Thứ Ba, 11 tháng 2, 2014

Một số giải pháp nhằm thu hút FDI vào các KCN trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh

Cộng hoà xã hộ chủ nghĩa Việt Nam và chính phủ nước ngoài hoặc doanh nghiệp có
vốn đầu tư nước hợp tác với doanh nghiệp Việt Nam hoặc các doanh nghiệp liên
doanh hợp tác với nhà đầu tư nước ngoài trên cơ sở hợp đồng liên doanh.
Hình thức này có đặc điểm:
- Thành lập pháp nhân mới hoạt động trên nguyên tắc hạch toán độc lập dưới
hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn. Các bên chịu trách nhiệm về phần
vốn của mình.
- Phần góp vốn của bên hoặc các bên nước ngoài không hạn chế mức tối đa
nhưng tối thiểu không dưới 30% vốn pháp định và trong quá trình hoạt
động không giảm vốn pháp định.
- Cơ quan lãnh đạo cao nhất của doanh nghiệp liên doanh là hội đồng quả trị
mà thành viên của nó do mỗi bên chỉ định tương ứng với tỷ lệ góp vốn của
các bên nhưng ít nhất phải là hai người. Hội đồng quản trị có quyền quyết
định những vấn đề quan trọng trong hoạt động của doanh nghiệp theo
nguyên tắc nhất trí.
- Các bên tham gia liên doanh phân chia lợi nhuận và phân chia rủi ro theo tỷ
lệ góp vốn của mỗi bên trong vốn pháp định hoặc theo thoả thuận giữa các
bên
- Thời hạn hoạt động không quá 50 năm trong trường hợp đặc biệt được kéo
dài nhưng không quá 20 năm.
• Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài
Theo điều 26 Nghị định 12 CP quy định: Doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước
ngoài là doanh nghiệp thuộc sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài thành lập tại Việt
Nam, tự quản lý và tự chịu trách nhiệm về kết quả hoạt động kinh doanh. “Doanh
nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài được thành lập theo hình thức công ty trách
nhiệm hữu hạn có tư cách pháp nhân theo pháp luật Việt Nam. Thời gian hoạt động
không quá 50 năm kể từ ngày cấp giấy phép”
• Hợp động xây dựng – kinh doanh – chuyển giao (BOT)
Theo điều 12 khoản 2 luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam: “ Hợp đồng xây
dựng – kinh doanh – chuyển giao là văn bản kí giữa cơ quan có thẩm quyền của
Việt Nam và nhà đầu tư nước ngoài để xây dựng kinh doanh công trình kết cấu hạ
tầng trong thời hạn nhất định, hết thời hạn nhà đầu tư nước ngoài chuyển giao
không bồi hoàn công trình đó cho nhà Việt Nam”
• Hợp đồng xây dựng – chuyển giao – kinh doanh là văn bản kí kết giữa cơ
quan nhà nước có thẩm quyền của Việt Nam và nhà đầu tư nước ngoài xây
dựng công trình kết cấu hạ tầng. Sau khi xây dựng xong nhà đầu tư nước
ngoài chuyển giao công trình đó cho Nhà nước Việt Nam. Chính phủ Việt
Nam dành cho nhà đầu tư kinh doanh trong một thời hạn nhất định để thu
hồi vốn đầu tư và lợi nhuận hợp lý.
• Hợp đồng xây dựng – chuyển giao (BT)
Theo khoản 13 điều 2 luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam: “ Hợp đồng xây
dựng chuyển giao là hợp đồng kí kết giữa cơ quan Nhà nước có thẩm quyền của
Việt Nam và nhà đầu tư nước ngoài để xây dựng kết cấu hạ tầng. Sau khi xây xong
nhà đầu tư nước ngoài chuyển giao công trình đó cho nhà nước Việt Nam. Chính
phủ Việt Nam tạo điều kiện cho nhà đầu tư nước ngoài thực hiện các dự án khác để
thu hồi vốn đầu tư và lợi nhuận hợp lý.
2. Vai trò của FDI đối với sự phát triển của các KCN nói chung.
Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thức XIX của Đảng đã khẳng định:
“ kInh tế có vốn đầu tư nước ngoài là một bộ phận cấu thành quan trọng của nền
kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta, được khuyến khích phát
triển lâu dài, bình đẳng với các thành phần kinh tế khác. Thu hút đầu tư trực tiếp
nước ngoài là chủ trương quan trọng góp phần khai thác các nguồn lực trong nước,
mở rộng hợp tác kinh tế quốc tế, tạo nên sức mạnh tổng hợp phục vụ sự nghiệp
CNH - HĐH phát triển đất nước”.
Trong hơn 10 năm qua kể từ khi ban hành Luật Đầu tư trực tiếp nước ngoài tại
Việt Nam năm 1987, hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài ở nước ta đã đạt được
nhiều thành tựu quan trọng, góp phần tích cực vào việc thực hiện những mục tiêu
kinh tế – xã hội, vào thắng lợi của công cuộc đổi mới, đưa nước ta ra khỏi khủng
hoảng kinh tế, tăng cường thế và lực của Việt Nam trên trường quốc tế. Đầu tư trực
tiếp nước ngoài đã trở thành một trong những nguồn vốn quan trọng cho đầu tư phát
triển: có tác dụng thúc đảy sự chuyển dịch cơ cấu theo hướng CNH - HĐH, mở ra
nhiều ngành nghề, sản phẩm mới, nâng cao năng lực quản lý và trình độ công nghệ,
mở rộng thị trường xuất khẩu, tạo thêm nhiều việc làm mới, góp phần mở rộng quan
hệ đối ngoại và chủ động hội nhập kinh tế thế giới.
Tuy nhiên, hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài những năm qua cũng đã bộc
lộ những mặt yếu kém, hạn chế. Nhận thức quan điểm về đầu tư trực tiếp nước
ngoài chưa thực sự thống nhất và chưa được quán triệt đầy đủ ở các cấp, các ngành,
cơ cấu đầu tư trực tiếp nước ngoài có mặt còn bất hợp lý và hiệu quả tổng thể về
kinh tế- xã hội của hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài chưa cao; môi trường đầu
tư còn chưa hấp dẫn; môi trường kinh tế và pháp lý còn đang trong quá trình hoàn
thiện nên chưa đồng bộ; công tác quản lý Nhà nước về đầu tư trực tiếp nước ngoài
còn những mặt yếu kém; thủ tục hành chính còn phiền hà; công tác cán bộ còn nhiều
bất cập. Nhịp độ tăng trưởng đầu tư trực tiếp nước ngoài từ năm 2000 có dấu hiệu
phục hồi nhưng chưa vững chắc, nếu không những năm tới. Trong khi đó, cạnh
tranh thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài trên thế giới và khu vực diễn ra ngày
càng gay gắt, nhất là sau khủng hoảng kinh tế khu vực, nhịp độ tăng trưởng của kinh
tế thế giới đang chậm lại, các nền kinh tế khu vực, những đối tác chính đầu tư vào
Việt Nam, đang gặp khó khăn.
Từ những đóng góp quan trọng triển ta có thể nhận thấy rõ vai trò to lớn của
FDI đối với sự phát triển của các KCN nói chung, thể hiện ở:
- FDI giúp đẩy nhanh tốc độ phát triển nền kinh tế nói chung, mở rộng quy
mô sản xuất, nâng cao năng lực sản xuất của các cơ sở sản xuất kinh doanh
hiện tại và tạo ra năng lực sản xuất mới trong một số lĩnh vực, thúc đẩy
xuất khẩu, giải quyết việc làm.
- FDI giúp các doanh nghiệp sản xuất trong KCN tiếp nhận thành tựu phát
triển khoa học kỹ thuật tiên tiến, nhờ đó rút ngắn khoảng cách so với thế
giới. Từ đó giúp các doanh nghiệp sản xuất tăng khả năng cạnh tranh trên
thị trường quốc tế.
- FDI giúp sử dụng có hiệu quả những lợi thế của đất nước mà trước đây
không thể thực hiện do thiếu vốn. Từ đó giúp các doanh nghiệp sản xuất
trong KCN có thể tận dụng hết các nguồn lực để phát triển sản xuất.
- FDI tạo điều kiện cho chúng ta học tập kinh nghiệp quản lý kinh doanh
trong điều kiện kinh tế thị trường của các nước tiên tiến.
3. Kinh nghiệm của một số nước trong việc thu hút FDI.
3.1. Kinh nghiệm của Đài Loan.
Đài Loan là một trong 4 con rồng Châu á, quá trình phát triển kinh tế đã có
những thành tựu nổi bật: từ năm 1953 đến năm 1997 bình quân tăng trưởng kinh tế
hàng năm 8,7%
Trong quá trình xây dựng phát triển kinh tế, Đài Loan cũng có thời thu hút
mạnh vốn đầu tư nước ngoài. Đầu tư nước ngoài vào Đài Loan có những đặc điểm
sau:
- Thương gia nước ngoài đầu tư vào Đài Loan có Hoa kiều và người nước
ngoài. Ngay từ năm 1952 đã có Hoa Kiều và đến năm 1954 Chính Phủ Đài Loan
ban bố “Điều lệ đầu tư nước ngoài”. Năm 1955 ban bố “Điều lệ đầu tư Hoa Kiều”.
Gần nửa thế kỷ qua, vốn đầu tư nước ngoài vào Đài Loan tăng lên nhanh, nhất là
thập kỷ 70-80.
Qua thực tế ở Đài Loan thấy quan hệ giữa quy mô kinh doanh vốn của người
nước ngoài và quy mô đầu tư của họ chịu sự ảnh hưởng của đặc điểm kỹ thuật của
ngành sản xuất, kỹ thuật sản xuất được sử dụng và mức khống chế cổ phẩn của họ.
Nhà đầu tư nước ngoài vào Đài Loan đầu tư mục đích chung là thu lợi. Những mỗi
thời kỳ thể hiện khác nhau.
Nhìn chung, Đài loan có nhiều thuận lợi, hấp dẫn đầu tư, ít rủi ro, kẻ cả rủi ro
về chính trị
- Hai yếu tố tiền lương và mức thu nhập quốc dân ở Đài Loan là lợi thế cho
các nhà đầu tư. Các nhà đầu tư vào Đài Loan vừa lợi dụng được cả hai yếu
tố đó ở mức độ khác nhau trong từng thời kỳ phát triển khác nhau.
Vốn đầu tư nước ngoài đã có những tác động ảnh hưởng trên một số mặt với
mức độ khác nhau trong quá trình xây dựng và phát triển kinh tế của Đài Loan.
- Quá trình phát triển của kinh tế Đài Loan là không lệ thuộc vào vốn nước
ngoài. Vốn nước ngoài chỉ bổ sung một phần nhỏ nguồn vốn
- Năng suất lao động và hiệu quả kinh doanh của vốn nước ngoài cao hơn
trong nước, sức cạnh tranh cao hơn, đã có tác động lớn đối với xuất khẩu,
tạo việc làm cho Đài Loan
3.2. Kinh nghiệm ở Trung Quốc.
Có thể nói Trung Quốc là một nước đạt được những thành tựu to lớn trong việc
thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài. Chính điều đó đã góp một phần quan trọng
cho sự phát triển kinh tế của Trung Quốc. Để đạt được những thành tựu đó, Đảng
Cộng Sản và Nhà nước Trung Quốc đã quyết định thực hiện đẩy nhanh tốc độ cải
cách và mở cửa với những chủ trương, chính sách, biện pháp nhằm khuyến khích
đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Trung Quốc. Đó là:
a. Mở rộng địa bàn thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài từng bước, nhiều
tầng, ra mọi hướng. Các nhà lãnh đạo Trung Quốc chủ trương mở cửa
vùng ven biển là nơi có vị trí thuận lợi trong giao lưu buôn bán quốc tế. Từ
mở cửa ven biển sẽ dần dần mở sâu vào nội địa. Những bước đi như vậy đã
dần hình thành khinh tế mở cửa nhiều tầng nấc, ra mọi hướng theo phương
châm mơ cửa từ điểm, đến tuyến, đến diện. Với những bước đi thận trọng
nhưng khẩn trương, Trung Quốc đã tiến hành mở cửa từng khu vực, bắt
đầu từ việc thành lập 5 đặc khu kinh tế, sau đó là việc mở cửa 14 thành phố
ven biển, 13 thành phố ven biên giới nhằm mở rộng thương mại và đầu tư
vùng biên.
b. Môi trường luật pháp. Cho đến nay Trung Quốc đã ban hành trên 500 văn
bản gồm các bộ luật và pháp quy liên quan đến thương mại và đầu tư trực
tiếp nước ngoài. Luật pháp được xây dựng trên nguyên tắc: Bình đẳng cùng
có lợi, tôn trọng tập quán quốc tế.
c. Tạo dựng môi trường kinh doanh thuận lợi cho các hoạt động đầu tư trực
tiếp nước ngoài. Chính phủ Trung Quốc đã thực hiện nhiều chính sách biện
pháp trên nhiều lĩnh vực để tạo môi trường đầu tư hấp dẫn cho các nhà đầu
tư nước ngoài. Các chủ trương, biện pháp được hướng vào cải tạo và xây
dựng cơ sở hạ tầng, thực hiện các ưu đãi (như ưu đãi thuế với khu vực đầu
tư, ưu đãi thuế theo kỳ hạn kinh doanh và ưu đãi thuế trong tái đầu tư), đa
dạng hoá các hình thức đầu tư và các chủ đầu tư, đặc biệt là giữa Hoa và
Hoa Kiều, mở rộng các lĩnh vực đầu tư.
Từ thực tế tình hình thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Trung Quốc trong
thời gian qua. Chúng ta có rút ra được một số bài học kinh nghiệm:
- Mở cửa thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài dần từng bước theo khu vực.
Thực hiện tư tưởng của Đặng Tiểu Bình, Trung Quốc đã thực hiện mở cửa dần
từng bước theo liệu pháp “ dò đá qua sông”, để trước khó sau, tiến dần từng bước,
giảm bớt rủi ro nên đã tránh được những va chạm xã hội lơn và sự phan hoá hai cực
quá nhanh như đã xảy ra ở Liên Xô cũ và các nước Đông Âu do thực hiện “liệu
pháp xốc”.
- Phương pháp thu hút công nghệ tiên tiến của nước ngoài.
Phương châm “ dùng thị trường đổi lấy công nghệ” của Trung Quốc là một
con dao hai lưỡi bởi lẽ với phương pháp này, trình độ kỹ thuật của Trung Quốc chỉ
tang một thời gian ngắn đã có những bước tiến đáng kể so với các nước đang phát
triển khác. Tuy nhiên, bên cạnh những mặt đạt được, Trung Quốc cũng đã gặp phải
những khó khăn hết sức to lớn. Điều đó đòi hỏi phải có chính sách, bước đi phù hợp
để phát huy tt mặt tích cực, hạn ché mặt tiêu cực trong thu hút vốn đầu tư trực tiếp
nước ngoài.
- Về quản lý hoạt động của các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước
ngoài.
Phát triển mạnh công nghiệp quốc gia trên cơ sở vừa hợp tác, vừa cạnh tranh
với các công ty xuyên quốc gia, làm tốt công tác kiểm tra, kiểm toán trong các
doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, phấn đấu từng tỷ lệ vốn góp của
đối tác thuộc quốc gia tiếp nhận đầu tư để hạn chế các thua thiệt trong đầu tư nước
ngoài.
- Nâng cao hiệu lực và hiệu quả của quản lý Nhà nước đối với hoạt động thu
hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài.
Để mở rộng thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, cần thiết phải có chính
sách ưu đãi đối với các nhà đầu tư nước ngoài, nhưng cần phải nghiên cứu để có
chính sách ưu dãi thích hợp nhằm tạo ra sự bình đẳng trong cạnh tranh giữa các
doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế, tránh gây thua thiệt cho các doanh
nghiệp trong nước.
Về cải cách thủ tục hành chính, Trung Quốc thực hiện chế độ phân cấp ra quyết
định đầu tư cho các tỉnh, thành phố, tạo điều kiện thuận lợi hơn cho các nhà đầu tư
về thời gian, chi phí trong việc làm các thủ tục xin đầu tư. Mặt trái của sự phân cấp
này là phát sinh mâu thuẫn giữa lợi ích địa phương và lợi ích quốc gia, tạo nên nạn
quan liêu trì trệ, hối lộ tham những trong hàng ngũ cán bộ làm công tác đầu tư. Vì
vậy, cần nâng cao vai trò hiệu lực và hiệu quả của Nhà nước trong việc kiểm tra,
kiểm soát, giám sát mọi hoạt động liên quan đến đầu tư nước ngoài.
II. THỰC TRẠNG THU HÚT FDI TRONG CÁC KCN TRÊN ĐỊA BÀN
THÀNH PHỐ HCM THỜI GIAN QUA.
1. Tình hình thu hút FDI trong các KCN thời gian qua.
Theo số liệu tổng kết của năm 2001 về đầu tư nước ngoài thì thành phố HCM
là địa bàn thu hút được vốn đầu tư nước ngoài cao nhất cả nước là 10,2 tỷ USD.
Trong đó các KCN đã có những đóng góp tích cực vào thành công trên
Sau 10 năm phát triển KCN và 5 năm phát triển KCN Tp. HCM đã đạt được
những thành tựu quan trọng về việc thu hút. Tính đến ngày 30.4.2002 các KCN Tp.
HCM đã thu hút được 617 dự án đầu tư (chỉ tính những dự án đầu tư còn hiệu lực
trong đó có 288 dự án có vốn đầu tư nước ngoài với tổng vốn đầu tư là 1.254 tỷ
USD. Vốn đầu tư bình quân mỗi dự án đầu tư nước ngoài đạt 4,35 triệu USD. Như
vậy, so với cùng kỳ năm 2001 vốn đầu tư bình quân mỗi dự án đầu tư nước ngoài
tăng 2,6%.
Trong tổng số các dự án đầu tư nước ngoài, riêng 2 khu Tân Thuận và Linh
Trung đã thu hút 169 dự án (chiếm 55,91% số lượng dự án đầu tư nước ngoài với
vốn đầu tư là 850 triệu USD chiếm 67,78% tổng số vốn của các dự án đầu tư nước
ngoài).
Các ngành thu hút vốn đầu tư nước ngoài nhiều nhất là ngành dệt may da dày;
vốn đầu tư là 270 triệu USD chiếm 28,53% tổng vốn đầu tư của các dự án đầu tư
nước ngoài. Ngành điện, điện tử vốn đầu tư 238 triệu USD chiếm 19% tổng vốn đầu
tư của các dự án đầu tư nước ngoài.
Riêng trong 4 tháng đầu năm 2002 các KCN Tp. HCM đã thu hút 54 dự án
đầu tư bao gồm 26 dự án đầu tư nước ngoài với tổng vốn đầu tư là 28,33 triệu USD.
Tỷ lệ lấp đầy của các KCN bình quân đạt 66,4%, khu công nghiệp Bình Chiểu
chiếm 100%, KCN Linh Trung 1: 100%, KCN Tân Trào 100%, KCN Tân Bình
61%, KCN Vĩnh Lộc 63%, KCN Lê Minh Xuân 68%, KCN Tân Hới Hiệp 98%,
KCN Hiệp Phước (giai đoạn1) 57%, KCN Linh Trung 2 70%, KCN Tân Thuận
100%
2. Đánh giá kết quả thu hút FDI vào các KCN thời gian qua.
2.1. Những thành tựu.
- Đầu tư nước ngoài đã góp phần bổ sung nguồn vốn quan trọng cho đầu tư
phát triển, tăng cường tiềm lực để khai thác và nâng cao hiệu quả sử dụng
các nguồn lực trong nước. Mặt khác đầu tư nước ngoài cũng đóng góp phần
quan trọng vào việc bù đắp thâm hụt cán cân vãng lai, cán cân thanh toán
quốc tế.
- Tỷ lệ đóng góp của FDI trong GDP liên tục tăng qua các năm.
- Nguồn thu ngân sách cũng liên tục tăng qua các năm.
- Kinh ngạch xuất khẩu tăng liên tục qua các năm. Tính đến 31.12.2001 đã
có 350 công ty đi vào hoạt động, sản xuất và nhiều hàng hoá có chất lượng
tốt xuất khẩu đi trên 80 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới. Tổng kim
gạch xuất khẩu từ khi thành lập đến nay đạt trên 3 tỷ USD. Riêng năm
2001 kim gạch xuất khẩu của các KCN thành phố đạt 880 triệu USD. Trong
đó 2 khu Tân Thuận và Linh trung đạt doanh số xuất khẩu 812,4 triệu USD,
chiếm 95,5 % doanh số xuất khẩu của các KCN thành phố HCM. Mức tăng
trưởng xuất khẩu năm 2001 đạt 9,6% so với năm 2000. Riêng trong 3 tháng
đầu năm 2002 kim gạch xuất khẩu đạt xấp xỉ 200 triệu USD.
- Góp phần hình thành một số ngành công nghiệp mới, có ý nghĩa quan trọng
đối với sự phát triển của nền kinh tế như chế biến dầu khí, sản xuất, lắp ráp
ôtô, sản phẩm điện tử.
- Góp phần giải quyết công ăn việc làm cho người lao động, tham gia phát
triển nguồn nhân lực.
Giải quyết công ăn việc làm cho khoảng 100.000 lao động trực tiếp làm việc
trong các doanh nghiệp KCX – KCN Tp. HCM và hàng ngàn lao động tham gia
phục vụ hoạt động của các KCX – KCN. Trong đó, riêng KCX Linh Trung1 dù diện
tích chỉ 62 ha, nhưng đã tạo công ăn việc làm cho hơn 46.000 lao động dẫn đầu về
giải quyết công ăn việc làm trong các KCX – KCN trong cả nước.
- Góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng CNH - HĐH để phát triển
lực lượng sản xuất
- Góp phần quan trọng vào việc hoàn chỉnh ngày càng đầy đủ và tốt hơn hệ
thống cơ sỏ hạ tầng đặc biệt là giao thông vận tai, bưu chính viễn thông,
năng lượng, …
2.2. Những hạn chế.
- Cơ cấu vốn đầu tư nước ngoài còn bất hợp lý do đó hiệu quả đầu tư nước
ngoài chưa cao.
+) Đầu tư mới chỉ hướng vào những ngành nghề có khả năng mạng lại lợi
nhuận nhanh. Số dự án đã đầu tư thì tỷ lệ thành công không nhiều do gặp rủi ro,
thiên tai, nguồn nguyên liệu không ổn định. Chủ trương đa phương hoá nguồn vốn
đầu tư nước ngoài vì thế chưa được thực hiện tốt.
+) Các khu Công Nghiệp được thành lập mục đích là để cho địa phương mình
cũng có KCN chứ chưa xuất phát từ nhu cầu của các nhà đầu tư hoặc có những địa
phương không phải là trung tâm kinh tế, không thuận tiện giao thông vận tải vẫn
thành lập KCN để chờ các nhà đầu tư nước ngoài mà quên đi các doanh nghiệp
trong nước đang gặp khó khăn. Tình trạng phổ biến là hình thành KCN để chờ nhà
đầu tư nước ngoài chứ không tìm hiểu chào mời các nhà đầu tư.
+) Vốn đầu từ nước ngoài từ các nước Châu á chiếm gần 70% trong khi vốn từ
các nước Tây âu, Bắc Mĩ, G7 trừ Nhật là quá thấp. Chính vì thế khi cuộc khủng
hoảng kinh tế khu vực xảy ra. Việt Nam đã phải chịu ảnh hưởng không tốt từ cuộc
khủng hoảng này làm cho tốc độ thu hút vốn đầu tư nước ngoài năm 1997 đến năm
2000 bị giảm đáng kể.
+) Hình thức liên doanh được khuyến khích đầu tư chiếm 50% số dự án và trên
66% tổng số vốn đầu tư đăng kí, nhưng chính doanh nghiệp liên doanh có tỉ lệ lỗ
vốn, giải thể nhiều nhất, mâu thuẫn giữa các bên liên doanh khá phổ biến.
- Hệ thống pháp luật, chính sách đang trong quá trình hoàn thiện nên thiếu tính
đồng bộ và ổn định chưa đảm bảo tính rõ ràng. Điều này thể hiện ở chổ
+) Tính ổn định của chính sách luật pháp không cao, thay đổi nhiều
Nhiều văn bản dưới luật ban hành chậm so với quy định. Một số văn bản
hướng dẫn của Bộ, Ngành, Địa phương có xu hướng xiết lại dẫn đến tình trạng trên
thoáng, dưới chặt.
+) Về việc cấp mới và vốn đầu tư thực hiện có xu hướng suy giảm một phần
do tác động của cuộc khủng hoảng tài chính khu vực nhưng mặt khác do môi trường
đầu tư còn nhiều hạn chế.
+) Công tác quản lý Nhà nước đối với đầu tư nước ngoài còn nhiều yếu kém,
vừa buông lỏng, vừa can thiệp sâu vào hoạt động của các doanh nghiệp. Việc quản
lý quá tập trung vào khâu cấp phép đầu tư buông lỏng, quản lý sau khi cấp giấy
phép. Sự phối hợp giữa các cơ quan quản lý Nhà nước thiếu chặt chẽ. Việc thực thi

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét