lớn những tài sản tài chính của họ (các nguồn quỹ có thể cho vay) đợc tạo
thành từ tiền gửi của các doanh nghiệp, hộ gia đình và các tổ chức khác.
Nhóm này bao gồm các ngân hàng thơng mại, hiệp hội tiết kiệm và các tổ
chức tín dụng khác.
Các tổ chức trung gian quan trọng khác, mệnh danh là các tổ chức
trung gian hợp đồng, ký hợp đồng với khách hàng của họ để khuyến khích
tiết kiệm và/hoặc bảo vệ tài chính cho trờng hợp mất mát tài sản và nhân
mạng. Trong số những tổ chức trung gian hợp đồng đợc biết đến nhiều nhất
là các công ty bảo hiểm tài sản và tai nạn, các quỹ lơng hu t nhân và dân
chúng.
Một nhóm tổ chức trung gian thứ 3 thờng đợc gọi là các tổ chức trung
gian thứ cấp bởi vì họ lệ thuộc rất nhiều vào những định chế tài chính khác
(nh ngân hàng thơng mại) về những quỹ có thể cho vay. Tiêu biểu là các
công ty tài chính và quỹ đầu t địa ốc.
Một nhóm tổ chức trung gian tài chính khác đợc mệnh danh các tổ
chức trung gian đầu t, bởi vì họ cung cấp cho dân chúng những chứng khoán
có thể giữ lại vô hạn định, nh là một khoản đầu t dài hạn hoặc bán đi nhanh
chóng khi khách hàng thu hồi quỹ. Những tổ chức trung gian đầu t gồm có
quỹ chứng khoán tơng hỗ. Nói chung ngời ta thừa nhận rằng các chu chuyển
tiền nhập và xuất của những tổ chức trung gian chứng khoán và hợp đồng có
thể dự đoán dễ dàng hơn là các quỹ phải thông qua những loại tổ chức trung
gian tiền gửi. Điều này cho phép các tổ chức trung gian chứng khoán và hợp
đồng giảm thiểu những khoản đầu t lu hoạt ngắn hạn và vơn tới những tài sản
đầu t dài hạn có mức sinh lợi cao hơn.
1.3. Vai trò của các trung gian tài chính trênTTCK
Các trung gian tài chính là một phần của hệ thống tài chính. Hệ thống
tài chính bao gồm một mạng lới các thị trờng tài chính, tiền tệ, các định chế,
các doanh nghiệp, công chúng và nhà nớc tham gia trong hệ thống đó và điều
tiết hoạt động của nó.
5
Cầu nối tài chính giữa ngời cho vay và ngời sử dụng vốn.
Chức năng nền tảng của các trung gian tài chính là chuyển những
khoản tiền từ những ngời cho vay đến những ngời đi vay. Những tổ chức, cá
nhân có các khoản thu nhập d thừa có thể cho các cá nhân, tổ chức khác
trong hệ thống tài chính vay. Các cá nhân, tổ chức và chính phủ thiếu hụt vốn
cho các khoản chi phí và đầu t phát triển có thể vay, huy động vốn thông qua
hệ thống tài chính. Hệ thống tài chính và các trung gian tài chính là con kênh
chuyển các khoản vốn các cá nhân, tổ chức d thừa vốn sang các cá nhân tổ
chức thiếu vốn. Trong các nền kinh tế định hớng thị trờng ngày nay thì hầu
hết tiền tiết kiệm của các cá nhân lu chuyển thông qua hệ thống tài chính đến
ngời sử dụng vốn chính là các doanh nghiệp và chính phủ. Thông qua các
trung gian tài chính, ngời cho vay và ngời sử dụng vốn đều đợc thoả mãn các
yêu cầu về tài chính bên canh đó ngời cho vay đợc đảm bảo an toàn đối với
khoản tiền của họ và ngời đi vay có thể nhận đợc khoản tiền họ cần một cách
nhanh chóng cho các nhu cầu sử dụng vốn của họ. Ngời cho vay muốn thông
qua các trung gian tài chính vì họ giảm thiểu đối với các rủi ro không đợc
thanh toán, tính thanh khoản cao, nhà đầu t có số tiền d thừa nhỏ cũng co thể
tham gia và sự thuận tiện đợc cung cấp dịch vụ bởi một trung gian tài chính
tại địa phơng.
Giảm thiểu rủi ro trên cơ sở đa dạng hoá đầu t.
Các trung gian tài chính còn tham gia vào việc tập trung rủi ro và lợi
dụng quy mô hoạt động của họ. Khi đầu t vào các khoản cho vay và các tài
sản có khác mang tính đa dạng về rủi ro và lợi nhuận thì sự đa dạng đó sẽ
nâng cao tính an toàn của nguồn vốn do nhà đầu t cung cấp. Hầu hết các nhà
đầu t nhỏ không thể nào phân tán đúng mức việc sử dụng các khoản tiền vào
nhiều loại đầu t khác nhau. Tuy nhiên, một trung gian tài chính có thể tập
hợp các khoản tiền phân tán của nhiều nhà đầu t nhỏ và phân bổ một cách có
hiệu quả vào nhiều danh mục khác nhau, do đó giảm thấp rủi ro cho tất cả
moi nhà đầu t.
6
Các trung gian tài chính thông thờng sử dụng nguồn vốn huy động
nhằm cho vay và đầu t chứng khoán. Khi nhận thấy nhu cầu về tín dụng
mạnh thì họ có thể đầu t ít vào chứng khoán, và sẽ bán số chứng khoán đã
đầu t trớc đó để tạo vốn cho vay mới. Còn khi mức cầu tín dụng thấp đi, các
định chế tài chính sẽ tăng mức đầu t vào chứng khoán nhằm tăng thu nhập,
tránh thuế, phân tán rủi ro, và tính thanh khoản của chứng khoán đầu t.
Giảm thiểu chi phí hợp đồng và chi phí xử lý thông tin
Khi các trung gian tài chính phát triển về quy mô thì phí hoạt động
theo đơn vị có thể thấp hơn và có thể giảm phí dịch vụ ngân hàng, tài chính
cung cấp cho công chúng.Nhà đầu t thờng không có thời gian và nghiệp vụ
để nắm bắt những thay đổi của thị trờng và cũng không thể tiếp cận thông tin
liên quan về các điều kiện của thị trờng và cơ hội đầu t. Các trung gian tài tài
chính sử dụng năng lực của mình để thu thập và xử lý thông tin từ thị trờng
tài chính thay cho nhà đầu t. Nhằm thu nhập thông tin đầy đủ về ngời đi vay,
các trung gian tài chính phải tiêu tốn đáng kể về thời gian, vốn và nghiệp vụ-
những nguồn lực mà những nhà đầu t nhỏ và ngay cả một số nhà đầu t lớn
không có đợc. Ngày nay,các trung gian tài chính không những chỉ thực hiện
chức năng quan trọng là thu thập thông tin về ngời đi vay và xác định độ tín
nhiệm , mà còn giám sát điều kiện và việc chấp hành của ngời đi vay để đảm
bảo rằng họ tuân thủ các điều khoản của hợp đồng tín dung và tiếp tục giữ
vững uy tín. Bên cạnh đó, thông tin về ngời đi vay đợc trao đổi giữa các
trung gian tài chính, do đó ngời đi vay có thể tìm kiếm thêm vốn đầu t từ các
trung gian tài chính khác trên thị trờng.
Cung cấp một cơ chế thanh toán.
Trong hệ thống tài chính ngân hàng của một quốc gia, các trung gian
tài chính thông qua một trung tâm bù trừ trung ơng cung cấp dịch vụ thanh
toán cho toàn xã hội. Hệ thống bù trừ giữa các ngân hàng giải quyết các giao
dịch trong một giai đoạn xác định và chỉ thanh toán các khoản tiền ròng cần
thiết để quyết toán các khoản thu chi giữa các ngân hàng. Cơ chế thanh toán
7
mà hệ thống tài chính ngân hàng cung cấp cho xã hội cho phép giảm bớt chi
phí, đảm bảo an toàn cho việc thực hiện các giao dịch. Thông qua mạng lới
rộng khắp của mình, hệ thống tài chính ngân hàng cho phép việc thực hiện
thanh toán một cách nhanh nhất trên phạm vi toàn thế giới
2. Khái niệm chung về thị trờng chứng khoán
2.1. Khái niệm thị trờng chứng khoán
Thị trờng chứng khoán (TTCK) là nơi diễn ra các hoạt động giao dịch
mua bán,trao đổi các loại chứng khoán trung và dài hạn.
Xét về mặt hình thức, TTCK chỉ là nơi diễn ra các hoạt động trao đổi
các loại chứng khoán, qua đó thay đổi các chủ thể nắm giữ chứng khoán.
Xét về mặt bản chất:
- TTCK là nơi tập trung và phân phối các nguồn vốn tiết kiệm.
- TTCK là trung gian tài chính trực tiếp:cả chủ thể cung và cầu vốn
đều tham gia vào thị trờng một cách trực tiếp.Qua kênh dẫn vốn trực tiếp, các
chủ thể đầu t đã thực sự gắn quyền sử dụng và quyền sở hữu về vốn, nâng cao
tiềm năng quản lý vốn
- TTCK thực chất là quá trình vận động của t bản tiền tệ, chuyển t bản
tiền tệ từ t bản sở hữu sang t bản chức năng.
2.2 Phân loại TTCK
2.2.1. Phân loại theo hàng hoá
Căn cứ vào hàng hoá đợc mua bán trên thị trờng chứng khoán,có thể
phân chia TTCK thành thị trờng trái phiếu ,thị trờng cổ phiếu và thị trờng các
công cụ dẫn xuất
Thị trờng trái phiếu là thị trờng mà hàng hoá đợc mua bán đó là các
trái phiếu .Trái phiếu: là một loại chứng khoán nợ xác nhận của tổ chức phát
hành cam kết trả một số tiền đợc xác định trớc (vốn gốc và lãi) vào một thời
điểm đợc xác định trớc trong tơng lai.Đơn vị phát hành trái phiếu là chính
8
phủ, chính quyền địa phơng, và các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh
tế theo quy định của pháp luật.
Thị trờng cổ phiếu là nơi giao dịch mua bán trao đổi giây tờ xác nhận
cổ phần đóng góp của cổ đông.Cổ phiếu: Khi một công ty cần huy động vốn,
số vốn cần huy động đợc chia thành nhiều phần nhỏ bằng nhau gọi là cổ
phần. Ngời mua cổ phần đợc gọi là cổ đông. Cổ đông đợc cấp một giấy xác
nhận sở hữu cổ phần gọi là cổ phiếu. Cổ phiếu có hai loại: cổ phiếu thờng (cổ
phiếu phổ thông) và cổ phiếu u đãi.Cổ phiếu sẽ cho phép cổ đông có quyền
yêu cầu đối với lợi nhuận sau thuế của công ty cung nh đối với tài sản của
công ty khi tài sản này đợc đem bán
Thị trờng các công cụ dẫn xuất là nơi giao dịch mua bán các khoán
phái sinh nh quyền mua trớc,chứng khế, hợp đồng quyền chọn,hợp đồng tơng
lai, Nó cung cấp các công cụ phòng vệ hữu hiệu ,đồng thời cũng là công cụ
đầu cơ lý tởng cho nhà đầu t
2.2.2. Phân loại theo quá trình luân chuyển vốn .
Thị trơng sơ cấp: Còn gi l th trng cp mt hay th trng phát
h nh, h m ý ch ni din ra các hot ng mua bán chng khoán mi phát
h nh l n u. Th trng s cp l th trng to vn cho n v phát h nh.
Thị trờng thứ cấp: Còn gi l th trng cp hai hay th trng lu
thông,l n i din ra các giao dch mua bán chng khoán sau khi ã phát h nh
ln u. Nói cách khác th trng th cp l th trng mua i bán li các
loi chng khoán ợc phát h nh qua th trng s cp.
2.2.3. Phân loại theo hình thức tổ chức của thị trờng
- Thị trờng chứng khoán tập trung,tổ chức hình thành nên các sở giao
dịch :là thị trờng hoạt động theo đúng các quy định của pháp luật,là nơi mua
bán các loại chứng khoán đã đợc đăng ký tc là đã đựoc cơ quan có thẩm
quyền cho phép bảo đảm phân phối và mua bán qua trung gian.Đây là nơi
mua bán trao đổi các loại chứng khoán của các công ty lớn và hoạt động có
9
hiệu quả. Hay các loại chứng khoán do chính phủ hoặc các cơ quan công
quyền phát hành và đảm bảo.
- Thị trờng chứng khoán phi tập trung (OTC): là thị trờng mua bán
chứng khoán nằm ngoài sở giao dịch, không có địa điểm tập trung mà có thể
diễn ra tại tất cả các quầy sàn giao dịch của các thành viên,đây là thị trờng
của các nhà buôn, những ngời tạo lập thị trờng (market makers) các giao dịch
ở đây chủ yếu dựa váo thoả thuận giữa ngời mua và ngời bán các chứng
khoán giao dịch ở đây thong là chứng khoán của các công ty nhỏ mức độ rủi
ro cao,ít ngời biết đến hoặc ít ngời mua bán
2.2.4. Phân loại theo cơ chế giao dịch
Thị trờng giao ngay:là thị trờng mua bán chứng khoán theo giá ở thời
điểm giao dịch nhng việc thực hịên thanh toán và giao hàng có thể diễn ra
sau đó một vài ngày theo thoả thuận
Thị trừơng giao sau:là thị trờng mua bán chứng khoán theo một hợp
đồng định sẵn giá cả đợc thoả thuận trong ngày giao dịch nhng việc thanh
toán và giao hàng diễn ra trong tơng lai
2.3.Vai trò của thị trờng chứng khoán
TTCK có vai trò rất quan trong đối với nền kinh tế của mỗi nớc, trong
xu thế hội nhập hiện nayđòi hỏi các quốc gia phải thúc đẩy phát triển kinh tế
với tốc độ cao và hiệu quả,thực tế phát triển kinh tế ở các quốc gia đã khẳng
định vai trò của TTCK,trong rất nhiều vai trò sau đây là một số vai trò chính
của TTCK:
Thứ nhất TTCK tạo ra các công cụ có tính thanh khoản cao,có thể tích
tụ, tập trung và phân phối vốn,chuyển thời hạn của vốn phù hợp với yêu cầu
phát triển kinh tế. yếu tố thông tin và yếu tố cạnh tranh trên thị trờng sễ đảm
bảo cho việc phân phối vốn một cách hiệu quả. Thực tế trên TTCK tất cả các
thông tin đợc cập nhật và đợc chuyển tải đến tất cả các nhà đầu t nhờ đó họ
có thể phân tích và định giá cho chứng khoán, TTCK tạo ra một sự cạnh tranh
10
hiệu quả trên thị trờng tài chính, điều này bụôc các trung gian tài chính trên
thị trờng quan tâm đến hoạt động của chính họ và làm giảm chi phí.
Thứ hai TTCK góp phần thực hiện tái phân phối công bằng hơn thông
qua việc buộc các tập đoàn gia đình trị phát hành chứng khoán ra công
chúng,giải toả sự tập trung quyền lực kinh tế của các tập đoàn song vẫn tập
trung vốn cho sự phát triển kinh tế.
Thứ ba TTCK tạo điều kiện cho việc tách biệt giữa quản lý và sở hữu
doanh nghiệp, tạo điều kiện cho việc tiết kiệm vốn và chất xám, tạo điều kiện
thúc đẩy quá trình cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nớc, cơ chế thông tin hoàn
hảo tạo khả năng giam sát chặt chẽ của TTCK làm giảm tác động của các
tiêu cực trong quản lý tạo điều kiện kết hợp hài hoà giữa lợi ích của chủ sử
hữu, nhà quản lý và ngời làm công.
Thứ t TTCK tạo cơ hội cho Chính phủ huy động đợc các nguồn tài
chính mà không tạo áp lực về lạm phát, đồng thời tạo các công cụ cho việc
thực hiện các chính sách tài chính tiền tệ của Chính phủ.
Thứ năm TTCK cung cấp dự báo về các chu kỳ kinh doanh trong tơng
lai. Việc thay đổi giá chứng khoán có xu hớng đi trớc chu kỳ kinh doanh cho
phép chính phủ cũng nh các công ty đánh giá kế hoạch đầu t cũng nh việc
phân bố các nguồn lực của họ một cách hiệu quả.
Thứ sáu Việc mở cửa TTCK làm tăng tính lỏng và cạnh tranh trên thị
trờng quốc tế. Điều này làm cho các công ty có thể huy động vốn rẻ hơn tăng
cờng đầu t từ nguồn tiết kiệm bên ngoài,đồng thời tăng khả năng cạnh tranh
trên thị trờng quốc tế và mở rông các công cụ kinh doanh của công ty trong
nớc.
3. Một số mô hình trung gian tài chính trên thị trờng chứng
khoán thế giới
Nh đã trình bày ở phần trên, các trung gian tài chính tham gia vào
TTCK dới nhiều hình thái khác nhau và mức độ tiếp cận cũng hoàn toàn khác
nhau, tuy nhiên sự xâm nhập hay nói khác là sự tham gia của mô hình trung
11
gian ngân hàng thơng mại vào thị trờng chứng khoán là đặc trng rõ nét nhất
và nổi bật nhất. Trong phần này, đề tài đi sâu nghiên cứu một số mô hình đặc
trng của sự tham gia của các trung gian ngân hàng tiêu biểu trên thế giới.
3.1. Mô hình định chế tài chính đa năng
Theo mô hình này hoạt động chung trên lĩnh vực ngân hàng, bảo hiểm,
chứng khoán vv (đặc trng ngân hàng đa năng Đức và úc).
Mô hình này chia làm hai loại:
Loại đa năng một phần:Các trung gian tài chính tham gia thị trờng
chứng khoán phải thành lập công ty con hoạt động độc lập, đợc áp dụng tại
Anh và một số nớc có quan hệ gần với Anh nh Canada và úc.
Loại đa năng hoàn toàn: các định chế ngân hàng đợc phép kinh doanh
chứng khoán, kinh doanh doanh bảo hiểm và kinh doanh tiền tệ. Trong mô
hình này không có bất kỳ sự tách biệt nào giữa các hoạt động ngân hàng và
chứng khoán. trong hệ thống ngân hàng đa năng, các ngân hàng thơng mại
cung cấp một danh mục đầy đủ các dịch vụ ngân hàng, chứng khoán và bảo
hiểm, tất cả trong một pháp nhân duy nhất. Mô hình đa năng hoàn toàn này
đợc áp dụng chủ yếu ở các nớc Đúc, Bắc Âu, Hà Lan, Thụy sỹ và ở áo.
Ưu điểm của mô hình này là ngân hàng, công ty tài chính, công ty bảo
hiểm có thể kết hợp nhiều lĩnh vực kinh doanh, nhờ đó giảm bớt rủi ro cho
hoạt động kinh doanh chung và có khả năng về tài chính chịu đựng các biến
động tài chính của TTCK. ở các nớc bắt đầu xây dựng TTCK, các ngân hàng
thờng có u thế về đội ngũ nhân viên có chuyên môn cao, về quy mô vốn, cơ
sở vật chất kỹ thuật, mạng lới khách hàng rộng và đầy đủ thông tin để thực
hiện kinh doanh chứng khoán so với các công ty chứng khoán chuyên ngành
mới thành lập.
Mô hình này cũng có những hạn chế nhất định, nh sau:
- Hoạt động chủ yếu của hệ thống ngân hàng là huy động vốn để cho
vay lấy lãi, do đó ngân hàng thờng quan tâm cho khách hàng vay vốn để kinh
doanh và phát triển sản xuất hơn là giúp khách hàng huy động vốn bằng phát
12
hành cổ phiếu, trái phiếu. Điều này không những thể hiện rõ ở các thị trờng
chứng khoán kém phát triển mà ở ngay thị trờng chứng khoán châu Âu khi so
sánh với thị trờng chứng khoán Mỹ;
- Trong trờng hợp có biến động trên thị trờng chứng khoán, thì các
biến động này có thể ảnh hởng đến hoạt đông kinh doanh tiền tệ của hệ thống
ngân hàng nếu không có sự tách bạch giữa hai loại hình kinh doanh này.
- Trong trờng hợp có biến động trên thị trờng tiền tệ, thì các biến động
này có thể ảnh hởng đến hoạt động kinh doanh chứng khoán của hệ thống
các tổ chức kinh doanh chứng khoán nếu không tách bạch giữa hai loại hình
kinh doanh này. Cuộc khủng hoảng tài chính-tiền tệ ở Thái Lan trớc đây mà
bắt đầu là khủng hoảng nợ từ giữa năm 1997, khi mà 58 ngân hàng, công ty
tài chính, trong đó có nhiều tổ chức đợc kinh doanh chứng khoán bị phá sản
và điều này đã ảnh hởng hết sức nặng nề đến thị trờng chứng khoán Thái
Lan.
3.2. Mô hình công ty chuyên doanh chứng khoán.
Theo mô hình này, hoạt động kinh doanh chứng khoán sẽ do các công
ty độc lập, chuyên môn hoá trong lĩnh vực chứng khoán đảm nhận. Các ngân
hàng, các tổ chức tài chính không đợc tham gia vào việc kinh doanh chứng
khoán.
Mô hình này đợc áp dụng ở nhiều nớc, trong đó đáng chú ý là Mỹ,
Nhật Bản, Hàn Quốc.
Ưu điểm của mô hình này là:
- Hạn chế rủi ro cho hệ thống ngân hàng;
- Tạo điều kiện cho thị trờng chứng khoán phát triển.
Tuy nhiên trong thời gian gần đây, ở các nớc áp dụng mô hình này đã
có xu hớng giảm dần hạn chế về kinh doanh chứng khoán đối với ngân hàng
thơng mại và từng bớc mở rộng quyền của ngân hàng thơng mại, tổ chức tài
chính tham gia vào hoạt động kinh doanh chứng khoán trên thị trờng chứng
khoán. Một trong những vấn đề về mô hình công ty chứng khoán gây tranh
13
luận là nên chăng cho phép công ty chứng khoán thực hiện chức năng quản lý
quỹ tín thác đầu t, hay chức năng công ty quản lý quỹ đầu t và từ đó lập các
quỹ đầu t chứng khoán. Vấn đề này ở các nớc khác nhau cũng có cách tiếp
cận và mô hình khác nhau. Một số quốc gia nh Nhật Bản, Trung quốc, Thái
Lan và các nớc theo mô hình ngân hàng đa năng, cho phép công ty chứng
khoán đợc làm chức năng công ty quản lý quỹ đầu t, các quốc gia theo mô
hình chuyên doanh chứng khoán nh Mỹ thì tách biệt loại hình công ty quản
lý quỹ tơng hỗ đầu t, tín thác đầu t ra khỏi công ty kinh doanh chứng khoán.
Vì vậy, việc cho phép công ty chứng khoán thực hiện chức năng công
ty quản lý quỹ đầu t, quỹ tơng hỗ là vấn đề lớn và lệ thuộc vào khả năng quản
lý, sự phát triển củaTTCK. Tuy nhiên, ở các thị trờng mới nổi, nhiều nhà kinh
tế và nhà hoạch định chính sách cho rằng nên tách riêng 2 lĩnh vực hoạt động
này (theo mô hình Mỹ) vì lợi ích của các nhà đầu t cũng nh để phát triển tốt
TTCK
4. Các hoạt động của trung gian tài chính trên thị trờng
chứng khoán
4.1 Sự tham gia của các ngân hàng thơng mại vào quá trình thành lập
công ty chứng khoán
NHTM là đối tợng có rất nhiều thuận lợi trong việc tham gia thành lập
công ty chứng khoán trong giai đoạn hiện nay. Với thế mạnh đặc biệt về tiềm
lực tài chính, hầu hết các ngân hàng đều không gặp khó khăn đối với việc
đáp ứng các yêu cầu về vốn pháp định trong hoạt động kinh doanh chứng
khoán. Mặt khác, hệ thống mạng lới chi nhánh rộng khắp và nền tảng khách
hàng sẵn có cũng là một u thế vô cùng quan trọng cho các ngân hàng trong
việc triển khai và mở rộng phạm vi hoạt động của các công ty chứng khoán
sau này. Việc chuẩn bị điều kiện nhân sự cũng đợc sự hỗ trợ hết sức thuận lợi
từ phía ngân hàng mẹ, phần lớn nhân sự của các công ty chứng khoán hiện
nay là các cán bộ có kinh nghiệm điều chuyển từ ngân hàng sang, có nhiều
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét