0,003 Cu
+2
, CuSO
4
30 Zn 0,01 Zn
+2
, ZnSO
4
31 Ga 3.10
-5
-
32 Ge 7.10
-5
Ge(OH)
4
, Ge(OH)
3
O
-
33 As 0,003 HAsO
4
-2
, H
2
AsO
4
-
, H
3
AsO
4
, H
3
AsO
3
34 Se 0,004 SeO
4
-2
35 Br 65 Br
-
36 Kr 3.10
-4
Khí
37 Rb 0,12 Rb
+
38 Sr 8 Sr
+2
, SrSO
4
39 Y 3.10
-4
-
40 Nb 1.10
-5
-
41 Mo 0,01 MoO
4
-2
42 I 0,06 IO
3
-
, I
-
43 Ba 0,03 Ba
+2
, BaSO
4
44 W 1.10
-4
WO
4
-2
45 U 0,003 UO
2
(CO
3
)
3
-4
46 Ag 4.10
-5
AgCl
2
-
, AgCl
3
-2
47 Cd 11.10
-5
Cd
+2
, CdSO
4
, CdCl
n
-2n
, Cd(OH)
n
-2n
48 Xe 0,0001 Khí
49 Au 4.10
-6
AuCl
2
-
50 Hg 3.10
-5
HgCl
3
-
, HgCl
4
-2
51 Pb 3.10
-5
Pb
+2
, PbSO
4
, PbCl
n
-2n
, Pb(OH)
n
-2n
52 Rn 0,6.10
-15
Khí
53 Ra 1.10
-10
Ra
+2
, RaSO
4
54 Th 5.10
-5
-
55 Pa 2.10
-9
-
Và dấu vết của nhiều nguyên tố khác
Mặc dù một số nguyên tố được gọi là đại lượng, song nguyên tố có
mặt nhiều nhất trong nước biển là Clo cũng chỉ đạt nồng độ trung bình
19 g/l, tiếp đến là Natri - 10,5 g/l và tổng các chất khoáng rắn hoà tan
trong nước biển cũng chỉ đạt khoảng 35 g/l. Tuy vậy, với thể tích nước
1,37 tỷ km
3
, đại dương thế giới đang chứa trong lòng mình khối lượng
vật chất khổng lồ, chỉ tính riêng lượng muối khoáng cũng vào khoảng 49
triệu tỷ tấn, chủ yếu là các muối Clorua, Sunfat, Cacbonat của Natri,
Magie, Canxi. Nếu rải đều lượng muối này trên bề mặt lục địa sẽ được
một lớp dày khoảng 150m! Một tính toán giả định khác cho thấy nếu chia
đều số Vàng (một nguyên tố vi lượ
ng có nồng độ trung bình 4.10
-9
g/l)
chiết được từ toàn bộ nước đại dương thế giới cho số dân Việt Nam thì
mỗi người sẽ được gần 80kg.
9
1.1.2 Những nét đặc thù thành phần hoá học nước biển
Biển và đại dương có những đặc điểm riêng của mình mà các đối
tượng nước khác không có, đó là lịch sử hình thành và tiến triển gắn liền
với lịch sử hành tinh, kích thước theo chiều ngang và thẳng đứng rất lớn,
trao đổi nước rất rộng rãi với khí quyển, với đất liền và giữa các vùng
với nhau, các quá trình vật lý, động lực, sinh-hoá họ
c xảy ra với mọi quy
mô. Những đặc tính ấy đã làm cho thành phần hoá học nước biển rất đa
dạng, phức tạp và có những đặc thù. Đó là
Sự phong phú của thành phần hoá học nước biển
Nước biển có thành phần hoá học rất phong phú. Có được đặc điểm
này là do biển vốn là vùng trũng nhất của hành tinh, nơi tập trung nước
có thành phần hoá học rất đa dạng từ mọi miền trên bề mặt trái đất. Biển
cũng là nơi tập trung nước ngầm ở mọi độ sâu có thành phần hoá học rất
khác nhau. Biển còn là nơi có mặt thoáng rộng lớn, mặt thoáng đó lại
luôn luôn "thở" (do sóng, gió và xáo trộn) nên trao đổi khí với khí quyển
rất tốt. Chính vì vậy, cùng với quá trình phát triển của lịch sử trái đất,
có thể tin chắc rằng đại dương đã tích luỹ được hầu hết các nguyên tố
hoá học đã biết trong tự nhiên. Tuy nhiên, với kỹ thuật hiện nay con
người mới chỉ xác định được sự có mặt trong nước biển của khoảng 60
nguyên tố hoá học nằm ở
nhiều dạng khác nhau như đã chỉ ra ở bảng 1.1.
Dạng tồn tại của các nguyên tố trong nước biển
Trong nước biển, một nguyên tố có thể tồn tại ở nhiều dạng khác
nhau như phân tử tự do, ion, hợp chất và có thể ở các trạng thái hoà
tan hay lơ lửng, có thể có trong thành phần của chất hữu cơ, keo,
khoáng, chất sống Ví dụ, Nitơ tồn tại trong nước biển ở dạng phân tử
tự do N
2
(khí Nitơ hoà tan), NH
3
, các ion NH
4
+
, NO
2
-
, NO
3
-
, các chất hữu
cơ và keo khoáng; Phốt pho tồn tại ở các dạng P
2
O
5
, H
3
PO
4
, H
2
PO
4
-
và
các chất hữu cơ, keo khoáng; Ôxy tồn tại ở các dạng phân tử (O
2
), các
hợp chất khí (CO
2
), các hợp chất vô cơ và hữu cơ
Với các dạng tồn tại khác nhau, các nguyên tố có trong nước biển
có thể gây nên những tính chất hoá, lý, sinh học khác nhau. Ví dụ, khi ở
dạng khí hoà tan, Nitơ hầu như không tham gia vào các phản ứng sinh
hoá học nào và nó được coi như một khí trơ trong biển, song khi tồn tại
10
ở dạng ion NH
4
+
, NO
2
-
, NO
3
-
nó lại là một trong những nguyên tố thiết
yếu cho sự sống, có mặt trong phản ứng quang hợp và tham gia vào chu
trình chuyển hoá vật chất trong biển.
Tỷ lệ định lượng giữa các hợp phần
Trong biển, do có nhiều quá trình chi phối nên nồng độ của các
nguyên tố và các hợp phần hoá học rất dễ bị biến đổi theo không gian và
thời gian. Tuy nhiên, có một số hợp phần mặc dù nồng độ bị biến đổi
song tỷ lệ giữa chúng lại khá ổn định. Cụ thể, tỷ lệ nồng độ của các ion
chính với nhau như [Na
+
]/[Cl
-
], [Ca
+2
]/[SO
4
-2
] hay [Mg
+2
]/[K
+
] là bất
biến ở mọi khu vực biển khơi trên thế giới. Ngược lại, ở các vùng biển
ven bờ, cửa sông, vũng vịnh tỷ lệ nồng độ giữa các ion chính lại là đại
lượng rất biến đổi. Đối với tất cả các nguyên tố còn lại không thuộc
nhóm ion chính, tỷ lệ nồng độ giữa chúng là đại lượng luôn biến động và
rất khác nhau ở các vùng biển khác nhau.
Quy luật biến đổi của các hợp phần
Thành phần hoá học nước biển còn phức tạp ở chỗ nó không bao
giờ nằm ở trạng thái bất động mà luôn luôn biến đổi, đến mức có thể làm
thay đổi hoàn toàn các chỉ tiêu định lượng, định tính cũng như dạng tồn
tại của các nguyên tố và hợp phần. Hợp phần được xem là ổn định nhất
của nước biển là độ muối cũng có những biến đổi khác nhau
ở các khu
vực địa lý khác nhau. Có 3 quá trình cơ bản làm biến đổi nồng độ các
hợp phần là:
Thứ nhất: Những chất và những hợp phần tham gia vào các quá
trình sinh học chịu sự biến đổi mạnh mẽ nhất, chủ yếu là biến đổi về
lượng và tất nhiên ở mỗi vùng khác nhau, trong các thời kỳ khác nhau
chúng biến đổi không như nhau. Có thể lấy các hợp chất vô cơ của Nitơ
,
Phốtpho, Silic làm ví dụ: do được thực vật sử dụng trong quang hợp nên
nồng độ các hợp phần này chịu sự biến đổi mạnh mẽ, có thể diễn ra từng
giờ một. Đặc biệt, ở những vùng biển có các điều kiện thuận lợi cho
quang hợp, vào thời kỳ thực vật phát triển mạnh nồng độ các chất dinh
dưỡng Nitơ, Phốtpho có thể giả
m đến 0. Sau thời kỳ phát triển là thời kỳ
tàn lụi do nguồn dinh dưỡng bị cạn kiệt, thực vật chết đi và xác của
chúng dần bị phân huỷ trả lại các nguyên tố vô cơ cho môi trường. Do
liên quan đến hoạt động của sinh vật mà sự biến động của các hợp phần
11
này thường có chu kỳ sinh học, trong đó chu kỳ ngày và chu kỳ mùa thể
hiện rõ nhất.
Thứ hai: Tương tác hoá học giữa các hợp phần trong nước biển
diễn ra chậm hơn nhưng lại làm biến đổi không những về lượng của các
hợp phần mà còn biến đổi cả dạng tồn tại của chúng. Ví dụ, quá trình
đạm hoá (Nitrification) trong biển đã chuyển phần lớn các ion Nitrit về
Nitrat (2NO
2
-
+ O
2
→ 2NO
3
-
); hoặc quá trình ôxy hoá khí Sunfuhydro đã
chuyển Lưu huỳnh sang dạng tồn tại khác (H
2
S + 2O
2
→ H
2
SO
4
→ SO
4
-2
+ 2H
+
).
Thứ ba: Những quá trình vật lý xảy ra trong biển như bào mòn đất
đá ở đáy và bờ, tan và tạo băng, mưa, bốc hơi, các dòng chảy, chuyển
động đối lưu, dao động thuỷ triều đều có thể trực tiếp hoặc gián tiếp
làm biến đổi những chỉ tiêu định lượng của các hợp phần. Ví dụ, nước
trồi mùa hè ở vùng biển ven bờ nam Trung bộ nước ta đã vậ
n chuyển các
khối nước từ lớp sâu có nhiệt độ thấp, độ muối cao, giầu có dinh dưỡng
lên lớp mặt nhiều ánh sáng, tạo nên một vùng sinh thái biển trù phú.
Ngoài 3 quá trình cơ bản kể trên, có thể có thêm một vài quá trình
trong biển làm biến đổi nồng độ các hợp phần như hiện tượng hấp phụ
hoặc trao đổi ion của các phần tử lơ lửng, hiện tượng kết tủa muối trong
nh
ững điều kiện nhất định (chủ yếu là muối Cacbonat)
Những năm gần đây, thành phần hoá học nước biển còn phức tạp
thêm do tác động của con người. Đặc biệt, các hoạt động công nghiệp
như khai thác và chế biến dầu, lượng dầu thải ra từ các hoạt động giao
thông, hàng hải đã trực tiếp đưa vào biển những cacbua hydro bền
vững rất có hại
đối với đời sống và cảnh quan vùng biển. Cũng như vậy,
các hoạt động công nghiệp như chế biến thuỷ hải sản, sản xuất thuốc trừ
sâu và việc sử dụng thuốc trừ sâu trong nông nghiệp cũng đã đưa vào
biển những chất gây ô nhiễm mà vỗn dĩ nước biển không có hoặc có ở
mức tự nhiên. Nhiều chất độc hại khác (như Cu, Pb, Zn, Cd, Hg ho
ặc
các chất phóng xạ từ các vụ thử vũ khí hạt nhân) cũng được con người
đưa vào biển một cách vô ý thức (hoặc có ý thức) đã gây những hậu quả
nghiêm trọng và lâu dài cho đời sống sinh vật biển và cho chính con
người khi sử dụng những sản phẩm này.
12
1.1.3 Phân loại nước biển theo thành phần hoá học
Trên cơ sở các đặc điểm về dạng tồn tại, định lượng, ý nghĩa sinh-
hoá học của các hợp phần có trong nước biển, thành phần hoá học nước
biển được chia thành 5 nhóm sau đây:
Nhóm 1: Các ion và phân tử chính, bao gồm 11 ion và phân tử là:
Cl
-
, SO
4
-2
, (HCO
3
-
+ CO
3
-2
), Br
-
, H
3
BO
3
, F
-
, Na
+
, K
+
, Mg
+2
, Ca
+2
, Sr
+2
.
Nhóm 2: Các khí hoà tan: O
2
, CO
2
, N
2
, H
2
S, CH
4
Nhóm 3: Các hợp chất dinh dưỡng, bao gồm chủ yếu là hợp chất vô
cơ của Nitơ, Phôtpho, Silic.
Nhóm 4: Các nguyên tố vi lượng gồm tất cả các nguyên tố và hợp
chất khác không có trong ba nhóm kể trên.
Nhóm 5: Các chất hữu cơ.
Cả năm nhóm hợp phần này khi tồn tại trong nước biển đã xác định
nhiều tính chất hoá lý quan trọng của nước, ví dụ tính dẫn điện, khả năng
lan truyền ánh sáng, truyề
n âm, tính ăn mòn, tính kiềm Để biểu thị
định lượng cũng như định tính các tính chất hoá lý của nước biển, người
ta đã có những quy ước về "mức độ" những tính chất này, như độ muối,
độ cứng, độ kiềm, pH, độ ăn mòn, độ ôxy hoá, độ phóng xạ, độ đục
Đại đa số các tính chất hoá-lý của nước biển được tạo nên từ nhiều hợp
ph
ần hoà tan như độ muối, độ cứng, độ ăn mòn v.v , song cũng có
những tính chất chỉ liên quan đến một hoặc một vài hợp phần như độ
phóng xạ, độ ôxy hoá, độ đục
Cả năm nhóm hợp phần kể trên khi tồn tại trong nước biển với
những lượng khác nhau đã gây nên những ảnh hưởng không như nhau
đến nhiều quá trình vật lý, động lực, sinh hoá xảy ra trong môi trường
bi
ển. Ví dụ, nhiều quá trình động lực biển như xáo trộn thẳng đứng, cấu
trúc khối nước, đặc điểm dòng chảy có liên quan trực tiếp tới mật độ
nước biển, một đặc trưng vật lý cơ bản phụ thuộc vào nhiệt độ và độ
muối, nghĩa là liên quan đến nồng độ của nhóm các ion chính; hoặc
cường độ quá trình sản xuất sơ cấp củ
a thực vật sống trong các tầng
nước phụ thuộc chặt chẽ vào nồng độ các nguyên tố dinh dưỡng vô cơ
Phốtpho, Nitơ, Silic
13
Cách phân loại nước biển như trên có ưu điểm là đã chú ý đến hầu
hết các đặc điểm quan trọng tồn tại các hợp phần hoá học trong nước
biển như nồng độ, dạng tồn tại, ý nghĩa vật lý, sinh học, hoá học. Tuy
nhiên cách phân loại này còn mang tính quy uớc, thể hiện ở chỗ:
Thứ nhất: không phân biệt được "ranh giới" giữa các nhóm hợp
phần và cũng không phân biệ
t được ý nghĩa sinh hoá học của một số
nguyên tố, hợp chất ở một số nhóm. Ví dụ, các nguyên tố ở nhóm dinh
dưỡng cũng có nồng độ rất nhỏ, thậm chí còn nhỏ hơn một số nguyên rố
vi lượng; hoặc một số nguyên tố thuộc nhóm ion chính (như Canxi),
nhóm khí hoà tan (như CO
2
, O
2
) cũng rất cần cho sự sống.
Thứ hai: đã không xếp ion Hydro (H
+
) vào một nhóm nào. Mặc dù
nồng độ ion Hydro trong nước biển rất nhỏ (khoảng 10
-7,6
÷10
-8,4
ion-
gam/l), song nó rất có ý nghĩa đối với nhiều quá trình hoá học, sinh học
xảy ra trong trong môi trường nước biển. Thực chất với nồng độ ion
Hydro như trên, môi trường nước biển mang đặc trưng kiềm yếu và nhiều
quá trình sinh hoá học xảy ra trong môi trường này rất "nhạy cảm" đối
với sự biến đổi của nồng độ ion Hydro.
Thứ ba: Cách phân loại trên chỉ chú ý tới các hợp phần hoà tan mà
không kể tớ
i hợp phần vật chất lơ lửng. Trong nước biển, các phần tử lơ
lửng (đường kính lớn hơn 10
-5
cm) có thể là các hạt keo, khoáng vô cơ,
hữu cơ, các mảnh vụn của xác sinh vật, các hạt phù sa, các bọt khí, bụi
vũ trụ Khi tồn tại trong nước biển, hợp phần này có ảnh hưởng trực
tiếp tới một số đặc trưng hoá, lý, sinh học của nước biển như khả năng
lan truyền ánh sáng, truyền âm, độ đục, độ ôxy hoá, mầu nước
1.1.4 Biểu diễn nồng độ các hợ
p phần hoá học trong nước biển
Khi phân tích mẫu nước biển để xác định các hợp phần hoá học hoà
tan trong nó, kết quả phân tích phải được biểu diễn bằng nồng độ. Hai
cách biểu diễn nồng độ chất tan trong nước biển thường được sử dụng là
nồng độ tuyệt đối và nồng độ tương đối.
Nồng độ tuyệt đối: Đó là lượng thực có củ
a chất tan trong một đơn
vị thể tích (thường là 1 lít hoặc 1m
3
) hoặc một đơn vị trọng lượng
(thường là 1kg) nước biển. Lượng thực có của chất tan có thể tính bằng
Đăng ký:
Đăng Nhận xét (Atom)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét