Chuyên đề thực tập chuyên ngành Nguyễn Thị Như Quỳnh - Kế toán 47C
Công ty có ngành nghề kinh doanh chủ yếu là:
- Sản xuất bánh kẹo, chocolate, gia vị, bánh mỳ và chế biến các loại
thực phẩm khác; sản xuất nước uống có cồn, không cồn.
- Sản xuất, in ấn các loại bao bì thực phẩm; kinh doanh các loại
nguyên vật liệu phục vụ sản xuất của Công ty.
- Dịch vụ thương mại tổng hợp, cho thuê văn phòng nhà xưởng.
- Tư vấn chuyển giao công nghệ trong ngành chế biến thực phẩm.
- Xuất, nhập khẩu các mặt hàng bánh kẹo, gia vị, nguyên liệu thực
phẩm chế biến.
Dưới đây là một số chỉ tiêu tài chính của Công ty trong hai năm vừa
qua:
Biểu 01: Bảng tổng hợp các chỉ tiêu kinh tế chủ yếu tại Công ty Cổ phần
Bánh kẹo Hải Châu qua các năm
( Trích báo cáo tài chính các năm)
Đơn vị tính: triệu đồng
Chênh lệch CN/ ĐN
TT Chỉ tiêu Năm 2006 Năm 2007 Số tiền Tỷ lệ %
1. Doanh thu bán hàng 208.671 213.489 4.818 2,31
2. Các khoản giảm trừ DT 433 409 -24 -5,59
3. Doanh thu thuần bán hàng 208.238 213.080 4.842 2,33
4. Giá vốn hàng bán 188.727 192.679 3.952 2,09
5. Lợi nhuận gộp bán hàng 19.511 20.401 890 4,56
6. Tổng lợi nhuận trước thuế 3.610 4.524 914 25,32
7. Thuế TNDN 0 634 634
8. Lợi nhuận sau thuế 3.610 3.890 280 7,76
9. Thu nhập bình quân 1,45 1,55 0,1 6,89
Qua bảng trên ta thấy tình hình kinh doanh của Công ty trong những
năm gần đây là khả quan. Doanh thu thuần của Công ty năm 2007 cũng tăng
so với năm 2006 là 4.842 triệu đồng, ứng với 2,33%. Công ty đã đăng ký
Giáo viên hướng dẫn: PGS. TS. Nguyễn Văn Công
5
Chuyên đề thực tập chuyên ngành Nguyễn Thị Như Quỳnh - Kế toán 47C
mức miễn giảm và thời gian miễn giảm thuế thu nhập doanh nghiệp với Cục
thuế TP Hà Nội, theo đó Công ty được miễn thuế năm 2006 và giảm 50%
thuế thu nhập doanh nghiệp trong 3 năm tiếp theo.
1.1.2. Đặc điểm tổ chức bộ máy quản lý hoạt động kinh doanh
Do đặc thù về loại hình kinh doanh, quy mô sản xuất và đặc biệt để
quản lý tốt hoạt động kinh doanh, Công ty sử dụng hình thức quản lý trực
tuyến chức năng. Hình thức quản lý này đã tận dụng được ưu điểm và khắc
phục được những nhược điểm của cả hai hình thức trực tuyến và chức năng.
Đứng đầu là Hội đồng quản trị: do Đại hội đồng cổ đông bầu ra và
bổ nhiệm, Hội đồng quản trị có toàn quyền nhân danh Công ty để quyết định
theo thẩm quyền các vấn đề có liên quan đến quyền lợi của Công ty, phù
hợp với pháp luật Việt nam.
Tổng giám đốc là Ông Nguyễn Đình Khiêm có nhiệm vụ điều hành
mọi hoạt động của Công ty, đồng thời là người chịu trách nhiệm, đại diện
quyền lợi và nghĩa vụ của Công ty trước cơ quan quản lý cấp trên và trước
pháp luật. Giúp việc cho Tổng giám đốc là hai Phó tổng giám đốc.
Phó tổng giám đốc kinh doanh: là Bà Phạm Thị Mai Hương. Bà
giúp Tổng giám đốc phụ trách các công việc cụ thể về kinh doanh, tiêu thụ
sản phẩm, công tác hành chính quản trị.
Phó tổng giám đốc kỹ thuật: là Bà Hồ Thị Thanh Thủy. Bà giúp
Tổng giám đốc phụ trách các công tác kỹ thuật, công tác bồi dưỡng và nâng
cao trình độ công nhân, điều hành kế hoạch tác nghiệp của các phân xưởng.
Chịu trách nhiệm trước Tổng giám đốc và pháp luật về nhiệm vụ được phân
công, uỷ quyền.
Trong Công ty còn có sáu phòng ban chức năng, bao gồm:
Phòng Tổ chức: Tham mưu cho Tổng giám đốc về tổ chức cán bộ,
tổ chức bộ máy quản lý các xí nghiệp; điều động, phân bổ, sắp xếp tuyển
Giáo viên hướng dẫn: PGS. TS. Nguyễn Văn Công
6
Chuyên đề thực tập chuyên ngành Nguyễn Thị Như Quỳnh - Kế toán 47C
dụng lao động theo yêu cầu sản xuất kinh doanh của Công ty, thực hiện
tuyển dung, ký kết hợp đồng lao động với người lao động
Phòng Kỹ thuật: Quản lý về kỹ thuật nhằm đảm bảo và nâng cao
chất lượng sản phẩm, xây dựng kế hoạch bảo dưỡng, sửa chữa thiết bị,
thường xuyên đào tạo , nâng cao tay nghề cho các cán bộ.
Phòng Kế toán - tài vụ : Tham mưu cho Tổng giám đốc mặt thống
kê và tài chính. Chịu trách nhiệm ghi chép, hạch toán quá trình sản xuất kinh
doanh theo đúng chế độ, quy định của Bộ tài chính. Ngoài ra, còn có nhiệm
vụ khai thác nhằm đảm bảo đủ nguồn vốn cho sản xuất kinh doanh, phân
phối thu nhập, thực hiện nghĩa vụ với Ngân sách Nhà nước.
Phòng Hành chính bảo vệ: Giúp Tổng giám đốc về công tác hành
chính quản trị, bảo đảm những điều kiện cần thiết cho hoạt động quản lý,
sinh hoạt của Công ty, sắp xếp nơi làm việc, hội họp, học tập và các hoạt
động đối nội, đối ngoại của Công ty.
Phòng Kinh doanh thị trường: tham mưu cho Tổng giám đốc trong
các lĩnh vực sau: Nghiên cứu, dự đoán sự phát triển của thị trường nội địa.
Là người đề ra các giải pháp, xây dung kế hoạch sản xuất, tiêu thụ sản phẩm
nội địa và các sản phẩm xuất khẩu.
Ngoài ra, Công ty có bảy chi nhánh ở khắp các tỉnh thành trên cả
nước, năm xí nghiệp sản xuất, một phân xưởng phụ đó là phân xưởng cơ
điện: có nhiệm vụ sửa chữa, bảo dưỡng máy móc của 6 phân xưởng sản xuất
chính. Toàn bộ các chi phí phát sinh của phân xưởng cơ điện như chi phí
nhân công , nguyên vật liệu, công cụ dụng cụ… dùng để sửa chữa máy móc
thiết bị phân xưởng sản xuất chính được hạch toán vào TK 627 chung cho
các phân xưởng.
Bộ máy quản lý của Công ty được khái quát bằng sơ đồ sau:
Sơ đồ 01: Tổ chức Bộ máy quản lý của Công ty Cổ phần Bánh kẹo
Hải Châu:
Giáo viên hướng dẫn: PGS. TS. Nguyễn Văn Công
7
Phòng
Tổ chức
Phòng
Hành
chính -
bảo vệ
Đại hội đồng cổ
đông
Hội đồng quản trị
Phòng
KD - thị
trường
Tổng giám đốc
Phòng
Kế
hoạch
vật tư
Phòng
Kế toán -
tài vụ
Phòng
Kỹ thuật
Ban kiểm soát
Chi
nhánh
Hà
Nam
Xí
nghiệp
bánh cao
cấp
Chi
nhánh
Hải
Dương
Xí
nghiệp
bánh
kem xốp
Xí
nghiệp
kẹo
Chi
nhánh
Hà Nội
Chi
nhánh
Nghệ
An
Xí
nghiệp
gia vị
thực
phẩm
Chi
nhánh
TP Hồ
Chí
Minh
Chi
nhánh
Đà
Nẵng
Chi
nhánh
Việt
Trì
Phó tổng giám đốc
Kinh doanh
Phó tổng giám
đốc Kỹ thuật
Xí
nghiệp
bánh
mỳ
Chuyên đề thực tập chuyên ngành Nguyễn Thị Như Quỳnh - Kế toán 47C
1.1.3. Đặc điểm quy trình công nghệ sản xuất
Công ty Cổ phần Bánh kẹo Hải Châu thuộc loại hình doanh nghiệp
công nghiệp sản xuất, thực hiện hoạt động sản xuất chế biến thực phẩm. Với
Giáo viên hướng dẫn: PGS. TS. Nguyễn Văn Công
8
Chuyên đề thực tập chuyên ngành Nguyễn Thị Như Quỳnh - Kế toán 47C
nguyên liệu chính được sử dụng là các loại nông sản như: bột mì, đường,
sữa, tinh dầu các loại,… các sản phẩm của Công ty là các loại thực phẩm
khô được đóng gói theo các mẫu mã nhất định. Do đó, tổ chức sản xuất sản
phẩm của Công ty là công nghệ sản xuất chuyên môn hoá theo dây chuyền.
Hiện nay, với 8 dây chuyền thiết bị hiện đại nhất của Cộng hòa Liên Bang
Đức, Trung Quốc, Hà Lan, Đài Loan, Công ty đã sản xuất ra trên 100
chủng loại mặt hàng bao gồm các loại: bánh quy, kem xốp, bột canh, lương
khô tổng hợp, kẹo cứng, kẹo mềm, bánh mỳ,…. Quá trình sản xuất ở các
dây chuyền này đều là sản xuất hàng loạt, chu kỳ sản xuất ngắn, , sản lượng
ổn định, sản phẩm dở dang gần như không có. Các dây chuyền sản xuất của
Công ty đều có những đặc trưng riêng biệt. Dưới đây là quy trình công nghệ
một số sản phẩm chủ yếu:
Quy trình sản xuất bột canh
Bột canh Hải Châu là sản phẩm bột canh được tiêu thụ nhiều nhất
trên thị trường. Đây là thương hiệu đã được khẳng định nhiều năm trên thị
trường. Sản phẩm cũng lả một trong những thế mạnh của Công ty Cổ phần
Bánh kẹo Hải Châu. Có được điều đó là do Công ty đã có được công nghệ
sản xuất hợp lý làm chất lượng sản phẩm được nâng cao.
Quy trình sản xuất Bột canh Hải Châu gồm các bước cơ bản sau: Đầu
tiên là khâu Rang muối, xay hạt tiêu, mỳ chính. Những nguyên liệu này phải
được rang, xay ở một tiêu chuẩn nhất định. Sau đó, chúng được cân lên với
một trọng lượng, tỷ lệ quy định và trộn đều với nhau. Tiếp đó, sẽ được đóng
gói thành sản phẩm bột canh.
Quy trình trên được khái quát bằng sơ đồ sau:
Sơ đồ 02: Quy trình công nghệ sản xuất bột canh
Giáo viên hướng dẫn: PGS. TS. Nguyễn Văn Công
9
Rang muối
Xay hạt tiêu
Mỳ chính
Cân
nguyên
liệu và
pha trộn
đều
Bao
gói
Nhập
kho
thành
phẩm
Chuyên đề thực tập chuyên ngành Nguyễn Thị Như Quỳnh - Kế toán 47C
Quy trình công nghệ sản xuất kẹo :
Sản phẩm kẹo của Công ty được sản xuất với quy trình công nghệ cao
bằng dây chuyền sản xuất hiện đại gồm các bước như sau:
Bước 1: Hoà đường
Trong bước này, đường, nha và nước được đưa vào với một tỷ lệ nhất
định, hoà tan hoàn toàn với nhau thành dung dịch đồng nhất ở nhiệt độ từ
90
0
C đến 110
0
C.
Bước 2: Nấu
Đây là bước thực hiện quá trình cô đặc dịch kẹo sau khi đã được hoà
tan. Dung dịch này được cho vào nồi nấu. Thông thường, kẹo cứng được
nấu ở nhiệt độ từ 130
0
C đến 154
0
C.
Bước 3: Làm nguội
Sau khi qua bước nấu, dung dịch kẹo lỏng đã quánh lại và được đổ ra
bàn làm nguội. Khi nhiệt độ xuống còn 70
0
C, tuỳ từng loại kẹo người ta cho
thêm hương liệu vào như bột cam, tinh dầu dứa, chocolate, khoai môn,…
vào hỗn hợp. Đến một nhiệt độ thích hợp, đảm bảo khi đưa vào khâu định
hình kẹo không bị dính, người ta chuyển sang bước tiếp theo.
Bước 4: Tạo hình
Bước tạo hình này gồm có nhiều khâu: qua máy lăn côn, máy vuốt,
tạo nhân và bơm nhân (nếu là kẹo có nhân), sàng và làm nguội.
Khi chuyển từ bàn làm nguội vào máy lăn côn, các mảng kẹo sẽ được
trộn đều lại một lần nữa. Máy vuốt kẹo sẽ vuốt các mảng kẹo thành những
dải dài. Sau đó, những dải kẹo này sẽ được đưa sang máy dập hình để cắt
Giáo viên hướng dẫn: PGS. TS. Nguyễn Văn Công
10
Chuyên đề thực tập chuyên ngành Nguyễn Thị Như Quỳnh - Kế toán 47C
theo những khuôn mẫu nhất định sẵn. Tiếp đó, những viên kẹo sẽ rơi xuống
những tấm sàng và được làm nguội nhanh xuống nhiệt độ 40
o
C - 50
o
C, đảm
bảo cho kẹo ở trạng thái cứng, giòn, không bị biến dạng khi đóng gói.
Ở khâu dập hình viên kẹo, phần kẹo thừa sẽ được đưa ngay vào nồi
kẹo khác để nấu lại và thực hiện các bước như cũ.
Bước 5: Đóng gói
Bước này gồm các khâu sau: gói kẹo, đóng gói, đóng thùng để đem
tiêu thụ. Việc gói kẹo, đóng gói được thực hiện trên máy móc. Sau đó, sẽ
được đóng gói và đóng thùng.
Trong năm bước trên, ba bước đầu không những đóng vai trò quan
trọng trong việc xác định loại kẹo sản xuất mà còn ảnh hưởng rất lớn đến
chất lượng kẹo sản xuất ra. Vì vậy, Công ty đã yêu cầu Bộ phận quản đốc xí
nghiệp đó kiểm tra chất lượng sản phẩm ở những bước này thật chặt chẽ và
kỹ lưỡng.
Quy trình sản xuất kẹo của Công ty được khái quát bằng sơ đồ sau:
Sơ đồ 03: Quy trình công nghệ sản xuất kẹo
Giáo viên hướng dẫn: PGS. TS. Nguyễn Văn Công
11
Hoà đường Nấu Làm nguội
Máy lăn côn
Vuốt kẹo
Dập hình
Sàng làm lạnhTạo nhân Bơm nhân
Máy gói Gói tay
Đóng túi
Chuyên đề thực tập chuyên ngành Nguyễn Thị Như Quỳnh - Kế toán 47C
Để có được quy trình công nghệ sản xuất hợp lý như hiện nay, Công
ty đã phải trải qua một thời gian dài nghiên cứu, cải tiến và tiếp thu những
thành tựu khoa học kỹ thuật, công nghệ tiên tiến. Quá trình này đòi hỏi
nhiều kinh phí nghiên cứu, đầu tư ban đầu và chất xám của đội ngũ cán bộ,
công nhân viên trong Công ty.
1.2. Đặc điểm tổ chức bộ máy kế toán và bộ sổ kế toán tại Công ty Cổ
phần Bánh kẹo Hải Châu
1.2.1. Đặc điểm tổ chức bộ máy kế toán
Giáo viên hướng dẫn: PGS. TS. Nguyễn Văn Công
12
Chuyên đề thực tập chuyên ngành Nguyễn Thị Như Quỳnh - Kế toán 47C
Bộ máy công tác kế toán của Công ty được tổ chức theo từng lĩnh vực
theo mô hình trực tuyến, chức năng. Cách thức tổ chức bộ máy kế toán trong
Công ty phù hợp với quy mô doanh nghiệp, loại hình sản xuất với địa bàn
quản lý tập trung. Điều đó giúp cho lãnh đạo Công ty có thể nắm bắt được
chính xác kịp thời toàn bộ thông tin. Cơ sở để xây dựng bộ máy kế toán
cũng như hình thành bộ máy nhân sự của Phòng kế toán - tài vụ là các phần
hành kế toán.
Đứng đầu là Kế toán trưởng: Bà Phạm Thị Mai Hương, tốt nghiệp
Học viện Tài chính năm 1982, khoa Kế toán, chuyên ngành Kế toán doanh
nghiệp, hệ Chính quy. Bà đã có kinh nghiệm công tác trong vai trò kế toán
26 năm. Bà đã học qua các lớp bồi dưỡng chính trị…. Hiện bà là kế toán
trưởng kiêm Phó tổng giám đốc kinh doanh của Công ty. Bà là người trực
tiếp phụ trách Phòng kế toán - tài vụ của Công ty, chịu trách nhiệm trước cơ
quan quản lý cấp trên và Tổng giám đốc Công ty về các vấn đề có liên qan
đến tình hình tài chính, công tác kế toán của Công ty. Có nhiệm vụ quản lý,
điều hành và thực hiện công tác kế toán tài chính theo hoạt động chức năng
chuyên môn, chỉ đạo công tác quản lý sử dụng vật tư, tiền vốn trong toàn
Công ty theo đúng chế độ tài chính do Nhà nước ban hành.
Giúp việc cho Kế toán trưởng là Phó phòng kế toán ( kiêm kế toán
tổng hợp): Ông Nguyễn Mạnh Thắng. Hiện nay ông là Phó phòng kế toán
của Công ty, đảm nhiệm kế toán tổng hợp. Ông tốt nghiệp trường Học viện
tài chính năm 1989, khoa Kế toán, hệ chính quy. Ông có nhiệm vụ là hàng
tháng căn cứ vào Nhật ký chung để vào sổ tổng hợp, sổ cái các tài khoản có
liên quan, lập Bảng cân đối số phát sinh và các Báo cáo tài chính khác theo
đúng quy định của Nhà nước, cùng với Kế toán trưởng quyết toán cũng như
thanh tra, kiểm tra công tác kế toán của Công ty.
Các nhân viên kế toán phần hành bao gồm:
Kế toán tiền mặt: do chị Phạm Kim Tuyết phụ trách. Chị tốt nghiệp
trường Đại học Thương mại năm 2005, khoa Kế toán, hiện chị đang học
Giáo viên hướng dẫn: PGS. TS. Nguyễn Văn Công
13
Chuyên đề thực tập chuyên ngành Nguyễn Thị Như Quỳnh - Kế toán 47C
thêm Văn bằng hai trường Đại học Ngoại thương - Hà Nội. Chị theo dõi tình
hình thu - chi, sử dụng quỹ tiền mặt hàng ngày của Công ty, tiến hành thanh
toán với người mua, người bán; thanh toán các khoản lương cho cán bộ công
nhân viên trong Công ty và theo dõi thanh toán với Ngân sách nhà nước. Kế
toán tiền mặt phản ánh tình hình và sự biến động của các loại tiền mặt tại
quỹ của Công ty bằng việc sử dụng sổ quỹ tiền mặt.
Kế toán tiền gửi ngân hàng và tài sản cố định và xây dựng cơ
bản: do chị Khúc Minh Phương phụ trách. Chị tốt nghiệp trường Đại học
Kinh tế quốc dân, chuyên ngành kế toán tổng hợp, hệ chính quy. Chị phụ
trách theo dõi tình hình của các khoản tiền gửi, tiền vay, các khoản tiền phải
nộp bằng Uỷ nhiệm chi của Công ty để lên sổ chi tiết tiền gửi, tiền vay.
Theo dõi tình hình thanh toán của Công ty với khách hàng, nội bộ Công ty
thông qua tài khoản tiền gửi tại các Ngân hàng; theo dõi tình hình tăng giảm
tài sản cố định trong Công ty; trích lập khấu hao và lên sổ sách liên quan.
Chị cũng theo dõi, hạch toán quá trình đầu tư xây dựng cơ bản, tham gia vào
công tác quyết toán công trình xây dựng.
Kế toán nguyên vật liệu, công cụ dụng cụ: do chị Đào Kim Anh
phụ trách. Chị tốt nghiệp trường, Đại học Thương mại khoa kế toán năm
2000, hệ chính quy. Công việc của chị là hàng ngày căn cứ vào phiếu nhập
kho, phiếu xuất kho nguyên vật liệu, để vào sổ chi tiết vật tư, đồng thời thực
hiện kế hoạch hạch toán các nghiệp vụ có liên quan đến nhập - xuất - tồn
nguyên vật liệu. Định kỳ, tiến hành kiểm kê kho cùng với thủ kho để đối
chiếu số liệu trên sổ sách và thực hiện tại kho.
Kế toán tiền lương và thành phẩm: do cô Trần Thu Hương phụ
trách. Cô tốt nghiệp Học viện Tài chính, khoa Kế toán và đã có 28 năm làm
công tác kế toán. Cô có nhiệm vụ căn cứ vào Bảng tổng hợp thanh toán
lương và phụ cấp do tổ nghiệp vụ các xí nghiệp, các phòng ban chức năng,
từ đó lập bảng tính và phân bổ các khoản trích theo lương. Đồng thời, cô
cũng theo dõi tình hình tạm ứng của nhân viên trong Công ty.
Giáo viên hướng dẫn: PGS. TS. Nguyễn Văn Công
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét