Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
nguồn thu ngoại tệ dới mọi hình thức đều đợc tự do mở tài khoản ở ngân hàng. Nhà nớc
sẽ mua lại khi cần thiết thông qua các công cụ về tỷ giá và lãi suất.
+ Chính sách tự do ngoại thơng ngoại hối: Nội dung của chính sách này là thực
hiện tự do hoá ngoại thơng ngoại hối. Nhà nớc không quản lý gắt gao hay hạn chế giao
dịch ngoại hối. Các hàng rào thơng mại bị bãi bỏ, sự dịch chuyển của các luồng hàng hoá
dịch vụ là hoàn toàn do cung cầu ngoại tệ trên thị trờng quyết định.
Trên đây là bốn loại hình của các chính sách quản lý ngoại hối. Tuỳ theo tình hình
kinh tế xã hội trong và ngoài nớc và xu hớng chung của nền kinh tế thế giới mà mỗi quốc
gia nên chọn một mô hình thích hợp. Sự cần thiết của chính sách quản lý ngoại hối đợc
thể hiện ở sự tồn tại hiện nay trong nền kinh tế nớc ta một khối lợng ngoại tệ khổng lồ.
Nợ nớc ngoài tính đến cuối năm 1997 của nớc ta đã đạt đến con số báo động 10.159 triệu
USD. Tổng số đầu t trực tiếp của nớc ngoài vào nớc ta tính đến hết năm 1997 đã thực hiện
là 11.799 triệu USD trong tổng số 31.438 triệu USD vốn đăng kí gần 3 tỷ vốn ODA đã đ-
ợc giải ngân trong tổng số gần 11 tỷ USD vốn cam kết.
5
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
Ch ơng II
Thực trạng chính sách quản lý ngoại hối trong các
doanh nghiệp có vốn đầu t nớc ngoài và diễn biến thị trờng
ngoại tệ trong năm 2002
1. Thực trạng chính sách quản lý ngoại hối trong các doanh nghiệp có vốn đầu t n-
ớc ngoài:
Quản lý ngoại hối đã có từ lâu nên nó gắn với chính sách tiền tệ của quốc gia nh-
ng quản lý ngoại hối trong các doanh nghiệp có vốn đầu t nớc ngoài thì chỉ thực sự tồn tại
trong những năm gần đây. Là vấn đề quá mới nên những phát sinh, tồn tại đòi hỏi chúng
ta phải nắm bắt và giải quyết là vấn đề bức bách và thờng xuyên xảy ra. Sau đây là nghiên
cứu thực trạng của việc quản lý ngoại hối trong các doanh nghiệp có vốn đầu t nớc ngoài.
1.1 Vấn đề mở tài khoản:
1.1.1 Mở tài khoản tại ngân hàng trong nớc:
Nh quy định của ngân hàng nhà nớc đã nêu ở trên các doanh nghiệp có vốn đầu t
nớc ngoài chủ đợc mở một tài khoản đồng Việt Nam và ngoại tệ tại một ngân hàng thơng
mại ở Việt Nam, còn trong trờng hợp doanh nghiệp có các chi nhánh ở địa phơng khác
doanh nghiệp có thể mở các tài khoản phụ tại các địa phơng này để tiện cho hoạt động.
Quy định này tạo điều kiện thuận lợi cho việc quản lý của ngân hàng nhà nớc đối
với các hoạt động của các doanh nghiệp có vốn đầu t nớc ngoài. Bởi vì thay bởi việc theo
dõi nhiều tài khoản thanh toán khác nhau ngân hàng nhà nớc chỉ phải theo dõi hoạt động
tài khoản tại một ngân hàng duy nhất mà doanh nghiệp mở tài khoản.
Tuy nhiên hiện nay quy định này đang gây sự phản ứng mạnh mẽ của các ngân
hàng thơng mại và các doanh nghiệp này. Đặc biệt là sau công văn 67/CV-NH cho ngân
hàng nhà nớc gửi tới các ngân hàng thơng mại yêu cầu phải chấp hành nghiêm chỉnh các
quy định của ngân hàng nhà nớc về quản lý ngoại hối trong các doanh nghiệp có vốn đầu
t nớc ngoài theo nh thông t số 06/TT-NH ban hành ngày 18.9.1993. Các doanh nghiệp và
các ngân hàng thơng mại cho rằng những khó khăn đó thể hiện nh sau:
- Các công ty 100% vốn nớc ngoài và các liên doanh hớng dẫn chỉ đợc giao dịch
với một ngân hàng, điều này giúp đơn giản hoá việc kiểm soát nhng đồng thời cũng mang
những hiệu quả bất lợi cho các doanh nghiệp liên doanh và các công ty 100% vốn nớc
ngoài.
6
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
- Các công ty 100% vốn nớc ngoài, công ty liên doanh cho rằng bằng việc áp dụng
quy định một ngân hàng, ngân hàng vô hình chung đã hạn chế lợng tiền mà các công ty
này đợc phép hoặc mong muốn đi vay từ thị trờng.
- Nhu cầu đi vay của các doanh nghiệp là tất yêu và nó có ảnh hởng lớn đến hoạt
động của doanh nghiệp, nó làm giảm bớt các dự án đầu t của một số công ty và có thể
ảnh hởng xấu đến dự án. Theo thông báo của ngân hàng ngoại thơng Pháp BFCE tại ngân
hàng đã có tới 4 dự án đình hoãn vô thời hạn.
- Các ngân hàng cho rằng: Việc áp dụng quy định một ngân hàng dẫn đến rủi ro
lớn trong việc cho vay của các ngân hàng do khó đáp ứng đợc tốt các khoản vay của các
doanh nghiệp nhất là các khoản vay lớn. Thực tế là ở Việt Nam hiện nay các ngân hàng
khó đáp ứng đợc nhu cầu vay lớn của các doanh nghiệp.
Hơn nữa việc này làm giảm hiệu quả của các dịch vụ khách hàng của ngân hàng
thơng mại, các ngân hàng đều muốn các doanh nghiệp vay vốn phải mở tài khoản thanh
toán tại ngân hàng của họ. Những kiến nghị này là phù hợp với yêu cầu của các doanh
nghiệp và nền kinh tế thị trờng nhng nhìn chung họ đã cha hiểu kĩ quan điểm của cơ quan
quản lý. Trên thực tế, ngân hàng nhà nớc chỉ hạn chế việc mở tài khoản thanh toán để dễ
dàng hơn trong việc quản lý ngoại hối của các doanh nghiệp này ma không hạn chế việc
mở tài khoản trong nớc nhằm mục đích vay vốn. Các doanh nghiệp chỉ đợc mở một tài
khoản thanh toán nhng có thể nhiều tài khoản tiền vay.
1.1.2 Vấn đề mở tài khoản ngân hàng nớc ngoài
Ngân hàng nhà nớc đã quy định các doanh nghiệp có vốn đầu t nớc ngoài đợc
quyền mở tài khoản tại ngân hàng với mục đích:
- Tiếp nhận vốn vay của nớc ngoài
- Gửi một phần doanh thu của doanh nghiệp trong phạm vi số tiền gốc và lãi của
khoản vay đến hạn phải trả
- Thanh toán các khoản chi phù hợp với hợp đồng vay vốn
- Chi trả nợ và lãi đến hạn
Qua thực tế kiểm tra và báo cáo của các doanh nghiệp, ngân hàng nhà nớc đã thấy
có nhiều tài khoản mở hoặc có hoặc có nhiều khoản vay cha đợc ngân hàng nhà nớc xác
nhận. Thực tế này cần phải đợc khắc phục nhanh chóng bởi vì với những tài khoản mở ở
ngân hàng trong nớc việc chuyển tiền và thanh toán vẫn nằm trong phạm vi quốc gia,
ngân hàng nhà nớc vẫn có thể tác động đợc khi cần thiết trong khi tài khoản mở ở nớc
ngoài thì nếu không quản lý chặt chẽ sẽ rất dễ gây ra các tiêu cực hoặc ảnh hởng bất lợi
cho phía Việt Nam.
7
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
1.2 Vấn đề chuyển vốn vào:
Nhìn lại sau 11 năm thực hiện luật đầu t nớc ngoài tại Việt Nam với 6 tỷ USD vốn
thực hiện đó là điều đáng mừng. Tuy 6 tỷ USD vốn thực hiện cha là gì đối với các nớc
khác nhng đối với Việt Nam nó đã nói lên nhiều điều.
Với 6 tỷ USD mà 16,5 vạn ngời đã có việc làm. Nhiều dây chuyền công nghệ mới
đã đợc đa vào Việt Nam tạo điều kiện sản xuất đợc những hàng hóa có chất lợng cao có
khả năng cạnh tranh trên thị trờng thế giới. Vốn chuyển vào cũng làm cải thiện phần nào
cán cân thanh toán quốc tế của Việt Nam vốn đã thờng xuyên thâm hụt.
Vốn chuyển vào có tác động quan trọng nh vậy nhng nếu vốn chuyển vào không
đợc kiểm soát chặt chẽ thì nó có thể gây ra những hậu quả xấu về sau này đòi hỏi ngân
hàng phải quản lý đợc.
Nhng vốn ngoại tệ đa vào nhiều có thể dẫn đến sự hợp lý của chính sách tiền tệ
hiện tại, ngoài ra nó cũng có thể dẫn đến tăng lợng đôla trong điều kiện đồng Việt Nam
cha phải là đồng tiền tự do chuyển đổi.
Theo quy định của luật đầu t nớc ngoài tại Việt Nam thì bên nớc ngoài phải
chuyển vốn pháp định vào Việt Nam theo đúng tiến độ góp vốn đã ghi trong hợp đồng.
Quy định rất cụ thể nhng trên thực tế các doanh nghiệp không thực hiện cam kết
của mình trớc đây. Họ chuyển vốn vào không theo lệnh góp vốn còn về phía ngân hàng
nhà nớc cũng không có điều kiện nắm đợc chắc chắn dòng vốn ngoại tệ chuyển vào có
vai trò hết sức quan trọng trong việc xác lập cán cân thanh toán quốc tế của Việt Nam và
toàn bộ chính sách tiền tệ nói chung.
Hơn nữa việc buộc các doanh nghiệp phải thực hiện đúng cam kết về tiến độ
chuyển vốn sẽ có lợi cho bên Việt Nam bởi một số nguyên nhân:
-Vốn ngoại tệ chuyển vào là rất quý trong tình trạng thiếu ngoại tệ của ta hiện nay
và trong điều kiện đồng Việt Nam cha thể thành đồng tiền tự do chuyển đổi.
-Số ngoại tệ chuyển vào lớn nên bên nớc ngoài có xu hớng chậm chuyển bởi chỉ
cần chậm một ngày họ đã có lợi khá nhiều chứ cha nói gì đến cả tháng, cả năm. Trong
khi có những doanh nghiệp cần những khoản chi trong ngày hoặc thậm chí một vài ngày
để thực hiện những công vụ cấp bách thì buộc bên nớc ngoài thực hiện cam kết là cần
thiết.
Ví dụ, sau đây là một phơng thức mà bên nớc ngoài thờng sử dụng do những sơ hở
về phía Việt Nam. Khi thực hiện dự án A, hai bên cam kết bên Việt Nam đóng góp 30%
vốn pháp định, bên nớc ngoài đóng góp 70% vốn pháp định. Lịch đóng góp của phía nớc
ngoài đợc quy định nh sau: 1 tháng sau khi nhận đợc giấy phép kinh doanh của SCCI, bên
nớc ngoài phải chuyển vào 25% vốn pháp định, 50% sẽ đóng góp sau một năm và 25%
8
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
còn lại sẽ đóng góp sau 1 năm tiếp theo. Nh vậy, phải sau 2 năm bên nớc ngoài mới đóng
góp đủ số vốn pháp định trong khi lợi nhuận họ đợc chia theo tỷ lệ 7/3 ngay từ năm đầu
tiên, đó còn cha kể đến tình trạng hiện nay đa số các doanh nghiệp lại không thực hiện
việc góp vốn pháp định theo nh cam kết.
Chính vì vậy, ngân hàng nhà nớc phải tìm biện pháp để kiểm soát đợc việc chuyển
vốn của bên nớc ngoài bảo đảm quyền lợi của các doanh nghiệp Việt Nam và nhà nớc
Việt Nam.
Ngoài việc quản lý nguồn ngoại tệ chuyển vào một yêu cầu cấp thiết khác đó là
quản lý vốn góp bằng máy móc thiết bị.
Nó không phải là ngoại tệ nhng liên quan đến lợng ngoại tệ mà bên nớc ngoài đợc
chuyển ra. Bởi vì theo nh quy định của nhà nớc các doanh nghiệp đợc chuyển ra nớc
ngoài số vốn góp khi kết thúc dự án mà vốn góp lại bao gồm vốn góp bằng tiền, bàng
máy móc thiết bị hay bằng phát minh.
Tuy hiện nay việc chuyển vốn góp này cha phát sinh do các dự án đều mới đợc
thực hiện nhng sau này khi các dự án hoàn thành bên nớc ngoài sẽ chuyển số ngoại tệ của
mình về nớc thì nếu không nắm đợc số vốn chuyển ra làm sao chúng ta chuẩn bị đợc
ngoại tệ cho tơng lai. Một sự thiếu tính toán, chuẩn bị thiếu chu đáo sẽ gây ra những hậu
quả rất khó lờng trớc đợc.
Vấn đề vốn góp bằng máy móc thiết bị hiện vẫn gây nhiều tranh cãi, các bên
không thống nhất đợc với nhau và giá trị của máy móc thiết bị góp vào. Bên Việt Nam
cho rằng bên nớc ngoài đánh giá máy móc thiết bị đa vào cao hơn giá trị thực của nó.
1.3 Vấn đề chuyển vốn ra nớc ngoài
Quản lý việc vốn vào đã rất quan trọng nhng quản lý việc chuyển vốn ra còn quan
trọng hơn do nguồn ngoại tệ khan hiếm của ta hiện nay. Thắt chặt việc chuyển ngoại tệ ra
khỏi lãnh thổ Việt Nam là quan điểm của những nhà lãnh đạo nhng thắt chặt ở đây cũng
chỉ ở trong chừng mực nào đó phù hợp với chủ trơng mở cửa của đất nớc.
Thực tế hiện nay khi các doanh nghiệp có đủ các điều kiện quy định đã đóng đủ
vốn pháp định và làm đầy đủ nghĩa vụ đối với nhà nớc Việt Nam đều có thể chuyển vốn
ra nớc ngoài qua con đờng các ngân hàng thơng mại mà không cần phải báo cáo với ngân
hàng nhà nớc, đó là một tồn tại mà cần phải khắc phục trong thời gian tới. Bởi vì nếu
ngân hàng không nắm đợc lợng ngoại tệ chuyển ra khỏi quốc gia thì rất có thể dẫn đến
một sự sai lệch nào đó trong việc điều hành chính sách tiền tệ quốc gia.
Hãy chỉ nhìn ra một nớc ngay gần ta là Thái Lan, ngân hàng nhà nớc Thái Lan
nắm đợc số liệu vốn chuyển ra, chuyển vào quốc gia trong từng ngày nhờ vào hệ thống số
liệu do các ngân hàng thơng mại cung cấp.
9
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
Phải chăng ngân hàng nhà nớc Việt Nam không có khả năng thực hiện điều này:
Thật ra ngân hàng nhà nớc Việt Nam hoàn toàn có khả năng nắm đợc số liệu đó nếu các
ngân hàng thơng mại kết hợp tốt với ngân hàng nhà nớc, họ có trách nhiệm đối với lĩnh
vực này. Hiện nay tình trạng trên vẫn còn tồn tại do ta cha có một chế độ báo cáo thông
tin của các ngân hàng thơng mại.
1.4 Vấn đề về tỷ giá
Một thực tế không thể phủ nhận là sự nỗ lực và thành công của ngân hàng nhà nớc
trong việc giữ tỷ giá ổn định trong thời gian qua, sự ổn định ở đây không phải là sự cứng
nhắc mà là tỷ giá có tác động thúc đẩy phát triển sản xuất, trợ giúp sự tăng trởng kinh tế.
Từ chế độ nhiều tỷ giá trớc đây này Việt Nam đã thực hiện chế độ một tỷ giá hình
thành theo quan hệ cung cầu thị trờng và có sự điều chỉnh của nhà nớc.Với chế độ tỷ giá
nh vậy, phía đối tác nớc ngoài nói riêng và các nhà kinh doanh nói chung đã yên tâm hơn
trong việc bỏ vốn vào kinh doanh mà không lo sợ về biến động của tỷ giá.
Tuy nhiên cũng còn nhiều tiếng kêu từ phía nhà sản xuất, họ cho rằng tỷ giá của
Việt Nam hiện nay là cha hợp lý, ngân hàng nhà nớc đã xác định tỷ giá cao hơn giá trị
thực của nó và theo họ cần phải phá giá đồng Việt Nam, đa đồng Việt Nam về với giá trị
thực của nó nhằm đẩy mạnh xuất khẩu tạo điều kiện cho hàng Việt Nam có sức cạnh
tranh hơn trên thị trờng thế giới.
Đây là phản ánh của các doanh nghiệp nhng đó cũng chỉ là những phản ánh, ngân
hàng nhà nớc có trách nhiệm xem xét đánh giá nhng chấp nhận hay không đó lại là một
vấn đề khác. Họ nói phải phá giá nhng cha nhận thức đợc tác hại ghê gớm của việc phá
giá không đúng đối với nền kinh tế nh thế nào. Chỉ cần một sự biến động của tỷ giá thôi
có thể phá tan thành quả của bao năm cải cách, phá tan những cái đã có, mà để đạt đợc
chúng ta phải lao tâm khổ tứ rất nhiều.
Thực tế là các doanh nghiệp có vốn đầu t nớc ngoài mới chỉ tồn tại tại ở Việt Nam
trong 12 năm qua nhng ảnh hởng của sự biến động tỷ giá tới hoạt động của những doanh
nghiệp này không phải là không có. Theo uỷ ban nhà nớc về hợp tác và đầu t đẻ có một
số dự án không thực hiện đợc do sự biến động của tỷ giá đã làm đảo lộn đến những tính
toán ban đầu của họ.
Năm 1988 là năm có dự án đầu t trực tiếp nớc ngoài đầu tiên đến thời điểm
1998 tỷ giá trên thị trờng tự do đã tăng lên 2,2 lần và tỷ giá do ngân hàng nhà nớc
công bố đã tăng lên gần 4 lần. Chỉ trong vòng 10 năm mà tỷ giá biến động lớn nh
vậy thì việc dự kiến quả là khó khăn.
Tuy nhiên trên thực tế các doanh nghiệp đổ vỡ do sự biến động này không nhiều
và chủ yếu tập trung vào những năm đầu vì đây là giai đoạn hết sức khó khăn và đầy biến
10
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
động trên thị trờng Việt Nam, còn thời gian từ 1991 đến nay có thể nói ngân hàng nhà n-
ớc đã kiểm soát đợc tình hình nhng để đạt đợc một tỷ giá chuẩn xác hơn chúng ta còn
phải cố gắng nhiều. Vấn đề chuyển đổi tiền tệ của các doanh nghiệp có vốn đầu t nớc
ngoài. Nếu nh với các nớc khác vấn đề ngoại tệ là thứ yếu thì với Việt Nam, việc bảo đảm
ngoại tệ cho các doanh nghiệp lại trở nên hết sức khẩn thiết mà ai trực tiếp làm vấn đề
này mới thấy đợc.
Tiếng kêu than của các nhà đầu t đã làm đau đầu các nhà chức trách. Hàng ngày
ngân hàng nhà nớc liên tục phải tiếp, giải thích những chất vấn của các nhà đầu t về vấn
đề này.
Vấn đề này thực sự phát sinh từ khi nghị định 396/Ttg và đặc biệt sau công văn
67/CV-NH của ngân hàng nhà nớc gửi tới toàn bộ các ngân hàng thơng mại yêu cầu các
ngân hàng thơng mại chỉ đợc bán ngoại tệ cho các doanh nghiệp có vốn đầu t nớc ngoài
khi có giấy phép của ngân hàng nhà nớc.
Sau công văn 67/CV-NH các ngân hàng thơng mại đã không bán ngoại tệ cho các
doanh nghiệp nếu doanh nghiệp cha có giấy phép của ngân hàng nhà nớc và kết quả là
các doanh nghiệp này bị khủng hoảng về nguồn ngoại tệ. Nhu cầu ngoại tệ của họ quá
lớn trong khi nguồn thu ít không đủ đáp hngs mà đặc biệt là các doanh nghiệp sử dụng
nguyên liệu nhập ngoại. Trong khi lợng ngoại tệ dùng để bán cho các doanh nghiệp này
chỉ khoảng 130 triệu USD/năm. Trớc khó khăn đó buộc ngân hàng nhà nớc phải tìm biện
pháp khắc phục vì mặc dù nó là vấn đề không chỉ ảnh hởng đến các dự án đang hoạt động
mà còn ảnh hởng đến việc thu hút vốn đầu t trực tiếp sau này.
11
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
Tỷ giá giữa USD và đồng Việt Nam năm 1999
(tính trung bình trong tháng) Đơn vị: đồng/USD
Thời gian
Ngân hàng ngoại thơng Thị trờng tự do
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Tháng 1 13.883 13.888 13.861 13.885
Tháng 2 13.880 13.884 13.864 13.899
Tháng 3 13.899 13.902 13.911 13.937
Tháng 4 13.901 13.905 13.919 13.942
Tháng 5 13.907 13.912 13.922 13.942
Tháng 6 13.915 13.920 13.935 13.956
Tháng 7 13.941 13.947 13.964 13.984
Tháng 8 13.955 13.962 13.978 13.988
Tháng 9 13.975 13.981 14.012 14.039
Tháng 10 13.990 14.004 14.000 14.025
Tháng 11 14.007 14.017 14.029 14.045
Tháng 12 14.015 14.021 14.123 14.135
Nguồn: Vụ quản lý ngoại hối, Ngân hàng Việt Nam
Nguyên nhân của tình trạng này có thể nói trớc hết là ở phía các nhà doanh
nghiệp. Vì theo giấy phép của SCCI cấp các doanh nghiệp có vốn đầu t nớc ngoài phải tự
cân đối nhu cầu thu chi ngoại tệ của họ và coi đây nh một điều kiện khi thẩm định dự án.
Các doanh nghiệp đã chấp nhận yêu cầu này, nhng trên thực tế qua nhiều năm hoạt động
12
13800
13850
13900
13950
14000
14050
1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12
Mua vào
Bán ra
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
họ vẫn cha có sản phẩm xuất khẩu hoặc xuất khẩu qúa ít dó đó không cân đối đợc nhu
cầu ngoại tệ của họ. Hơn nữa các cơ quan quản lý thiếu thông tin cho các doanh nghiệp,
các văn bản hớng dẫn cha hoàn chỉnh dẫn đến nhiều doanh nghiệp tự coi mình là doanh
nghiệp sản xuất hàng thay thế hàng nhập khẩu thì họ sẽ đợc bảo đảm nhu cầu ngoại tệ
bằng biện pháp nh:
- Mua ngoại tệ tại các ngân hàng thơng mại
- Thanh toán bằng hàng hoá có giá trị tơng đơng
Cho nên vấn đề ngoại tệ sẽ không thành vấn đề đối với các doanh nghiệp này. Các
doanh nghiệp quan niệm rằng họ sản xuất những mặt hàng mà Việt Nam phải nhập khẩu
từ nớc ngoài thì đó là hàng thay thế nhập khẩu. Những nhận thức đó là hoàn toàn sai lầm
vì hàng thay thế nhập khẩu phải nằm trong danh mục hàng thay thế nhập khẩu do uỷ ban
kế hoạch nhà nớc công bố trong từng năm.
Tỷ giá giữa USD và đồng Việt Nam năm 2000
(tính trung bình trong tháng) Đơn vị: đồng/USD
Thời gian Ngân hàng ngoại thơng Thị trờng tự do
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Tháng 1 14039 14042 14139 14171
Tháng 2 14055 14059 14109 14142
Tháng 3 14060 14062 14090 14117
Tháng 4 14062 14064 14104 14130
Tháng 5 14061 14085 14186 14200
Tháng 6 14084 14086 14185 14210
Tháng 7 14089 14091 14165 14186
Tháng 8 14104 14106 14185 14211
Tháng 9 14161 14163 14328 14366
Tháng 10 14305 14307 14460 14475
Tháng 11 14450 14452 14645 14682
Tháng 12 14509 14511 14581 14610
13
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
Nguồn: Vụ quản lý ngoại hối, Ngân hàng Việt Nam
Trong năm 2000, chính sách quản lý ngoại hối tiếp tục đổi mới theo hớng nới lỏng
các giao dịch ngoại lai, khuyến khích thu hồi nguồn vốn ngoại tệ vào Việt Nam thông
qua việc cho phép đợc nhận tiền chuyển từ nớc ngoài về bằng ngoại tệ hoặc VND, không
phải đóng thuế, cho phép ngời c trú là cá nhân đợc gửi tiết kiệm bằng ngoại tệ không kể
nguồn gốc từ các tổ chức tín dụng đợc phép hởng lãi suất bằng ngoại tệ, đợc rút ra cả gốc
và lãi bằng ngoại tệ, bán ngoại tệ cho các doanh nghiệp có vốn đầu t nớc ngoài và bên n-
ớc ngoài tham gia hợp đồng hợp tác kinh doanh Trong năm 2000, NHNN đã phối hợp
với Bộ Tài chính thực hiện mua bán ngoại tệ từ ngân sách nhà nớc nhằm bổ sung nguồn
ngoại tệ để điều tiết thị trờng, đáp ứng cho nhu cầu nhập khẩu.
Bên cạnh việc tiếp tục thực hiện biện pháp kết hối từ năm 1997, NHNN đã thực
hiện linh hoạt nhiều biện pháp khác thông qua công tác điều hành tỷ giá, mua bán ngoại
tệ trên thị trờng tiền tệ liên ngân hàng, quản lý trạng thái ngoại tệ nhằm hạn chế tình
trạng đầu cơ ngoại tệ, tăng nhanh vòng quay ngoại tệ hiện có nhằm đáp ứng nhu cầu nhập
khẩu. Việc NHNN tiếp tục đổi mới cơ chế quản lý ngoại hối đã góp phần giảm sự mất
cân đối cung cầu ngoại tệ trên thị trờng, giải quyết khó khăn về câù ngoại tệ của các
doanh nghiệp, đẩy mạnh hoạt động xuất nhập khẩu, tăng nguồn thu ngoại tê.
Trong bốn tháng đầu năm 2001, tỷ giá biến động ổn định, từ tháng 5/2001 đến
nay, tỷ giá có xu hớng tăng, mức tăng tỷ giá bình quân trên thị trờng ngoại tệ liên ngân
hàng 6 tháng đầu năm là 2,2% so với tỷ giá cuối năm 2000; tỷ giá trên thị trờng tự do
tăng khoảng 2,8%. Từ tháng 7 đến tháng 9/2001, tỷ giá trên thị trờng ngoại tệ liên ngân
hàng biến động khoảng 2% và thị trờng tự do biến động 2,1%. Nhìn dài hạn, ta có thể
thấy tỷ giá trên thị trờng tự do so với chỉ số tiêu dùng trên thị trờng xã hội (CPI) biến
14
13800
13900
14000
14100
14200
14300
14400
14500
14600
1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12
Mua vào
Bán ra
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét