Thứ Hai, 10 tháng 2, 2014

XK hàng thủ công mỹ nghệ tại ARTEXPORT

Luận văn tốt nghiệp
Về khí hậu :
Việt Nam nằm trong vành đai nhiệt đới, hàng năm khí hậu nắng lắm ma
nhiều. Lợng ma phân bố đều giữa các tháng trong năm nhất là những tháng cà
phê sinh trởng. Khí hậu Việt Nam chia thành hai miền rõ rệt. Miền khí hậu phía
nam thuộc khí hậu nhiệt đới nóng ẩm thích hợp với cà phê Robusta. Miền khí
hậu phía bắc có mùa đông lạnh và có ma phùn thích hợp với cà phê Arabica.
Về đất đai : Việt Nam có đất đỏ bazan thích hợp với cây cà phê đợc phân
bổ khắp lãnh thổ trong đó tập trung ở hai vùng Tây Nguyên và Đông Nam Bộ,
với diện tích hàng triệu ha.
Nh vậy cây cà phê cần hai yếu tố cơ bản là nớc và đất thì cả hai yếu tố
này đều có ở Việt Nam. Điều này tạo cho Việt Nam lợi thế mà các nớc khác
không có đợc.
- Lợi thế về nhân công:
Việt Nam với dân số 80 triệu ngời trong đó 49% là trong độ tuổi lao
động. Đây là đội ngũ lao động khá dồi dào, cung cấp cho các mọi hoạt động
trong nền kinh tế quốc dân. Sản xuất cà phê xuất khẩu là một quá trình bao gồm
nhiều công đoạn, bắt đầu từ khâu nghiên cứu chon giống, gieo trồng khâu chăm
sóc, thu mua, chế biến, bảo quản, bao gói , xuất khẩu. Quá trình này đòi hỏi
một đội ngũ lao động khá lớn. Đặc biệt ở Việt Nam thì việc ứng dụng máy móc
vào việc, sản xuất chế biến cà phê cha nhiều vì thế lợi thế về nhân công có thể
giúp nớc ta giảm rất nhiều chi phí cho sản xuất cà phê xuất khẩu từ đó có thể hạ
giá thành giúp cho Việt Nam có thể cạnh tranh đợc về giá so với các nớc trên
thế giới.
Theo dự tính thì việc sản xuất cà phê xuất khẩu thu hút khá nhiều lao
động: 1 ha cà phê thu hút từ 120.000- 200.000 lao động. Riêng ở nớc ta hiện
nay có khoảng 700.000 800.000 lao động sản xuất cà phê, đặc biệt vào thời
điểm chăm sóc, thu hoạch con số này lên đến hơn 1 triệu ngời. Nh vậy với
nguồn lao động dồi dào nh nớc ta hiện nay có thể cung cấp một lợng lao động
khá đông đảo cho ngành cà phê.
5
Luận văn tốt nghiệp
- Năng suất cà phê: Cà phê Việt Nam có năng suất khá cao: Nếu nh năng
suất cà phê bình quân trên thế giới là 0.55 tạ/ ha, Châu á là 0.77 tạ/ ha thì ở
Việt Nam đạt tới 1.2- 1.3 tấn/ ha. Từ năm 2000- 2004, năng suất bình quân đạt
2 tấn/ ha, có năm đạt 2,4 tấn/ ha. Năng suất cao này chính là do Việt Nam có
nhiều giống tốt, có các yếu tố thuận lợi về đất đai khí hậu, đặc biệt ngời Việt
Nam có kinh nghiệm lâu năm trong việc gieo trồng cà phê.
- Ngời dân Việt Nam có đức tính chịu khó cần cù, có tinh thần học hỏi
tiếp thu khoa học công nghệ để áp dụng vào trồng và chế biến cà phê xuất khẩu.
Điều này cũng là lợi thế trong việc tạo ra một nguồn hàng cho cà phê xuất khẩu.
- Cà phê Việt Nam có hơng vị tự nhiên ngon. Cà phê Việt Nam đợc trồng
trên vùng cao nguyên, núi cao có khí hậu, đất đai phù hợp. Điều kiện này tao
cho cà phê Việt Nam có hơng vị riêng, đặc biệt mà các quốc gia khác không có
đợc. Điều này là một lợi thế lớn của Việt Nam vì cà phê là thứ đồ uống dùng để
thởng thức, đôi khi còn thể hiện đẳng cấp của con ngời trong xã hội vì vậy hơng
vị cà phê luôn là một yếu tố lôi cuốn khách hàng, đặc biệt là khách hàng khó
tính.
- Một trong những lợi thế thuộc về chủ quan là do đờng lối đổi mới kinh
tế của Đảng và Nhà Nớc Việt Nam đã tạo môi trờng thuận lợi để phát triển sản
xuất cây cà phê. Nghị uyết 09/2000/ NQ/ CP của chính phủ xác định quy hoạch
và định hớng phát triển cây cà phê nớc ta đến năm 2010. Vì thế từ năm 2003,
sản xuất cà phê nhất thiết theo quy hoạch, kế hoạch của nhà nớc cả về diện tích,
giống, sản lợng, chất lợng khắc phục đợc tình trạng tự phát duy ý trí chạy theo
phong trào. Vì thế đã khuyến khích các hộ nông dân yên tâm trồng cây cà phê.
Ngoài ra, Nhà nớc còn có chính sách hỗ trợ về giá khi giá cà phê của thị trờng
thế giới xuống thấp.
1.3.2. Lợi thế so sánh trong xuất khẩu cà phê
- Chiến lợc của nhà nớc: trong những năm 2003- 2010 nhà nớc đã xây
dựng hoàn thiện các chiến lợc mặt hàng nông sản xuất khẩu chủ lực của Việt
Nam trong đó cà phê đợc xem xét là mặt hàng chủ lực số 1. Vị trí đó đợc xuất
phát từ lợi thế đất đai, khí hậu, kinh nghiệm sản xuất của nông dân. Lợi thế này
6
Luận văn tốt nghiệp
kết hợp với chế độ chính trị, xã hội ổn định, cơ chế chính sách thời kỳ đổi mới
đã đợc khẳng định trong đờng lối kinh tế do Đại Hội IX của Đảng đề ra đã và
đang trở thành sức mạnh để Việt Nam hội nhập vào nền kinh tế thế giới và khu
vực.
- Nhu cầu thế giới ngày càng tiêu dùng cà phê nhiều hơn và tăng lên
nhanh chóng. Cà phê là thứ đồ uống phổ biến trong mọi tầng lớp, hiện nay nhu
cầu tiêu dùng cà phê vợt xa hai loại đồ uống truyền thống là chè và ca cao. Điều
này đã thúc đẩy và khuyến khích các nớc sản xuất cà phê xuất khẩu.
- Về chi phí sản xuất cà phê xuất khẩu: chi phí sản xuất cà phê xuất khẩu
của Việt Nam thấp hơn so với các nớc trồng cà phê xuất khẩu khác. Chi phí
bình quân của Việt Nam là 650- 700 USD/ tấn cà phê nhân. Nếu tính cả chi phí
chế biến thì giá thành cho một tấn cà phê xuất khẩu là 750- 800 USD. Trong khi
đó chi phí sản xuất của ấn Độ là 1,412 triệu USD/ tấn cà phê chè, 926,9 USD/
tấn đối với cà phê vối. Chi phí sản xuất rẻ là điều kiện thuận lợi để hạ giá thành,
tăng sức cạnh tranh cho mặt hàng cà phê của Việt Nam trên thị trờng thế giới.
- Việt Nam đã ra nhập ICO, sẽ tham gia tổ chức hiệp hội các nớc sản xuất
cà phê (ACPC) và các tổ chức quốc tế khác có liên quan. Việt Nam đã tăng c-
ờng hợp tác kinh tế, thơng mại, khoa học công nghệ và phát triển nguồn nhân
lực. Điều này có thể giúp cho Việt Nam có điều kiện để học hỏi, trao đổi kinh
nghiệm trong sản xuất, chế biến cà phê đồng thời mở rộng đợc giao lu trao đổi
mặt hàng cà phê với các nớc trong khu vực và thế giới.
- Về thị trờng xuất khẩu cà phê: thị trờng xuất khẩu cà phê Việt Nam
ngày càng mở rộng, một số sản phẩm cà phê chất lợng cao nh cà phê Trung
Nguyên, Vinacafe, Nam Nguyên, Thu Hà, đã có th ơng hiệu và đứng vững
trên thị trờng khu vực và thế giới.
- Về quy hoạch: Việt Nam đã xây dựng, quy hoạch nhiều vùng trồng cà
phê để xuất khẩu, cho năng suất cao, chất lợng tốt nh Tây Nguyên,
Đông Nam Bộ và một số tỉnh Miền Trung. Đây là một lợi thế lớn để
tạo ra một nguồn hàng phục vụ cho nhu cầu xuất khẩu cà phê
2. Vị trí của ngành cà phê trong nền kinh tế quốc dân
7
Luận văn tốt nghiệp
Cà phê là một trong những mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam là
mặt hàng nông sản xuất khẩu đứng thứ 2 về kim ngạch sau gạo. Chính vì thế
ngành cà phê đã có một vai trò rất lớn trong nền kinh tế quốc dân.
2.1. Vị trí của cà phê đối với ngành nông nghiệp nớc ta.
- Ngành cà phê góp phần chuyển dịch cơ cấu cây trồng trong ngành nông
nghiệp nớc ta. Nếu nh trớc kia Việt Nam là một đất nớc đợc biết đến với sản
phẩm là lúa gạo thì ngày nay Việt Nam còn đợc biết đến với một mặt hàng nữa
đó chính là cà phê. Điều này không chỉ giúp cho ngời dân đa dạng đợc cơ cấu
cây trồng trong ngành nông nghiệp mà còn đa dạng hoá đợc các mặt hàng trong
việc xuất khẩu nông sản của Việt Nam.
- Đa dạng hoá các dịch vụ kinh doanh trong ngành nông nghiệp: hoạt
động sản xuất cà phê gắn liền với hoạt động chế biến cà phê. Vì thế kéo theo
một loạt các dịch vụ của sản xuất nông nghiệp phát triển nh: dịch vụ nghiên cứu
giống cây trồng, dịch vụ cung cấp thuốc trừ sâu, phân bón, dịch vụ cung cấp
máy móc thiết bị cho phơi sấy chế biến cà phê, dịch vụ bao gói, dịch vụ t vấn
xuất khẩu
- Phân bổ lại nguồn lao động trong nền nông nghiệp. Nền nông nghiệp n-
ớc ta trớc kia chủ yếu là lao động phục vụ cho ngành trồng lúa nớc. Đây là lao
động mang tính chất thời vụ vì thế có một lợng lao động d thừa khá lớn trong
thời kỳ nông nhàn. Ngành cà phê phát triển kéo theo một lợng lao động khá lớn
phục vụ cho nó. Với quy mô diện tích cà phê ngày càng mở rộng thì càng cần
một đội ngũ lao động lớn. Điều này tạo cho ngời dân các vùng miền núi cũng
nh các vùng đồng bằng chuyên canh lúa có việc làm thờng xuyên, tạo thêm thu
nhập cho họ, hạn chế đợc các tệ nạn xã hội.
- Hạn chế đợc các vùng đất bị bỏ hoang: Vì đặc điểm của cây cà phê là
thích hợp với những cao nguyên, đồi núi cao nơi đây cha đợc khai thác triệt
để Vì vậy đã hạn chế đ ợc các vùng đất bỏ hoang, phủ xanh đất trống đồi trọc.
2.2. Vị trí ngành cà phê trong nền kinh tế quốc dân
- Ngành cà phê góp phần làm chuyển dịch cơ cấu kinh tế: ngành cà phê
gắn với cả một quá trình khép kín từ sản xuất đến tiêu dùng. Điều này kéo theo
8
Luận văn tốt nghiệp
theo một loạt các ngành kinh tế phát triển nh ngành xây dựng các cơ sở để
nghiên cứu giống, ngành thuỷ lợi, ngành giao thông, ngành chế tạo máy móc,
Vì thế đẩy mạnh qúa trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở các vùng nơi có cây cà
phê phát triển. Điều này góp phần đẩy nhanh tiến trình công nghiệp hoá hiện
đại hoá trong nông nghiệp nông thôn.
- Ngành cà phê đã góp phần rất lớn vào nguồn thu ngân sách nhà nớc.
Hàng năm ngành cà phê đem về cho đất nớc từ 1- 1,2 tỷ USD/ năm chiếm 10%
kim ngạch xuất khẩu cả nớc.
- Góp phần giải quyết công ăn việc làm cải thiện đời sống nhân dân:
3. Vai trò xuất khẩu cà phê trong nền kinh tế quốc dân.
Hiện nay xu thế toàn cầu hoá và hội nhập đang diễn ra mạnh mẽ nh vũ
bão trên phạm vi toan thế giới, lôi cuốn rất nhiều nớc trên thế giới tham gia.Việt
Nam cũng không thể nằm ngoài vòng xoáy này và đang nỗ lực hết sức để có thể
hoà mình vào tiên trình này một cách nhanh nhất. Hoạt động xuất nhập khẩu sẽ
là cầu nối hết sức quan trọng để đẩy nhanh tiến trình này. Chính vì vậy mà hoạt
động xuất khẩu ngày càng trở nên quan trọng trong chính sách và chiến lợc
phát triển kinh tế của Việt Nam.
Cà phê là một trong những mặt hàng xuất khẩu chủ lực ở nớc ta. Phát
triển sản xuất cà phê xuất khẩu sẽ đóng góp vai trò lớn đối với nền kinh tế nớc
ta. Ta đi xem xét vai trò của việc xuất khẩu cà phê đối với nền kinh tế Việt
Nam.
3.1. Vai trò tích cực của xuất khẩu cà phê.
3.1.1. Xuất khẩu tạo nguồn vốn chủ yếu cho nhập khẩu phục vụ công
nghiệp hoá đất nớc
Công nghiệp hoá đất nớc theo những bớc đi thích hợp là con đờng tất yếu
để khắc phục tình trạng nghèo và chậm phát triển của nớc ta. Để thực hiện công
nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nớc đòi hỏi phải có nguồn vốn rất lớn để nhập
khẩu máy móc trang thiết bị, kĩ thuật, công nghệ tiên tiến và trình độ quản lí
của nớc ngoài. Nguồn vốn để nhập khẩu có thể lâý từ: đầu t nớc ngoài, vay nợ
thu từ hoạt động du lịch, xuất khẩu mặt hàng khác. Tuy nhiên các nguồn vốn
9
Luận văn tốt nghiệp
vay, vốn đầu t từ nớc ngoài đều phải trả bằng cách này hay cách khác. Nguồn
vốn quan trọng và bền vững đó là thu từ hoạt động xuất khẩu. Xuất khẩu quyết
định quy mô và tốc độ tăng của nhập khẩu.
Tuy nhiên xuất khẩu không là hoat động dễ dàng. Để xuất khẩu thành
công, mỗi quốc gia phải tìm cho mình những mặt hàng xuất khẩu có lợi thế
nhất, đem lại lợi ích cao nhất. Vì thế mỗi quốc gia phải xây dựng cho mình
chính sách mặt hàng xuất khẩu chủ lực. Nắm bắt đợc điều này, Việt Nam cũng
đã xây dựng cho mình chính sách mặt hàng xuất khẩu chủ lực riêng. Những mặt
hàng này sẽ tạo cho Việt Nam nguồn thu ngân sách chủ yếu. Cà phê là mặt
hàng xuất khẩu chủ lực của nớc ta. Hàng năm ngành cà phê đã đóng góp một
kim ngạch khá lớn cho ngân sách nhà nớc. Kim ngạch thu đợc từ hoạt động
xuất khẩu cà phê vào khoảng 1-1,2 tỷ USD, chiếm khoảng 10% kim ngạch xuất
khẩu cả nớc. Trong giai đoạn đầu của quá trình CNH-HĐH đất nớc ta cần một
nguồn vốn khá lớn để đầu t xây dựng cơ bản, nhập khẩu máy móc, công nghệ từ
nớc ngoài. Nguồn vốn thu từ xuất khẩu cà phê sẽ đóng góp một phần nào đó để
tăng khả năng nhập khẩu phục vụ cho nhu cầu nhập khẩu phuc vụ cho tiến trình
CNH-HĐH đất nớc.
3.1.2. Xuất khẩu cà phê góp phần vào việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế
thúc đẩy sản xuất phát triển
Việt Nam có lợi thế rất lớn trong việc sản xuất cà phê. Hàng năm Việt
Nam sản xuất ra một khối lợng lớn cà phê. Tuy nhiên tiêu thụ cà phê nội địa
của Việt Nam là rất thấp. Vì thế thị trờng thế giới là hớng quan trọng để tổ chức
sản xuất. Ngày nay cơ cấu sản xuất và tiêu dùng của thế giới thay đổi mạnh mẽ
đó là thành quả của cuộc cách mạng khoa học công nghệ hiện đại. Sự chuyển
dịch cơ cấu kinh tế trong quá trình công nghiệp hoá phù hợp với xu hớng phát
triển của kinh tế thế giới là tất yếu đối với nớc ta.
* Có 2 cách nhìn nhận về tác động của xuất khẩu đối với sản xuất và
chuyển dịch cơ cấu kinh tế:
Một là, xuất khẩu chỉ là việc tiêu thụ nhng sản phẩm thừa do sản xuất vợt
quá nhu cầu tiêu thụ nội địa. Trong trờng hợp nền kinh tế còn lạc hậu và chậm
10
Luận văn tốt nghiệp
phát triển nh nớc ta, sản xuất về cơ bản còn cha đủ tiêu dùng. Nếu chỉ thụ động
chờ ở sự thừa ra của sản xuất thì xuất khẩu vẫn cứ nhỏ bé và tăng trởng chậm
chạp. Sản xuất và sự thay đổi cơ cấu kinh tế rất chậm chạp.
Hai là, coi thị trờng và đặc biệt thị trờng thế giới là hớng quan trọng để tổ
chức sản xuất. Quan điểm này xuất phát từ nhu cầu thế giới để tổ chức sản xuất.
Điều này có tác động tích cực đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế và thúc đẩy sản
xuất phát triển.
Đối với ngành cà phê thì sản xuất cà phê của Việt Nam với sản lợng lớn,
nhu cầu tiêu dùng nội địa rất hạn hẹp do Việt Nam có truyền thống trong việc
thởng thức trà. Vì vậy trên thị trờng Việt Nam sẽ xẩy ra tình trạng cung cà phê
vợt quá cầu cà phê do đó phải đẩy mạnh xuất khẩu. Tuy nhiên Việt Nam lai
không coi cà phê là sản phẩm ế thừa cần xuất khẩu mà xuất phát từ thị trờng
thế giới ngày càng tiêu dùng nhiều cà phê hơn. Do đó thị trờng thế giới luôn là
mục tiêu cho các doanh nghiệp sản xuất cà phê. Điều này góp phần chuyển dịch
mạnh mẽ cơ cấu kinh tế nớc ta và thúc đẩy sản xuất phát triển. Thể hiện :
- Trớc hết sản xuất cà phê xuất khẩu sẽ kéo theo hàng loạt các ngành
kinh tế phát triển theo nh các ngành công nghiệp chế biến, công nghiệp chế tạo
máy móc, thúc đẩy các ngành xây dựng cơ bản nh xây dựng đờng xá, trờng,
trạm thu mua cà phê , Ngoài ra còn kéo theo hàng loạt các ngành dịch vụ
phát triển theo nh : dịch vụ cung cấp giống cây trồng, thuốc bảo vệ thực vật,
ngân hàng, cho thêu máy móc trang thiết bị, Điều này góp phần làm chuyển
dịch cơ cấu kinh tế nớc ta theo hớng xuất khẩu.
- Xuất khẩu cà phê tạo ra khả năng mở rộng thị trờng tiêu thụ, góp phần
cho sản xuất phát triển và ổn định. Hoạt động xuất khẩu gắn với việc tìm kiếm
thị trờng xuất khẩu, do đó khi xuất khẩu thành công tức là khi đó ta đã có đợc
một thị trờng tiêu thụ rộng lớn. Điều này không những tạo cho Việt Nam có đợc
vị trí trong thơng trờng quốc tế mà còn tạo cho Việt Nam chủ động trong sản
xuất đáp ứng nhu cầu tiêu dùng cà phê thế giới. Thị trờng tiêu thụ càng lớn càng
thúc đẩy sản xuất phát triển có nh vậy mới đáp ứng đợc nguồn hàng cho xuất
khẩu.
11
Luận văn tốt nghiệp
- Xuất khẩu cà phê tạo ra điều kiện mở rộng khả năng cung cấp đầu vào
cho sản xuất, nâng cao năng lực sản xuất trong nớc. Cũng nh bất cứ môt ngành
sản xuất hàng hoá nào xuất khẩu, sản xuất cà phê xuất khẩu cũng tạo điều kiện
để mở rộng vốn, công nghệ, trình độ quản lý, nâng cao đời sống ngời lao động
đảm bảo khả năng tái sản xuất mở rộng.
- Xuất khẩu tạo ra những tiền đề kinh tế kĩ thuật nhằm cải tạo và nâng
cao năng lực sản xuất trong nớc. Xuất khẩu cà phê là phơng tiện quan trọng tạo
ra vốn và kĩ thuật công nghệ từ thế giới bên ngoài vào việt Nam. Khi xuất khẩu
cà phê thì sẽ tạo cho Việt Nam nắm bắt đợc công nghệ tiên tiến của thế giới để
áp dụng vào nớc mình. Nh công nghệ chế biến cà phê xuất khẩu, công nghệ,
phơi sấy, bảo quản sau thu hoạch cà phê, ngoài ra còn học hỏi đợc kinh nghiệm
quản lý từ quốc gia khác. Nh vậy sẽ nâng cao đợc năng lực sản xuất trong nớc
để phú hợp với trình độ của thế giới.
- Thông qua xuất khẩu, cà phê Việt Nam sẽ tham gia vào cuộc cạnh tranh
trên thế giới, về giá cả chất lợng. Cuộc cạnh tranh này đòi hỏi chúng ta phải tổ
chức lại sản xuất, hình thành cơ cấu sản xuất luôn thích nghi với thị trờng. Sản
xuất cà phê đáp ứng nhu cầu thị trờng, khi đó muốn đứng vững thị trờng buộc
các doang nghiệp xuất khẩu cà phê phải làm sao để hạ giá thành, nâng cao chất
lợng để đánh bật đối thủ cạnh tranh.
- Xuất khẩu cà phê đòi hỏi các doanh nghiệp phải luôn đổi mới và hoàn
thiện công nghệ sản xuất kinh doanh thúc đẩy sản xuất và mở rộng thị trờng.
Thị phần luôn là mục tiêu của các doanh nghiệp xuất khẩu cà phê vì thế buộc
các doanh nghiệp phải tích cực trong việc đổi mới công nghệ, quảng cáo và xâm
nhập vào trờng thế giới.
3.1.3. Xuất khẩu có tác động tích cực đến việc giải quyết công ăn việc
làm và cải thiện đời sống nhân dân.
Sản xuất cà phê xuất khẩu sẽ thu hút hàng triệu lao động vào làm việc và
có thu nhập cao và thờng xuyên. Với một đất nớc có 80 triệu dân, lực lợng ngời
trong tuổi lao động khá cao chiếm khoảng 50% thì việc phát triển cà phê sẽ góp
phần thu hút một đội ngũ lao động rất lớn làm giảm gánh nặng về thất nghiệp
12
Luận văn tốt nghiệp
cho đất nớc. Giúp ngời dân ổn định đời sống giảm các tệ nạn xã hội. Đồng thời
giúp ngời dân có thu nhập cao đây là điều kiện để họ tiếp thu khoa học công
nghệ kỹ thuật, hoà nhập đợc với sự phát triển của thế giới.
3.1.4. Xuất khẩu cà phê là cơ sở để mở rộng và thúc đẩy các quan hệ
kinh tế đối ngoại của nớc ta.
Xuất khẩu là hoạt động đổi buôn bán với nớc ngoài do đó khi xuất khẩu
sẽ có điều kiện giúp cho quốc gia đó có đợc nhiều mối quan hệ với các nớc
khác. Hiện nay ta đã xuất khẩu cà phê vào 53 quốc gia trên thế giới, điều này
giúp cho Việt Nam có đợc nhiều mối quan hệ hợp tác phát triển. Đây là điều
kiện quan trọng để Việt Nam có đợc các quan hệ hợp tác đa phơng và song ph-
ơng đẩy nhanh tiến trình gia nhập WTO của Việt Nam.
Bên cạnh đó, cây cà phê phát triển góp phần phục hồi môi trờng sinh thái,
phủ xanh đất trống đồi trọc sau thời gian bị suy thoái nghiêm trọng do bị tàn
phá của thiên nhiên cùng sự huỷ hoại do chính bàn tay con ngời.
3.2. Những vấn đề tiêu cực của xuất khẩu cà phê
Vấn đề đặt ra lớn nhất đặt ra trong xuất khẩu cà phê Việt Nam hiện nay
là tính bền vững cha cao. Những năm gần đây, tuy sản lợng xuất khẩu tăng
nhanh nhng giá cả không ổn định nên kim ngạch xuất khẩu tăng chậm hoặc
giảm sút. Vấn đề này có liên quan đến sản xuất, chế biến và xuất khẩu trong đó
tính tự phát trong sản xuất dẫn đến cung vợt cầu, công việc chế biến bảo quản
sau thu hoạch cha đáp ứng đợc yêu cầu tăng sản lợng và nâng cao chất lợng, thị
trờng xuất khẩu cà phê cha ổn định.
3.2.1. Sản xuất cà phê thiếu quy hoạch và kế hoạch: tình trạng tự phát,
manh mún không gắn với thị trờng diễn ra phổ biến dẫn hậu quả cung vợt cầu,
giá cả giảm làm thu nhập của ngời sản xuất giảm sút gây khó khăn cho các
doanh nghiệp nhà nớc xuất khẩu cà phê. Trong mấy năm trở lại đây nhà nớc đã
quy hoạch phát triển sản xuất cà phê, tuy nhiên cũng còn nhiều nơi ngời dân tự
phát gieo trồng, vì thế đã làm cho ngành cà phê không quản lý đợc sản lợng cà
phê dẫn đến tình trạng cung vợt quá cầu, đẩy giá xuông thấp, làm cho các vùng
chuyên cà phê không bù đắp nổi chi phí sản xuất dẫn đến bị lỗ khá lớn.
13
Luận văn tốt nghiệp
3.2.2. Cơ cấu sản xuất cha hợp lý, tập trung quá lớn vào cà phê Robusta
trong khi đó lại cha quan tâm đến mở rộng cà phê Arabica là loại cà phê đang
đợc thị trờng a chuộng giá cao. Cà phê vối đợc trồng phổ biến ở Việt Nam, tuy
nhiên nhu cầu thế giới lại thích tiêu dùng cà phê chè. Điều này đặt ra cho Việt
Nam vấn đề là nếu không thay đổi cơ cấu cà phê phù hợp sẽ dẫn đến tình trạng
quá thừa trong mặt hàng cà phê vối song lại thiếu trong cà phê chè. Điều này
gây bất lợi lớn cho xuất khẩu cà phê Việt Nam.
3.2.3. Chất lợng cà phê còn thấp cha tơng xứng với lợi thế về đất đai, khí
hậu Việt Nam, còn cách xa với yêu cầu của thị trờng thế giới. Xu hớng chạy
theo năng suất và sản lợng khiến không ít các hộ kinh doanh quan tâm đên
chât lợng cà phê dẫn đến giá cà phê bị thấp hơn rất nhiều cà phê thế giới. Cà
phê Việt Nam nhiều tạp chất, cà phê cha chín, công nghê phơi sấy bảo quản lạc
hậu, dẫn đến nấm mốclàm giảm chất lợng cà phê. Đặc biệt các doanh nghiệp
Việt Nam cha khai thác đợc lợi thế của cà phê Việt Nam chính là ở hơng vị mặt
hàng này.
3.2.4. Tổ chức quản lý, thu mua cà phê còn nhiều bất cập. Hiệp hội cà
phê chỉ quản lý đợc một phần các doanh nghiệp sản xuất cà phê, chủ yếu thuộc
tổng công ty cà phê Việt Nam, còn đại bộ phận cà phê hộ gia đình do t thơng
chi phối.
Do những nhợc điểm trên nên sức cạnh tranh của cà phê trên thị trờng thế
giới còn thấp về chất lợng, giá thành cao, chủng loại sản phẩm còn đơn điệu.
Đây là những thách thức lớn đối với việc xuất khẩu cà phê Việt Nam trong giai
đoạn hội nhập với thị trờng thế giới.
II. Vài nét khái quát về thị trờng EU
1. Vài nét về quá trình phát triển Liên minh EU
ý tởng về một Châu Âu thống nhất đã xuất hiện từ rất sớm. Năm 1923
Bá tớc ngời áo sáng lập ra "Phong trào liên Âu" nhằm đi tới thiết lập " Hợp
chủng quốc Châu Âu" để làm đối trọng với Hợp chủng quốc Hoa Kỳ. Năm
1929, Ngoại trởng Pháp đa ra đề án thành lập: Liên minh Châu Âu nhng đều
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét