Bài tập học kỳ môn Luật dân sự - module 2
- Hành vi xâm phạm mồ mả luôn luôn là hành vi trái pháp luật. Mồ mả của cá
nhân luôn được tôn trọng và bảo vệ, không những bằng đạo đức mà bằng
pháp luật. Mồ mả của cá nhân là bất khả xâm phạm và là một thực thể thiêng
liêng không những theo phong tục tập quán, quan niệm tôn giáo mà còn theo
bản sắc văn hóa của dân tộc. Vì vậy mọi hành vi xâm phạm đến mồ mả của
cá nhân đều là trái pháp luật.
- Người được bồi thường thiệt hại là những người thân thích của cá nhân có mồ
mả đó. Những người thân thích như cha, mẹ, vợ, chồng, con cái…là những
người gần gũi nhất với cá nhân có mồ mả, họ có quan hệ huyết thống, nuôi
dưỡng…với nhau nên khi mồ mả của cá nhân bị xâm phạm thì những người
thân thích của họ là những người được bồi thường thiệt hại. Đặc điểm này
phù hợp với quy định của pháp luật về thừa kế.
- Thi thể hay hài cốt của cá nhân không phải là tài sản, nên hành vi xâm phạm
thi thể hay hài cốt của cá nhân không phải là hành vi xâm phạm tài sản mà là
hành vi xâm phạm đến quyền nhân thân gắn với thi thể, mồ mả của cá nhân.
Thi thể của cá nhân trước hết là một thực thể của tự nhiên, về mặt sinh học
thì thực thể đó đã chấm dứt quá trình trao đổi chất. Nhưng theo quy định của
pháp luật thi thể, hài cốt của cá nhân là bất khả xâm phạm. Vì vậy không thể
coi thi thể, hài cốt của cá nhân là tài sản, điều này trái với đạo đức, phong tục
và quan niệm tôn giáo của dân tộc.
- Bồi thường thiệt hại do xâm phạm mồ mả thực chất là bồi thường những chi
phí hợp lý để hạn chế, khắc phục thiệt hại. Bồi thường thiệt hại do xâm phạm
mồ mả là một trường hợp của bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, người gây
thiệt hại không thể bồi thường và khôi phục tình trạng ban đầu cho người bị
thiệt hại. Người gây thiệt hại chỉ có thể thực hiện nghĩa vụ bồi thường thiệt
hại của mình bằng cách bồi thường những chi phí hợp lý cho những người
thân thích của cá nhân có mồ mả để hạn chế, khắc phục thiệt hại.
II. Cơ sở pháp lý của TNBTTH do xâm phạm mồ mả gây ra
5
Bài tập học kỳ môn Luật dân sự - module 2
2.1. Điều kiện phát sinh TNBTTH do xâm phạm mồ mả
Căn cứ vào những đặc điểm đã nêu trên, trách nhiệm của người xâm phạm
mồ mả là trách nhiệm dân sự và phải thỏa mãn các điều kiện sau đây:
- Hành vi xâm phạm mồ mả luôn luôn được xác định là hành vi trái pháp luật.
- Người xâm phạm mồ mả cho dù có lỗi cố ý hay vô ý đều phải chịu trách
nhiệm dân sự.
- Hành vi xâm phạm mồ mả có mối quan hệ nhân quả với thiệt hại về tài sản
của những người thân thích của cá nhân có mồ mả. Đồng thời cũng là hành vi
xâm phạm đến quyền nhân thân gắn liền với cá nhân có mồ mả.
Hành vi xâm phạm mồ mả thỏa mãn ba điều kiện trên thì người xâm phạm
phải có trách nhiệm dân sự về tài sản và nhân thân đối với người thân thích của
cá nhân có mồ mả. Hành vi xâm phạm mồ mả là hành vi xâm phạm đến vị trí
mai táng xác, hài cốt, tro hài cốt của người chết theo phong tục, nghi lễ, tôn giáo
của cộng đồng dân cư. Hành vi xâm phạm mồ mả là hành vi xâm phạm đến nơi
an nghỉ cuối cùng của cá nhân người chết. Pháp luật nước ta bảo vệ quyền bất
khả xâm phạm mồ mả của người đã chết.
Do đó, hành vi xâm phạm mồ mả là hành vi trái pháp luật. Việc xác định
hành vi xâm phạm mồ mả là căn cứ pháp lý để xác định có hay không trách
nhiệm dân sự do xâm phạm mồ mả của cá nhân.
Căn cứ xác định hành vi xâm phạm mồ mả:
- Thứ nhất, người có hành vi cho dù là với bất kì mục đích gì mà xâm phạm
trực tiếp đến xác, hài cốt, tro hài cốt của người chết, xâm phạm đến sự
nguyên dạng của xác, hài cốt, tro hài cốt hoặc làm hao hụt hài cốt, tro hài
cốt đã mai táng thì hành vi đó là hành vi xâm phạm mồ mả.
- Thứ hai, người có hành vi di chuyển vị trí chôn cất xác, hài cốt, tro hài cốt
của cá nhân trái với ý chí của những người thân thích của những người chết
(trừ trường hợp phải di dời mồ mả theo quyết định của cơ quan nhà nước có
thẩm quyền);
6
Bài tập học kỳ môn Luật dân sự - module 2
- Thứ ba, người có hành vi thay đổi tấm bia ghi tên người chết có xác, hài
cốt, tro hài cốt dưới mộ gây ra sự nhầm lẫn với người thân thích của người
chết đó;
- Thứ tư, người có hành vi san phẳng mồ mả của người chết, làm mất dấu tích
của ngôi mộ, khiến không thể phát hiện được vị trí của ngôi mộ đó.
Người có hành vi xâm phạm mồ mả không cần phải có đầy đủ tất cả các
dấu hiệu trên mà chỉ cần có một trong các dấu hiệu đó đã là căn cứ để xác định
trách nhiệm bồi thường thiệt hại do xâm phạm mồ mả. Theo đó, thì người gây
thiệt hại có trách nhiệm bồi thường những chi phí hợp lý để hạn chế khắc phục
thiệt hại đã gây ra. Khi xác định cần xem xét hành vi đó có xâm phạm đến
không gian, phạm vi, hình dáng, tường rào bao bọc xung quanh ngôi mộ hay
không . Vì chúng là một thể thống nhất, vị trí ngôi mộ được xây dựng có mối
liên hệ hữu cơ với mục đích giữ gìn, bảo vệ xác, hài cốt, tro hài cốt của người có
ngôi mộ đó, mọi hành vi làm biến dạng kiến trúc liên quan đến mục đích bảo vệ
người đã chết được nguyên vẹn, đều bị coi là hành vi xâm phạm mồ mả.
Ngoài ra, cần phải phân biệt với những hành vi không bị coi là xâm phạm
mồ mả nhưng thuộc trách nhiệm dân sự khác để tránh nhầm lẫn dẫn đến xác
định sai trách nhiệm bồi thường thiệt hại, như hành vi bịa đặt những tin đồn về
người có mồ mả, tạo ra những dư luận làm giảm uy tín, danh dự của người có
mồ mả khi còn sống. Những hành vi này cũng là hành vi trái pháp luật nhưng
không thuộc hành vi xâm phạm mồ mả.
2.2. Trường hợp miễn trừ TNBTTH do xâm phạm mồ mả
2.2.1. Trường hợp bất khả kháng:
Sự kiện được coi là bất khả kháng khi nó là sự kiện bên ngoài, xảy ra một
cách khách quan, nằm ngoài ý chí hay hành động của con người. Trong thực tế,
những sự kiện như thiên tai (bão lụt, động đất, núi lửa…), tình trạng chiến
tranh…được coi là những sự kiện bất khả kháng. Xâm phạm mồ mả cũng là một
7
Bài tập học kỳ môn Luật dân sự - module 2
trường hợp được loại trừ TNBTTH nếu thiệt hại đó xảy ra là hoàn toàn do sự
kiện bất khả kháng gây ra. Ví dụ, do lũ lụt mà mồ mả của cá nhân bị vùi lấp, do
chiến tranh mà mộ của người chết bị mất dấu tích…
2.2.2. Trường hợp cải mộ (cải táng) :
Nước ta có 54 dân tộc anh em cùng sinh sống vì vậy mỗi dân tộc lại có
phong tục tập quán riêng. Tục cải mộ hay cải táng của dân tộc Kinh và nhiều
phong tục khác của các dân tộc là những tập tục có từ lâu đời và đến ngày nay
vẫn được gìn giữ. Như ông cha ta thường nói: “Sống cái nhà, già cái mồ”. Khi
còn sống công dân được pháp luật bảo vệ về chỗ ở và khi chết đi cũng được
pháp luật bảo vệ ở “nơi an nghỉ cuối cùng”. Nhân dân ta quan niệm cải mộ (cải
táng) mộ người đã chết là nghĩa vụ, trách nhiệm và thể hiện tình cảm của người
thân đối với người đã chết, là báo hiếu đối với tổ tiên. Ngôi mộ có giá trị tinh
thần to lớn đối với người thân.Vì vậy mà hành vi cải mộ (cải táng) của gia đình
người đã chết đối với ngôi mộ không phải chịu TNBTTH do xâm phạm mồ mả.
c
2.3. Năng lực và nguyên tắc bồi thường thiệt hại
2.3.1. Năng lực bồi thường thiệt hại:
Để xác định được chủ thể BTTH trong các vụ thiệt hại do xâm phạm mồ mả
thì việc trước tiên là phải xem họ có năng lực chịu trách nhiệm hay không. Năng
lực BTTH của chủ thể là khả năng của chủ thể đó phải gánh chịu những hậu quả
bất lợi từ thiệt hại xảy ra. Người xâm phạm mồ mả gây thiệt hại có thể là cá
nhân, pháp nhân… Điều 606 BLDS quy định về năng lực chịu trách nhiệm bồi
thường thiệt hại của cá nhân. Theo đó thì năng lực chịu TNBTTH của cá nhân
phụ thuộc vào mức độ năng lực hành vi, tình trạng tài sản và khả năng BTTH
của cá nhân. Cá nhân xâm phạm mồ mả cũng phải chịu TNBTTH theo quy định
chung này:
- Người từ đủ 18 tuổi trở lên có năng lực hành vi dân sự đầy đủ phải
BTTH do họ gây ra.
8
Bài tập học kỳ môn Luật dân sự - module 2
- Người dưới 18 tuổi là những người không có hoặc không đủ năng lực
hành vi nên cha mẹ họ là người BTTH:
+, Người dưới 15 tuổi: cha mẹ phải dùng tài sản của mình để bồi thường,
nếu không đủ mà con có tài sản riêng thì lấy tài sản riêng của con để bồi
thường.
+, Người từ 15 đến 18 tuổi: lấy tài sản của con để bồi thường, cha mẹ chịu
trách nhiệm bổ sung phần còn thiếu.
- Người dưới 15 tuổi, người mất năng lực hành vi dân sự gây thiệt hại
trong thời gian ở trường học, bệnh viện quản lý thì trường học , bệnh
viện phải bồi thường. Nếu các tổ chức đó không có lỗi thì cha mẹ, người
giám hộ phải bồi thường.
- Người giám hộ đương nhiên, giám hộ cử theo quy định tại khoản 2 điều
58 BLDS được dùng tài sản của người được giám hộ để bồi thường.
Nếu người giám hộ chứng minh được họ không có lỗi thì họ không phải
lấy tài sản của mình để bồi thường.
2.3.2. Nguyên tăc bồi thường thiệt hại:
BTTH do xâm phạm mồ mả cũng dựa trên những nguyên tắc chung của
BTTHNHĐ quy định cụ thể tại Điều 605 BLDS và Nghị quyết 03/2006/NQ-
HĐTP ngày 8/7/2006:
- Thiệt hại phải được bồi thường toàn bộ và kịp thời.
- Người gây thiệt hại có thể được giảm mức bồi thường (bồi thường một
phần) nếu do lỗi vô ý mà gây thiệt hại và thiệt hại xảy ra quá lớn so với khả
năng kinh tế trước mắt và lâu dài của người gây thiệt hại
- Thay đổi mức bồi thường khi mức bồi thường thiệt hại không còn phù hợp
với thực tế: sự thay đổi về tình hình kinh tế, xã hội, sự biến động về giá cả hoặc
do có sự thay đổi về tình trạng thương tật, khả năng lao động của người bị thiệt
hại…
2.4. Xác định thiệt hại
9
Bài tập học kỳ môn Luật dân sự - module 2
2.4.1. Thiệt hại về tài sản:
Như đã phân tích ở trên, hành vi xâm phạm thi thể hay hài cốt của cá nhân
không phải là hành vi xâm phạm tài sản mà là hành vi xâm phậm đến quyền
nhân thân gắn với thi thể, mồ mả của cá nhân. Do đó, thiệt hại về tài sản do hành
vi xâm phạm mồ mả gây ra là phần thiệt hại về tài sản liên quan đến những chi
phí hợp lý để hạn chế, khắc phục thiệt hại. Những thiệt hại này phải được xác
định trên cơ sở những thiệt hại thực tế, đó là những chi phí mua vật liệu xây
dựng và những chi phí hợp lý khác cho việc xây dựng mồ mả (tiền công xây
dựng mồ mả…).
Bồi thường thiệt hại về mồ mả do phần tài sản bị xâm phạm cũng theo
nguyên tắc chung của bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là bồi thường toàn bộ
thiệt hại. Trong một số trường hợp người thân thích của người bị xâm phạm mồ
mả đòi những chi phí trả cho thầy bói, cô đồng và những chi phí khác liên quan
đến điều cấm của pháp luật như gọi hồn người chết, yểm bùa… thì không được
bồi thường thiệt hại.
Người xâm phạm mồ mả chỉ phải bồi thường thiệt hại về tài sản khi có thiệt
hại về tài sản. Vậy những trường hợp xâm phạm tài sản mà không gây thiệt hại
về vật chất như hành vi xâm lấn mồ mả của người khác nhưng không gây thiệt
hại về vật chất thì họ có phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại không?.
2.4.2. Bồi thường tổn thất về tinh thân cho những người thân thích của người
có mồ mả bị xâm phạm
Hành vi xâm phạm mồ mả không những gây thiệt hại về tài sản mà còn xâm
phạm đến quyền nhân thân của chính người có mồ mả đó. Đồng thời gây ra
những tổn thất về tinh thần cho những người thân thích của cá nhân có mồ mả bị
xâm phạm.
- Năng lực pháp luật dân sự của cá nhân chấm dứt khi người đó chết nhưng
quyền nhân thân gắn liền với mồ mả của cá nhân được pháp luật bảo vệ
và cấm mọi hành vi xâm phạm đến mồ mả của các nhân.
10
Bài tập học kỳ môn Luật dân sự - module 2
- Mồ mả của cá nhân bị xâm phạm khiến cho những người thân thích của
họ bị tổn thất về tinh thần không phải là nhỏ. Bởi theo quan niệm chung
thì những người còn sống có bổn phận chăm nom, giữ gìn mồ mả những
người đã chết như gìn giữ điều thiêng liêng của người đã chết, thể hiện
tình cảm của người còn sống đối với người đã sinh thành, nuôi dưỡng,
những người thân thích với mình. Đây cũng là quan niệm đạo đức của
nhân dân ta “Sống vì mồ vì mả không ai sống vì cả bát cơm”. Do vậy,
những hành vi xâm phạm mồ mả: đào bới, tiêu hủy, giảm sút hài cốt, hủy
hoại hài cốt, thi thể của cá nhân được coi như là những hành vi xâm phạm
danh dự, uy tín, nhân phẩm quy định tại Điều 611 BLDS 2005. Mức bồi
thường này do các bên thỏa thuận. Nếu không thỏa thuận được thì áp
dụng mức bồi thường tối đa không quá ba mươi tháng lương tối thiểu do
Nhà nước quy định.
2.4.3. Trách nhiệm của người do nhầm lẫn mà xâm phạm mồ mả cuả người
khác.
Trên thực tế, hành vi nhầm lẫn có thể xảy ra trong trường hợp người ta đào
nhầm mồ mả của người khác do thiếu cẩn trọng hoặc xác định sai vị trí mồ mả.
Hành vi đào nhầm mồ mả của người khác có phải là hành vi xâm phạm không?
Nếu xét về hình thức lỗi, hành vi đào nhầm mồ mả là do vô ý mà gây thiệt hại
đến mồ mả của người khác. Nếu xét theo hậu quả thì hành vi đào nhầm cũng là
hành vi xâm phạm mồ mả. Hành vi xâm phạm mồ mả cho dù xuất phát từ lỗi vô
ý hay cố ý cũng đều gây ra những thiệt hại nhất định về tài sản và gây tổn thất
về tinh thần của những người thân thích của người có mồ mả đó. Hành vi xâm
phạm mồ mả bao giờ cũng làm phát sinh thiệt hại hoặc về vật chất hoặc về tinh
thần hoặc về cả vật chất và tinh thần của người còn sống, người thân thích của
người có mồ mả đó. Từ những nhân đinh trên, người xâm phạm mồ mả phải
chịu trách nhiệm dân sự trước những người thân thích của cá nhân có mồ mả bị
xâm phạm. Trách nhiệm dân sự không thay đổi trong mọi trường hợp khi có
11
Bài tập học kỳ môn Luật dân sự - module 2
hành vi xâm phạm mồ mả của người khác. Người gây thiệt hại phải bồi thường
những thiệt hại về vật chất và tinh thần cho những người thân thích của cá nhân
có mồ mả bị xâm hại như đã phân tích ở trên.
Xác định trách nhiệm dân sự của cá nhân, pháp nhân, chủ thể khác gây thiệt
hại đến mồ mả của người khác là thật sự cần thiết. Chỉ khi nào xác định rõ hành
vi xâm phạm mồ mả và hậu quả của hành vi đó, TAND mới có căn cứ pháp lí để
xác định người phải bồi thường, người được bồi thường và mức bồi thường do
có hành vi trên.
III. Thực tiễn áp dụng và phương hướng hoàn thiện những quy
định của pháp luật về TNBTTH do xâm phạm mồ mả.
3.1. Thực tiễn áp dụng
3.1.2. Thực tiễn
Trong thời gian gần đây, những vụ việc liên quan đến xâm phạm mồ mả
xảy ra khá nhiều, quy mô ngày càng lớn, thủ đoạn ngày càng tinh vi, xảo quyệt
hơn. Điển hình là vụ án băng nhóm xâm phạm mồ mả, hài cốt với quy mô lớn
nhất chưa từng có từ trước đến nay ở tỉnh Khánh Hòa: Giữa tháng 11/2000,
hàng chục ngôi mộ tại khu vực huyện Ninh Hòa bị đào bới trộm hài cốt xảy ra
một cách kỳ lạ. Ban đầu là những vụ đào bới, lấy trộm hài cốt ở xã Ninh Tây,
Ninh Thủy sau đó liên tiếp diễn ra ở các xã Ninh An, Ninh Phú, Ninh Phước,
Ninh Giang. Do đối tượng gây án luôn thay đổi địa bàn và thời gian hoạt động,
hơn nữa nghĩa trang ở xa khu dân cư, nên rất khó phát hiện kịp thời những phi vụ
xâm phạm mồ mả, hài cốt. Trong lúc Công an huyện Ninh Hòa đang tập trung
truy xét hành tung thủ phạm, thì cuối năm 2004, cơ quan An ninh điều tra Công
an tỉnh Đồng Nai khám phá một phi vụ lừa đảo chiếm đoạt tài sản bằng chiêu
thức đưa người đi xuất cảnh bằng con đường “ăn theo” hài cốt lính Mỹ có liên
quan đến đường dây mua bán hài cốt ở các tỉnh Khánh Hòa, Phú Yên, Kiên
Giang, TP HCM. Trong số các đối tượng bị bắt tạm giam có hai đối tượng ở
12
Bài tập học kỳ môn Luật dân sự - module 2
huyện Ninh Hòa là Nguyễn Cư (52 tuổi), trú ở thôn Hòa Thiện 2, xã Ninh An và
Nguyễn Phước Thiện (61 tuổi), trú ở thôn Ngân Hà, xã Ninh Thủy. Mở rộng điều
tra, Cơ quan công an đã phát hiện các đối tượng trong đường dây đào bới, xâm
phạm mồ mả hài cốt tại huyện Ninh Hòa. Trong số 16 bị cáo có trường hợp là
hai cha con, vợ chồng, anh chị em ruột, anh em con nhà chú bác. Hầu hết đều là
nông dân ít học, chưa có tiền án tiền sự, nhưng vì hám tiền, cả tin theo kẻ lừa
đảo, lãng quên truyền thống đạo lý dân tộc, bất chấp đời sống tâm linh, nên phải
vào vòng lao lý. Tại phiên tòa sơ thẩm, các bị cáo chỉ khai nhận đã gây ra 14 vụ
đào bới, lấy trộm hàng chục bộ hài cốt để bán cho Trần Nhựt, Trần Hùng Châu
và Trịnh Văn Thuốt với tổng số tiền thu lợi bất chính 65.534.000 đồng. Trong vụ
án này, ngoài hành vi xâm phạm mồ mả, hài cốt, Trần Hùng Châu còn dùng rễ
cây mục lẫn với đất bỏ vào 6 bao nilon nhựa màu đen có kèm thẻ bài căn cước,
rồi nói dối với Trịnh Văn Thuột đó là hài cốt để lừa đảo chiếm đoạt 700 USD.
TAND huyện Ninh Hòa đã tuyên xử hình phạt tổng hợp 37 năm 2 tháng tù đối
với 16 bị cáo về tội "Xâm phạm mồ mả, hài cốt", riêng Trần Hùng Châu còn bị
xử phạt 3 năm 6 tháng tù về tội "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản".
Ngoài ra, Dương Hồng Thái và Nguyễn Cư, mỗi bị cáo còn phải chấp hành
hình phạt 3 năm tù về tội "Xâm phạm mồ mả, hài cốt" theo bản án hình sự sơ
thẩm số 01/2006/HSST ngày 10/1/2006 của TAND tỉnh Đồng Nai.
Với những quy định hiện hành về TNBTTHNHĐ nói chung, TNBTTH do
xâm phạm mồ mả nói riêng quyền và lợi ích của người bị thiệt hại đã được pháp
luật bảo vệ. Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng đã có những vướng mắc, sai sót nhất
định trong việc xác định nguyên nhân của thiệt hại, chủ thể có trách nhiệm bồi
thường…Ví dụ: Mới đây, TAND tỉnh Phú Yên đã xử phúc thẩm vụ kiện: ông B
kiện ông S đòi bồi thường thiệt hại ba triệu đồng vì cho rằng ông S đã làm mộ vợ
ông bị sạt lở, phải mất công sức, tiền bạc để di dời đi chỗ khác.
13
Bài tập học kỳ môn Luật dân sự - module 2
Theo đơn kiện của ông B, năm 1985 vợ ông chết, được an táng tại khoảnh
đất đồi nằm ở thôn Phước Lý (Sông Cầu). Ông S có một mảnh đất cạnh đó. Cách
đây khoảng vài năm, ông S thuê xe đào múc đất phía dưới chân mộ vợ ông để lấy
mặt bằng và có xây một bờ tường chắn phía dưới chân mộ. Mùa mưa năm 2007,
mưa lũ kéo dài làm sạt lở bờ tường, hư hỏng mộ vợ ông nên ông phải di dời mộ
đi nơi khác.
Ông B cho rằng nguyên nhân mộ vợ ông bị hư hỏng là do ông S đào múc
đất sâu, cách mộ chỉ khoảng một mét nên khi mưa lớn đã gây ra sạt lở. Ông B đã
nhiều lần yêu cầu ông S cùng với mình khắc phục chi phí di dời mộ đi nơi khác
nhưng ông S không chịu. Do đó, ông B đành phải khởi kiện ra tòa, yêu cầu tòa
buộc ông S phải bồi thường ba triệu đồng thiệt hại do xâm phạm mồ mả.
Ông S thì trình bày cách đây bảy năm, ông được cha mẹ cho một diện tích
đất nằm giáp quốc lộ 1A, phía trên cao có mộ vợ ông B và một số mộ khác. Phần
đất này qua nhiều thời kỳ làm quốc lộ 1A nên đã đào múc đất còn cách mộ vợ
ông B khoảng hai mét. Mặt đất phía chân mộ vợ ông B lồi lõm nên ông đã thuê xe
đào san lấp cho bằng phẳng để xây nhà. Vì sợ đất trên núi hàng năm hay sạt lở
nên ông đã xây một bờ tường, móng đá chẻ chắn ngang phía dưới chân các ngôi
mộ. Mùa mưa năm 2007, mưa kéo dài ngày, nước trên núi đổ xuống làm sạt lở
đất, sụp bờ tường và sạt lở gần hết mộ vợ ông B. Việc mộ bị sạt lở là do mưa lũ
gây ra, là lý do khách quan nên ông không đồng ý bồi thường.
Ngày 3- 6, TAND huyện Sông Cầu xử sơ thẩm đã nhận định việc mộ vợ ông
B bị sạt lở không phải do lỗi của ông S. Từ đó, tòa đã bác yêu cầu đòi bồi thường
của ông B. Không đồng ý, ông B lập tức kháng cáo.
Ngày 15-8, TAND tỉnh Phú Yên đã mở phiên xử phúc thẩm vụ án. Tại phiên
xử, tòa nhận định: Việc ông B cho rằng nguyên nhân làm hư hỏng mộ của vợ ông
do lỗi hoàn toàn thuộc về ông S là không có căn cứ. Ông S chỉ có một phần lỗi
gián tiếp mà thôi. Tòa phân tích trên thực tế, việc đào ủi, hạ thấp độ cao để làm
đường quốc lộ 1A đã có từ trước khi ông S san ủi mặt bằng khu đất của mình.
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét