Thứ Ba, 18 tháng 2, 2014

Một số giải pháp và định hướng cho Vietrans tham gia vào chuỗi giá trị logistics toàn cầu

dùng. Nguồn tài nguyên không chỉ có vật tư, nhân lực mà còn bao gồm cả
dịch vụ, thông tin, bí quyết công nghệ…
Logistics tồn tại ở cả hai cấp độ: hoạch định và tổ chức. Ở cấp độ thứ
nhất, vấn đề đặt ra là phải lấy nguyên vật liệu, bán thành phẩm hay dịch vụ…
ở đâu? Vào khi nào? Và vận chuyển chúng đi đâu? Do vậy tại đây xuất hiện
vấn đề về vị trí. Cấp độ thứ hai quan tâm tới việc làm thế nào để đưa được
nguồn tài nguyên/ các yếu tố đầu vào từ điểm đầu đến điểm cuối dây chuyền
cung ứng. Từ đây nảy sinh vấn đề vận chuyển và lưu trữ.
Tìm hiểu định nghĩa logistics và các vấn đề liên quan sẽ giúp chúng ta
nghiên cứu về dịch vụ logistics được hiệu quả hơn. Phần tiếp theo sẽ trình bày
quá trình phát triển của logistics và xu hướng sử dụng dịch vụ logistics thuê
ngoài.
1.1.2. Các giai đoạn phát triển của logisitics
Quá trình phát triển của logistics xuất phát từ sự thay đổi
trong sản xuất và buôn bán. Người bán không nhất thiết là
người sản xuất, người mua không nhất là người tiêu dùng
cuối cùng. Quá trình hàng hóa từ tay người sản xuất đến tay
người tiêu dùng có thể qua nhiều trung gian lần lượt đóng vai
trò người bán hay người mua và là một bộ phận của toàn bộ
quá trình lưu thông hàng hóa. Tính chất phong phú của hàng
hóa cùng với sự vận động phức tạp của chúng đòi hỏi phải có
sự quản lý chặt chẽ, điều này đặt ra cho các nhà sản xuất kinh
doanh một yêu cầu mới. Đồng thời để tránh ứ đọng vốn, các
nhà sản xuất kinh doanh luôn tìm cách duy trì một lượng hàng
tồn kho nhỏ nhất. Từ những lý do trên yêu cầu trong hoạt
động vận tải nói riêng và lưu thông phân phối nói chung phải
đảm bảo cho nguyên liệu hàng hóa được cung ứng kịp thời,
5
đúng lúc (just in time) mặt khác phải tăng cường vận chuyển
với mục tiêu không để hàng trong kho (Zero stock) nhẳm
giảm tối đa chi phí phát sinh hoặc sẽ phát sinh trong sản xuất
và lưu thông – logisitics đã ra đời.
Nghiên cứu các giai đoạn phát triển của Logisitics, ủy ban kinh tế và xã
hội châu Á – Thái Bình Dương (Economic and Social Commission for Asia
and Pacific – ESCAP) của Liên Hợp Quốc đã chia làm 3 giai đoạn
2. Giai đoạn 1: Giai đoạn phân phối vật chất
Tất cả các công ty đều có hoạt động vận chuyển vào trong công ty
(Inbound Logistics) và vận chuyển ra ngoài công ty (Outbound Logistics).
Vào những năm 60, 70 của thế kỉ XX, người ta quan tâm nhiều đến Outbound
Logistics. Outbound logistics là các hoạt động vận tải có mối liên hệ chặt chẽ
với nhau nhằm đảm bảo việc giao hàng thành phẩm một cách hiệu quả cho
khách hàng. Những hoạt động này bao gồm: vận tải, phân phối bảo quản hàng
hóa, quản lý hàng tồn kho, đóng gói bao bì, phân loại, dán nhãn…, hay còn
gọi là phân phối vật chất. Như vậy giai đoạn đầu tiên của logistics chính là
giai đoạn phát triển của “Outbound Logistics” - Lĩnh vực quan trọng trong nỗ
lực marketing của công ty để phân phối sản phẩm đến tay khách hàng
3. Giai đoạn 2: Hệ thống logistics hay chuỗi logistics
Đến những năm 80, 90 của thể kỷ XX, các công tiến hành quản lý kết
hợp cả hai hoạt động “Inbound Logistics” và “Outbound Logistics”. Đó là
giai đoạn phát triển mới của Logistics: Logistics hệ thống. Inbound Logistics
là một khái niệm hệ thống nhằm tìm kiếm cách thức củng cố mối quan hệ với
nhà cung cấp, tăng chất lượng nguồn lực, giảm chi phí và thời gian vận tải,
thúc đẩy việc quản lý nguyên vật liệu và đáp ứng các mục tiêu sản xuất mới là
sản phẩm chất lượng cao với giá cả cạnh tranh
6
Inbound Logistics chỉ giới hạn trọng quản lý nguyên vật liệu cũng như
quản lý nguồn lực của doanh nghiệp, do đó còn gọi là logistics đầu vào. Một
vài nguyên nhân dẫn đến sự chuyển hướng này là: Giá nhiên liệu tăng khiến
chi phí vận tải tăng. Vì vậy kiểm soát tốt giá chi phí vận tải chính là tăng hiệu
quả sử dụng các phương tiện vận tải, bằng cách kết hợp Inbound và Outbound
Logistics. Bên cạnh đó là sự phát triển của khoa học quản lý đẫn đến sự ra đời
phương pháp lập kế hoạch về nhu cầu nguyên vật liệu, sự phổ biến của hệ
thống Kaban và JIT. Inbound Logistics quản lý các hệ thống này, nhờ đó
giảm chi phí sản xuất kinh doanh cho công ty thông qua giảm chi phí dự trữ
và lưu kho.
Như vậy, đến những năm 80, 90 của thế kỷ XX, việc tiến hành quản lý
kết hợp cả hai hoạt động “Inbound Logistics” và “Outbound Logistics” đem
lại nhiều lợi ích cho các công ty. Tùy vào tính chất ngành công nghiệp và hoạt
động sản xuất của chính công ty mà hoạt động này có thể quan trọng hơn hoạt
động kia hoặc có vai trò như nhau
4. Giai đoạn 3: Quản trị dây chuyền cung ứng
Cùng với “Inbound Logistics” và “Outbound Logistics”, người ta còn
quan tâm đến “Operation Logistics” – là một bộ phận của hoạt động điều
hành trong công ty liên quan đến việc lập hệ thống theo dõi, kiểm tra sản
phẩm và lập các chứng từ liên quan nhằm làm tăng thêm giá trị cho sản phẩm.
Sự kết hợp của ba hoạt động này hình thành nên một dây chuyền cung ứng
bao trùm mọi hoạt động từ nhà cung cấp đến nhà sản xuất và cuối cùng là đến
khách hàng tiêu dùng sản phẩm, mục đích cao nhất là thỏa mãn tối đa nhu cầu
khách hang
Sơ đồ
4.1.1. Quá trình hình thành và phát triển của dịch vụ logistics
7
Song song với quá trình phát triển của logistics là quá trình
phát triển của dịch vụ logistics – hay dịch vụ logistics thuê
ngoài. Ban đầu, dịch vụ logistics thuê ngoài là dịch vụ vận
chuyển và giao nhận. Hàng hóa đi từ nước người bán đến
nước người mua thường dưới hình thức hàng lẻ, phải qua tay
nhiều người vân tải ở mỗi phương thức vân tải khác nhau. Vì
vây xác suất rủi ro mất mát xảy ra đối với hàng hóa là rất lớn
do người gửi hàng phải ký nhiều hợp đồng vân tải riêng biệt
với từng người vận tải. Trách nhiệm của mỗi người vận tải chỉ
giới hạn trong dịch vụ hay chặng đường mà người đó đảm
nhiệm. Vào những năm 60, 70 của thế kỷ này, cách mạng
container hóa trong vận tải đã đảm bảo an toàn và độ tin cây
trong di chuyển hàng hóa là tiền đề cho sự ra đời của vận tải
đa phương thức (Multimodal Transport Operator – MTO).
Sau đó khách hàng rất cần một người đứng ra tổ chức mọi công việc ở
tất cả các công đoạn liên quan để tiết kiệm tối đa thời gian, chi phí và rủi ro
phát sinh nhằm gia tăng lợi nhuận. Từ đó, những người vận tải đa phương
thức ngoài làm vận chuyển, giao nhận đã kiêm thêm các khâu liên quan đến
quá trình sản xuất hàng hóa như: gia công, chế biến lắp ráp, đóng gói, gom
hàng, xếp hàng, lưu kho và giao nhân. Hoạt động giao nhận vận tải thuần túy
đơn lẻ đã chuyển dần sang hoạt động tổ chức toàn bộ dây chuyền phân phối
vât chất và trở thành một bộ phận khăng khít của chuỗi mắt xích “cung-cầu”.
Xu hướng đó không những đòi hỏi phải phối hợp liên hoàn tất cả các phương
thức vân tải, mà còn đòi hỏi phải kiểm soát được các luồng thông tin, luồng
hàng hóa và luồng tài chính. Chỉ khi tối ưu được toàn bộ quá trình này thì mới
giải quyết được vấn đề đặt ra là: vừa tăng lợi nhuận cho các doanh nghiệp sản
xuất hàng hóa, vừa tăng lợi nhuận cho các đơn vị kinh doanh dịch vụ vân tải
8
giao nhận, bảo đảm được lợi ích chung của các bên tham gia vào dây chuyền.
Hoạt động giao nhận vận tải thuần túy chuyển sang hoạt động tổ chức toàn bộ
dây chuyền vận động của hàng hóa- đó chính là hoạt động logistics.
Từ sự phân tích trên chúng ta thấy rằng dịch vụ logistics chính là sự
phát triển ở giai đoạn cao của các khâu dịch vụ giao nhận kho vận, điều phối
hàng hóa từ khâu tiền sản xuất đến tay người tiêu dùng cuối cùng qua các
công đoạn: dịch chuyển, lưu kho và phân phát hàng hóa. Trong quá trình lưu
chuyển hàng hóa, đồng thời cũng có sự lưu chuyển của các dòng thông tin của
dịch vụ logistics. Vì vậy, ngày nay nhiều công ty giao nhận kho vận và nhiều
hiệp hội giao nhận kho vận ở các nưóc đã đổi tên thành công ty cung cấp dịch
vụ logistics và Hiệp hội các nhà cung cấp dịch vụ logistics. Những năm 90
của thế kỷ XX đã chứng kiến rất nhiều công ty vận tải giao nhận và khai thác
cảng đổi tên thành Công ty kinh doanh logistics hoặc lập thêm công ty về
logisitics. Ví dụ: Hiệp hội Giao nhận Singapore đổi tiên thành Hiệp hội
Logisitics Singapore (SLA). Các hãng vận tải NYK Logisitics, MOL
Logistics, APL Logistics và các cảng ICS Logistics (Hoa Kỳ), cảng Klang
Logistics (Châu Á) cũng đã hình thành và phát triển nhanh chóng.
Ở các nưóc không nói tiếng Anh như Việt Nam thuật ngữ Logistics
được giữ nguyên không dịch ra tiếng Việt để diễn đạt nội dung nghề
nghiệp của thuật ngữ logistics như Luật Thương mại ngày 14/6/2005 quy
định:
“Dịch vụ Logistics là hoạt động thương mại, theo đó thương nhân tổ
chức thực hiện một hoặc nhiều công việc bao gồm: nhận hàng, vân chuyển,
lưu kho, lưu bãi, làm thủ tục Hải quan, các thủ tục giấy tờ khác, tư vấn
khách hàng, đóng gói, bao bì, ghi ký mã hiệu, giao hàng hoặc các dịch vụ
khác có liên quan đến hàng hóa theo thỏa thuận với khách hàng để hưởng
thù lao”. (Điều 233 - mục 4 — Chương VI).
9
Như vậy dịch vụ logistics là những hoạt động giúp cho hoạt động
logistics của doanh nghiệp sản xuất kinh doanh được tiến hành liên tục mà
không nhất thiết phải do chính doanh nghiệp sản xuất kinh doanh thực hiện.
Các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ logistics hiện nay bao gồm các nhà cung
cấp các dịch vụ phục vụ một hoặc một vài phần trong chuỗi logistics như: các
hãng tham gia hoạt động vận tải (Freight Carries); các công ty vận tải biển,
hàng không, đường bộ…; các chủ kho bãi (Warehouse Firms) hoặc các nhà
kinh doanh Logistics thứ ba – 3PL. Bên cạnh đó phải kể đến những người
chuyên cung cấp dịch vụ logistics như một ngành nghề, có quan hệ rộng rãi
với người bán và người mua, chỉ chuyên môn cung cấp dịch vụ logistics theo
đối tượng hàng hóa.
Có nhiều cách phân loại các công ty cung cấp dịch vụ logistics. Phân
loại dưới đây theo hình thức khai thác hoạt động logistics.
Các công ty Logistics thứ nhất (1 PL - First Party Logistics): người
chủ sở hữu hàng hóa tự mình tổ chức và thực hiện các hoạt động logistics để
đáp ứng nhu cầu của bản thân. Theo hình thức này, chủ hàng phải đầu tư vào
phương tiện vân tải, kho chứa hàng, hệ thống thông tin, nhân công để quản lý
và vân hành hoạt động logistics. First Party Logistics làm phình to quy mô
của doanh nghiệp và thường làm giảm hiệu quả kinh doanh vì doanh nghiệp
không có đủ quy mô cần thiết, kinh nghiệm và kỹ năng chuyên môn để quản
lý, vận hành hoạt động logistics.
Các công ty Logistics bên thứ hai ( 2 PL - Second Party Logistics):
người cung cấp dịch vụ logistics bên thứ hai là người cung cấp dịch vụ cho
một hoạt động đơn lẻ trong chuỗi các hoạt động logistics (vận tải, kho bãi, thủ
tục Hải quan, thanh toán) để đáp ứng nhu cầu của chủ hàng mà chưa tích hợp
hoạt động logistics. Loại hình này bao gổm các hãng vân tải đường biển,
10
đường bộ, đường hàng không, các công ty kinh doanh kho bãi, khai thuê hải
quan, trung gian thanh toán
Các công ty Logistics bên thứ 3 ( 3 PL - Third Party Logistics): là
người thay mặt cho chủ hàng quản lý và thực hiện các dịch vụ logistics cho
từng bộ phân chức năng, ví dụ như thay mặt cho người gửi hàng thực hiện thủ
tục xuất nhập khẩu và vận chuyển nội địa hoặc thay mặt cho ngưòi nhâp khẩu
làm thủ tục thông quan và vận chuyển hàng đến địa điểm theo quy định. Do
đó 3 PL bao gồm nhiều dịch vụ khác nhau, kết hợp chặt chẽ việc luân chuyển,
tổn trữ hàng hóa, xử lý thông tin, và có tính tích hợp vào dây chuyền cung
ứng của khách hàng.
Các công ty Logistics bên thứ tư (4 PL - Fourth Party Logistics):
người tích hợp (intergrator) – người hợp nhất, gắn kết các nguồn lực, tiềm
năng và cơ sở vât chất khoa học kỹ thuật của mình với các tổ chức khác để
thiết kế, xây dựng và vận hành các giải pháp chuỗi logistics. 4 PL chịu trách
nhiệm quản lý dòng lưu chuyển logistics, cung cấp giải pháp dây chuyền cung
ứng, hoạch định, tư vấn logistics, quản trị vận tải, 4 PL hướng đến quản trị
cả quá trình logistics, như nhân hàng từ nơi sản xuất, làm thủ tục xuất, nhâp
khẩu, đưa hàng đến nơi tiêu thụ cuối cùng.
Các công ty Logistics bên thứ năm (5 PL – Fifth Party Logistics).
Gần đây cùng với sự phát triển của Thương mại điện tử, ngưòi ta đã nói đến
khái niệm công ty Logistics bên thứ 5 (5 PL). 5 PL phát triển nhằm phục vụ
cho Thương mại điện tử, các nhà cung cấp dịch vụ 5 PL là các 3 PL và 4 PL
đứng ra quản lý toàn chuỗi phân phối trên nền tảng Thương mại điện tử.
Vì vây các doanh nghiệp với vai trò là nhà cung cấp dịch vụ logistics
không bao gồm nhà cung cấp logistics bên thứ nhất vì đó chính là bản thân
doanh nghiệp tự cung ứng mà không thuê bên ngoài.
11
Hoạt động logistics ngày nay rất phát triển và đã trở thành một ngành
công nghiệp lớn. Theo báo cáo của Armstrong & Associates, mặc dù vài năm
qua nền kinh tế thế giới gặp nhiều khó khăn nhưng dịch vụ 3PL được dự đoán
sẽ tiếp tục phát triển trong ngắn hạn. Nghiên cứu của Armstrong&Associates
về thị trường 3PL cho thấy doanh thu toàn cầu của các 3PL năm 2010 đã đạt
con số 541,6 tỷ USD tăng 6,8% so với năm 2009 mặc dù nền kinh thế giới
vẫn ở giai đoạn bất ổn và biến động liên tục Châu Âu đạt doanh thu cao nhất
thế giới (162,3 tỷ USD) (Xem bảng 1.2) Điều này dễ hiểu vì các công ty 3PL
lớn nhất thế giới đều nằm ở các quốc gia châu Âu. Khu vực châu Á – Thái
Bình Dương được dự đoán sẽ trỗi dậy trong những năm tới vì sự phát triển
của các công ty logistics ở Singapore, Nhật Bản…Nhìn chung, hiệu quả của
việc sử dụng dịch vụ logistics thuê ngoài ngày càng được khẳng định là nhân
tố then chốt kinh doanh. Một khi công việc kinh doanh ngày này đang đối mặt
với những biến động và khủng hoảng kinh tế, khả năng thích nghi và thay đổi
rõ ràng là nhân tố tiền đề cho thành công. Việc sử dụng các 3PL là nguồn lực
hữu hiệu giúp các doanh nghiệp duy trì chuỗi cung ứng của mình linh hoạt
với môi trường kinh doanh.
Bảng 1.2. Doanh thu từ các 3PL năm 2010 => Đang sai
Vùng Doanh thu của các 3PL (Tỷ
USD)

Bắc Mỹ
149,1

Châu Âu
165,1

Châu Á-TBD
157,6

Mỹ La tinh
27,5

Khu vực khác
42,3
541,6
12
Tổng
Nguồn: Armstrong & Associates, Inc., 2010
Với sự phát triển chóng mặt của thương mại quốc tế và chuỗi cung ứng
mở rộng trên khắp thế giới, các nhà cung cấp logistics cần bên thứ ba (3PLs)
đã có một vai trò ngày càng quan trọng đối với các nhà sản xuất đa quốc gia
và các nhà bán lẻ. Nhà sản xuất cần nguồn cung cấp hoàn toàn đáng tin cậy
còn các nhà bán lẻ cần liên kết linh hoạt với các nhà cung cấp có chi phí thấp.
Tuy nhiên, các nhà cung cấp lại rải rác trên toàn cầu và bị ngăn cách bởi
khoảng cách địa lý. Bên cạnh đó, các nhà bán lẻ cũng cần các kênh phân phối
nhanh chóng cho mạng lưới ngày càng mở rộng của người tiêu dùng. Đồng
thời sự hình thành và phát triển thịnh vượng của các thị trường mới đang đặt
áp lực lớn hơn vào quản lý chuỗi cũng ứng để tìm được lợi thế cạnh tranh
Sự thành công của chuỗi cung ứng toàn cầu càng ngày càng được
khẳng định bởi vai trò của nhóm 3PL cốt lõi toàn cầu – nơi có thể cung cấp
chuyên môn, độ tin cậy và sự linh hoạt cho các tập đoàn đa quốc gia. Những
công ty 3PL toàn cầu cung cấp giao thông vận tải, hợp nhất, chuyển tiếp, môi
giới hải quan, kho bãi, thực hiện và phân phối hầu như bất cứ hoạt động
logistics liên quan đến thương mại dịch vụ và khách hang quốc tế của họ cần.
Khoảng 100 công ty 3PL hiện nay kiểm soát ước tính khoảng 1/3 của 270 tỷ
USD được chi vào các dịch vụ giá trị gia tăng logistics thuê ngoài toàn cầu
mỗi năm. Trong nhóm 3PLs toàn cầu, nhóm 25 công ty 3PL hàng đầu thu về
một phần ba tất cả các hoạt động 3PLs toàn cầu. Doanh thu hàng năm của
họ vượt quá 80 tỷ USD, và trong năm 2009, các khoản thu này sẽ tăng
trưởng từ 6-8% - gấp đôi so với tỷ lệ GDP thế giới
13
Châu Âu: Không có gì đáng ngạc nhiên khi 7 công ty 3PLs lớn
nhất toàn cầu là các công ty châu Âu, cùng nhau thu được ??? tỷ
USD năm nhiều hơn tất cả các công ty 3PLs còn lại trong Top
25 kết hợp. Thương vụ mua lại Exel của tập đoàn Deutsche Post
với giá 6.6 tỷ USD sẽ làm tăng gấp đôi doanh thu của DHL. Và
quả thực, DHL Supply Chain & Global Forwarding đã vươn lên
vị trí dẫn đầu mới gần 30.5 tỷ USD. Số hai và ba là Thụy Sĩ với
Kuehne & Nagel và Schenker của Đức, doanh thu tương ứng
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét