nói cách khácđó chính là phần giá trị tăng thêm so với phần vốn gốc mà
ngời cho vay thu đợc sau một thời gian nhất định.
Lãi suất tín dụng là một chỉ tiêu đặc biệt đánh giá mức độ
lợi tức coa hay thấp khác nhau.
3.Nguyên tắc xác định lãi suất
Những nguyên tắc xác định lãi suất hình thành theo cơ chế thị trờng:
3.1.Căn cứ vào quan hệ cung-cầu tiền vay:
- Cung tiền vay chịu tác động của các yếu tố:
+ Mức thu nhập:sự gia tăng thu nhập trong nền kinh tế sẽ làm tăng
các khoản tiền d thừa ngoài chi tiêu dẫn đến sự tăng lêncủa cung tiền vay
qua đó kéo lãi suất hạ xuống.
+ Mức lạm phát: sự gia tăng lạm phát làm cho giá trị thực tế của các
khoản tiền giảm xuống làm cho giá trị các khoản tiền thu về khi cho vay
giảm,cung tiền giảm , đảy lãi suất tăng lên.
+ Mức rủi ro của việc cho vay: khi mức rủi ro trong cho vay tăng
lên,làm giảm bớt việc cho vay,cung về tiền vay giảm đẩy lãi suất lên cao.
- Những yếu tố tác động đến cầu tiền vay:
+ Mức lợi tức dự tính của các cơ hội đầu t: Khi mức lợi tức này tăng
làm tăng nhu cầu về vốn đầu t,cầu tiền vay tăng đẩy lãi lên suất lên cao.
+Mức lạm phát: Sự gia tăng lạm phát làm giảm chi phí thực tế của
việc sử dụng tiền vay,cầu về tiền vay tăng đẩy lãi suất lên cao.
+Mức bội chi ngân sách nhà nớc: ngân sách nhà nớc bội chi làm
tăng cầu tiền vay dẫn đến lãi suất tăng.
Khi cung tiền vay nhỏ hơn cầu tiền vay thì lãi suất tăng và ngợc lại.Khi
cung tiền vay bằng cầu tiền vay thì lãi suất ổn định.
3.2.Căn cứ vào thời hạn cho vay:
5
Lãi suất Lãi suất Lãi suất
tín dụng < tín dụng < tín dụng
ngắn hạn trung hạn dài hạn
3.3.Căn cứ vào cơ chế lãi suất dơng:
Tỷ lệ Lãi suất Lãi suất
Tỷ suất
lạm phát < huy động < cho vay lợi
nhuận bình quân vốn bình quân bình quân
bình quân.
4.Các loại lãi suất tín dụng:
Trên thị trờng vốn ở các nớc ,thông thờng có các loại lãi suất sau đây:
4.1. Lãi suất cơ bản:Là lãi suất do NHTƯ công bố làm cơ sở cho các
ngân hàng thơng mại và các tổ chức ấn định lãi suất kinh doanh.
4.2. Lãi suất sàn và lãi suất trần: là lãi suất thấp nhất và cao nhất trong
một khung lãi suất nào đó,mà NHTƯ ấn định cho các NHTM, hoặc do
các NHTM qui định trong hệ thống của nó,nhằm thống nhất các hoạt
động trong nền kinh tế quốc dân.
4.3. Lãi suất tái chiết khấu:là lãi suất cho vay ngắn hạn mà NHTƯ
dành cho các NHTM,trong trờng hợp cấp vốn cho chúng thông qua
nghiệp vụ tái chiết khấu thơng phiếu và giấy tờ có giá.Lãi suất tái chiết
khấu là lãi suất của các NHTM đẻ từ đó chúng ấn định lãi suất chiết khấu
và lãi suất cho vay khác trong khung lãi suất đợc phép.
4.4.Lãi suất tái cấp vốn: Là lãi suất do NHTƯ áp dụng khi tái cấp vốn.
4.5.Lãi suất danh nghĩa: là lãi suất mà ngời cho vay đợc hởng,không
tính đến sự biến động của giá trị tiền tệ
6
4.6.Lãi suất thực:Là lãi suất sau khi đã loại trừ sự biến động của giá trị
tiền tệ ,nh lạm phát hoặc lên giá tiền tệ.
4.7. Lãi suất trên thị trờng tiền tệ liên ngân hàng:là lãi suất mua bán
vốn giữa các NHTM do NHTƯ điều hành và ấn định.
Các loại lãi suất tín dụng đợc hình thành một cách đa dạng trong nền
kinh tế thị trờng.Đại bộ phận chúng đều do NHTƯ kiểm soát và khống
chế.Xu hớng chung sẽ tiến tới một lãi suất phổ thông đơn giản.Hiện nay,ở
các nớc chậm phát triển lãi suất tín dụng còn cao.Còn ở các nớc có nền
kinh tế phát triển lãi suất thờng hạ.Ngày nay do sự hội nhập kinh tế giữa
các quốc gia,cho nên mặt bằng lãi suất có cơ hội đợc thiết lập giữa nhiều
nớc trong khu vực và nhiều nớc trên thế giới.
7
5.Các yếu tố ảnh hởng đến lãi suất tín dụng:
5.1.Cung và cầu về tiền vay
Nh phần trên đã đè cập,cung-cầu tiền vay có ảnh hởng đến sự biến động
lãi suất
5.2.Mức độ rủi ro trong việc hoàn trả vốn:
Khi mức độ rủi ro càng cao thì ngời ta sẽ tính lãi suất càng cao và ngợc
lại.do vậy,tuỳ theo điều kiện đảm bảo và mức độ bảo toàn vốn vay của
các khoản tiền vay mà lãi suất có thể cao hay thấp.
5.3.Số lợng vay và thời hạn vay:
Thông thờng số lợng lớn và thời hạn vay dài sẽ đợc tính lãi suất cao hơn
số lợng nhỏ và thời hạn ngắn vì mức độ rủi ro thờng cao hơn.
5.4.Mức sinh lời của nền kinh tế:
Mức lãi suất cho vay chỉ đợc chấp nhận khi nó nhỏ hơn mức sinh lời của
nền kinh tế đẻ đảm bảo cho ngời vay có lãi khi sử dụng vốn trong quá
trình sản suất kinh doanh.Mức sinh lời cao thì lãi suất sẽ cao và ngợc lại.
5.5 Thu - chi ngân sách:
Khi ngân sách nhà nớc bội chi,chính phủ bù đắp bội chi bằng cách phát
hành và bán tín phiếu,trái phiếu chính phủ,làm tăng nhu cầu vay tiền và
tăng lãi suất.
Ngợc lại khi ngân sách bội thu sẽ tăng mức cung của quỹ cho vay làm
cho lãi suất giảm.
5.6.Chi phí hoạt động ngân hàng:
Vì lãi suất cho vay = lãi suất huy động + chi phí hoạt động ngân hàng.
Do đó chi phí hoạt động ngân hàng cao sẽ đẩy lãi suất tăng và chi phí
hoạt động giảm sẽ làm lãi suất giảm.
8
Nh vậy để duy trì mức lãi suất vừa phải ,thúc đẩy nhu cầu vay vốn thì
các ngân hàng cần tích cực giảm chi phí hoạt động cũng nh thu hẹp các
bộ phận cán bộ d thừa hay cán bộ kém năng lực,tiết kiệm chi phí để giảm
lãi suất cho vay.
5.7.Lạm phát:
Khi lạm phát cao thì ngời cho vay sẽ không muốn cho vay,cung tiền vay
giảm xuống trong khi cầu tiền vay tăng lên (do chi phí cho khoản vay
giảm đi) đẩy lãi suất tăng cao.
Lãi suất tín dụng chịu tác động của rất nhiều yếu tố cho nên để xây
dựng một chính sách lãi suất hợp lý,các nhà quản lý,các cơ quan chức
năng có liên quan phải có một cách nhìn nhận tổng hợp sát thực để có
những quyết định đúng đắn đem lại lợi ích cho ngời đi vay cũng nh đảm
bảo quyền lợi của ngời cho vay, bảo toàn đồng vốn và đảm bảo cho các
NHTM ,tổ chức tín dụng kinh doanh có lãi và cao hơn nữa là ổn định giá
trị đồng tiền,thúc đẩy tăng trởng kinh tế.
6.ý nghĩa của lãi suất tín dụng trong nền kinh tế thị trờng
Lãi suất tín dụng là một trong những đòn bẩy kinh tế quan trọng của nền
kinh tế thị trờng .Nó tác động đến tất cả các doanh nghiệp có sử dụng vốn
tín dụng nói riêng và do đó đến tất cả các lĩnh vực của nền kinh tế quốc
dân nói chung .tác dụng của lãi suất đợc thể hiện ở những nội dung sau
đây:
6.1.Lãi suất tín dụng là công cụ điều tiết kinh tế vĩ mô:
Tăng hay giảm lãi suất cho vay,sẽ làm vốn của doanh nghiệp giảm
xuống hay tăng lên.Nh vậy quyết định đến việc thu hẹp hay mở rộng sản
suất.Tình trạng này sẽ dẫn đến số lợng công việc làm trong xã hội tăng
lên hay giảm xuống.Điều đó có nghĩa rằng,lãi suất tín dụng đã có ảnh h-
ởng trực tiếp đến việc giải quyết tình trạng thất nghiệp trong xã hội
9
Mặt khác, tăng hay giảm lãi suất tiền gửi,đặc biệt là lãi suất tái chiết
khấu sẽ có ảnh hởng trực tiếp đến số lợng ngoại tệ đi vào trong nớc .do đó
sẽ ảnh hởng đén cung cầu ngoại tệ dẫn đến sự thay đổi tỷ giá và quan hệ
xuất nhập khẩu trong từng thời kỳ.
Nh vậy,có thể khẳng định lãi suất là công cụ điều tiết kinh tế vĩ mô.
6.2.Lãi suất tín dụng là công cụ điều chỉnh kinh tế vi mô.
Trong nền kinh tế,thờng xảy ra những đột biến ở từng khu vực hay
trong toàn bộ nền kinh tế quốc dân do những nguyên nhân không lờng tr-
ớc đợc. khi xảy ra những hiện tợng nh vậy chính phủ thờng sử dụng
nhữnh công cụ kinh tế trong đó có lãi suất tín dụng để điều chỉnh lại
những quan hệ tạo điều kiện cho kinh tế khu vực,ngành hay toàn bộ nền
kinh tế phát triển .Chẳng hạn,trong điều kiện lạm phát,chính phủ có thể
tăng lãi suất tiền gửi để rút bớt tiền trong lu thông về, hoặc có thể áp dụng
mức lãi suất khác nhau giữa các khu vực , để điều hoà lu thông tạo mặt
bằng giá cả hợp lý, đảm bảo cho sản suất và lu thông hàng hoá phát triển.
Là công cụ điều chỉnh kinh tế vi mô, lãi suất tín dụng phải đợc xử lý kịp
thời và chính xác. Điều đó đòi hỏi hệ thống ngân hàng phải nắm vững
thông tin kinh tế, biết xử lý thông tin, để có những quyết định chính xác
trong việc thực hiện chính sách lãi suất.
6.3. Lãi suất tín dụng là công cụ khuyến khích cạnh tranh giữa các
ngân hàng thơng mại
Trong khung lãi suất cho phép, để tăng khối lợng nguồn vốn huy động
đồng thời để mở rộng quan hệ tín dụng với khách hàng, các NHTM có
thể nâng lãi suất tiền gửi và hạ lãi suất cho vay . Đây chính là hoạt động
cạnh tranh giữa các ngân hàng thơng mại. Thực chất của quá trình này là
10
phân chia khối lợng tiền gửi và mở rộng phạm vi ảnh hởng của ngaan
hàng ra thị trờng. Để đảm bảo cạnh tranh thắng lợi, mỗi ngân hàng thơng
mại đều có chiến lợc khách hàng của mình.Chiến lợc này đợc thực hiện
bằng lãi suất u đãi. Muốn vậy các ngân hàng thơng mại đều tìm mọi biện
pháp giảm thấp chi phí kinh doanh và chi phí quản lý. Sự cạnh tranh lành
mạnh giữa các NHTM sẽ tạo ra lợi ích kinh tế chung cho toàn bộ nền
kinh tế quốc dân.
6.4.Lãi suất tín dụng là công cụ khuyến khích tiết kiệm và đầu t.
Theo lý thuyết tài chính, chúng ta có thể đa ra một phơng trình đơn giản
về thu nhập.
Thu nhập = Tiêu dùng + Tiết kiệm
Phơng trình này không những đúng với đặc điểm tài chính của các hộ
gia đình, các doanh nghiệp mà cả đói với nền tài chính quốc gia. Giả sử ,
trong điều kiện của mộy nền kinh tế bình thờng, tỷ lệ giữa tiêu dùng và
tiết kiệm là hợp lý. Để tăng tỷ lệ tiết kiệm,khuyến đầu t,tức là tăng khả
năng tài chính cho toàn bộ nền kinh tế quốc dân,thì biện pháp có hiệu quả
nhất là tăng lãi suất huy động vốn. Khi lãi suất huy động vốn tăng lên, thì
trớc hết các hộ gia đình phải xem xét lại các khoản chi cho tiêu dùng th-
ờng xuyên,có thể giảm chi hoặc hoãn một số khoản chi này , để tăng
thêm tỷ lệ tiết kiệm trong tổng thu nhạp. Sau đó từ khoản tiết kiệm này,
họ sẽ chọn hớng đầu t : Gửi vào ngân hàng , vào quĩ bảo hiểm , hay đầu
t vào thị trờng chứng khoán khi thấy có lợi hơn.
Nh vậy có thể khẳng định lãi suất là công cụ can thiệp có hiệu lực
để phân chia giữa quỹ tiêu dùng và tiết kiệm.Nhng nâng lãi suất huy động
vốn đến mức độ nào,thì cần phải cân nhắc thận trọng để đảm bảo sự phát
triển hài hoà của nền kinh tế quốc dân.
11
II. Thực trạng lãi suất tín dụng ở Việt Nam - u nh-
ợc điểm & tác dụng đối với việc phát triển kinh
tế - xã hội
1.Thực trạng về lãi suất tín dụng của Việt nam
Kể từ năm 1998 đến naylà giai đoạn chuyển biến chung của nền
kinh tế từ kế hoạch cứng nhắc sang cơ chế thị trờng có sự quản lý của nhà
nớc, theo định hớng xã hội chủ nghĩa cơ chế lãi suất đã đợc ngân hàng
nghiên cứu sử dụng nh một công cụ quan trọng nhất, dể tác động đến quá
trình huy động vốn và cho vay có hiệu quả.Chính sách lãi suất đã đợc
thay đổi rất cơ bản: lãi suất tiết kiệm cao hơn tốc độ trợt giá ; nâng lãi
suất tiền gửi và lãi suất tiền vay của các tổ chức kinh tế gần với lãi suất
huy động tiết kiệm.
Lãi suất huy động vốn từ tháng 04/1989 - 06/1989 đối với loại
tiết kiệm có kỳ hạn là 12 % / tháng, không kỳ hạn là 9% / tháng. lãi suất
huy động chứng chỉ tiền gửi của các ngân hàng và hợp tác xã tín dụng,
của các tổ chức kinh tế là 13 - 14% / tháng.với sự hấp dẫn đặc biệt của
mức lãi suất trên, các tổ chức kinh tế và các tầng lớp dân c đã ồ ạt kéo
đến gửi tiền vào ngân hàng. các NHTM ,các trung tâm tín dụng đã huy
động đợc nguồn vốn to lớn ,đẫ góp phần chặn đứng cơn sốt lạm phát cao
từ mức 14,2% / tháng xuống còn 2,9% / tháng năm 1989 . thậm chí chỉ số
lạm phát tháng 05/1989 xuống còn - 0,2% ; tháng 06/1989 xuống còn -
2,9% ; tháng 07/ xuống còn - 2,5% / tháng.
Có thể nói đây là bài học thành công về góc độ sử dụng lãi
suất huy động vốn để kiềm chế lạm phát. Song ảnht hởng của chính sách
lãi suất đối với nền kinh tế và bản thân ngân hàng nh thế nào?
1.1Giai đoạn từ 1981 tới 1990
12
Thời kỳ 1981 - 1991 nớc ta lâm vào cuộc khủng hoảng trì trệ về
kinh tế nghiêm trọng nhất có nguy cơ dẫn đến mất ổn định về chính trị xã
hội.Trong giai đoạn này cần phải mở rộng đầu t là biện pháp hữu hiệu
nhất để chống đình trệ, để phục hồi và phát triển nền kinh tế thoát ra khỏi
cơn khủng hoảng.Nhng trên thực tế, vì liều thuốc lãi suất huy động vốn
quá cao để chống lạm phát nhằm ổn dịnh tiền tệ chúng ta đã bị thất bại
trong chính sách đầu t không những tăng mà còn giảm sút nghiêm trọng
do lãi suất huy động vốn quá cao và chậm đợc điều chỉnh so với hệ số
lạm phát, thực tế không có sản suất kinh doanh gì lãi bằng gửi tiền vào
ngân hàng, nên ngời ta không bỏ vốn vào sản suất kinh doanh, thậm chí
còn bán cả tài sản cố định đi để gửi vào ngân hàng . Các ngân hàng đã
huy động đợc nguồn vốn rất lớn với đầu vào rất cao ( 12 - 15% / tháng ).
Với lãi suất cho vay này, không một nhà sản suất kinh doanh chân chính
nào có thể chịu đựng nổi nên họ không dám vay ngân hàng. Để giải
phóng nguồn vốn, chống thua lỗ, ngân hàng phải cho vay bằng mọi giá.
Kết quả là những ngời buôn gian bán lận hàng ngoại, những ngời vay tiền
ngân hàng để chơi đề , chơi hụi, gửi vào các trung tâm tín dụng, gửi vào
các trung tâm lừa đảo nh nớc hoa thanh hơng, đại thành, xacogiva Hậu
quả là nguồn vốn ngân hàng không đi vào sản suất - kinh doanh mà để
vào các sòng bạc, khi đến hạn phần lớn ngời vay không trả đợc nợ, hệ
thống hợp tác xã tín dụng bị phá sản, các tổ chức huy động vốn vỡ nợ
ngân hàng thơng mại thực chất đã bị phá sản nếu không đợc nhà nóc
khoanh nợ hàng ngàn tỷ đồng đến nay vẫn không thu hồi đợc. Mãi đến
hiện nay cha ai tính đợc hiệu quả của chống lạm phát và mức thiệt hại to
lớn của nền kinh tế do chính sách lãi suất siêu thực tế trong giai đoạn
1989 - 1990.
1.2. Giai đoạn từ 1990 tới 1993.
13
Từ khi có pháp lệnh ngân hàng 05/ 1990, chính sách lãi suất liên ngân
hàng dợc đổi mới thêm một bớc quan trọng. Cơ chế lãi suất tiến dần với
lãi suất bình quân dơng, bảo toàn đợc vốn cho cả ngời gửi và ngời vay. Cơ
cấu lãi suất bao gồm: Lãi suất huy động vốn gồm lãi suất cơ bản ( lãi suất
thực) và chỉ số giá cả của thị trờng xã hội, lãi suất cho vay bình quân
bằng lãi suất huy động vốn bình quân cộng thêm tỷ lệ chi phí và lãi hợp
lý cho ngành ngân hàng. lãi suất đợc điều chỉnh lại hàng tháng hàng quí
theo sự thay đổi của chỉ số giá cả thị trờng xã hội. Thủ tớng chính phủ
quyết định khung lãi suất cơ bản và giá cả thị trờng. Trong phạm vi
khung lãi suất đó, thống đốc ngân hàng nhà nớc đợc công bố mức lãi suất
cụ thể. Mức lãi suât cho vay đợc điều chỉnh dần hớng tới áp dụng thống
nhất cho các thành phần kinh tế, giảm dàn số lợng quá nhiều mức lãi suất
cho vay nh thời kỳ trớc .
Kết quả thực tiễn cho thấy rằng : Chính sách lãi suất mới đã khuyến khích
đợc gửi tiền yên tâm hơn do không sợ giá trị đồng tiền mất đi do trợt giá,
mà còn có lãi, nhời ta thấy gửi tiền vào ngân hàng có lợi hơn nhiều so với
mua vàng. chính vì vậy nguồn vốn huy động của các ngân hàng thơng
mại tăng lên coa và ổn định. Chỉ riêng lĩnh vực ngân hàng công thơng
nhuồn vốn huy đọng năm 1991 là 2.828 tỷ tăng hơn năm 1990 là 0,8 tỷ ;
năm 1992 là 4.126 tỷ tăng hơn so với năm 1991 là 1.300 tỷ ; sáu tháng
đầu năm 1993 4.341 tỷ tăng hơn đầu năm 0,125 tỷ.
Đứng trên tổng thể toàn nghành, lãi suất cho vay đã thoát khỏi tình
trạng lãi suất âm, tác động tích cực buộc ngời vay phải sử dụng đúng mục
đích và có hiệu quả kinh tế . D nợ tín dụng đợc mở rộng và tăng lên đáng
kể, chất lợng tín dụng cao hơn trớc , nợ quá hạn từ 25% giảm xuống dới
10% năm . Hệ thống ngân hàng chuyên doanh đã trở nên năng động hơn
trong kinh doanh, tình trạng thua lỗ từng bớc đợc khắc phục, nhiều ngân
hàng đã bắt đầu kinh doanh có lãi thực.
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét