Thứ Tư, 12 tháng 2, 2014

Trình bày sự tích lũy tư bản về mặt định tính và về mặt định lượng. Ý nghĩa của việc nghiên cứu

Nguồn gốc duy nhất của tích lũy t bản là giá trị thặng d và tích lũy t bản
chiếm một tỉ lệ ngày càng lớn trong toàn bộ t bản. C.Mác nói rằng t bản ứng ra
ban đầu chỉ là một giọt nớc trong dòng sông mêmh mang của sự tích lũy t bản
mà thôi.
Tích lũy t bản gây ra sự biến chất trong quan hệ sản xuất t bản chủ nghĩa:
làm quyền sở hữu trong nền kinh tế hàng hoá biến thành quyền chiếm đoạt t bản
chủ nghĩa. Trong sản xuất hàng hoá giản đơn, quyền sở hữu hàng hoá dựa trên
cơ sở lao động bản thân của ngời sản xuất nhỏ, việc trao đổi giữa họ đợc thực
hiện một cách bình đẳng, không có việc ngời này chiếm đoạt lao động của ngời
khác. Còn trong nền sản xuất t bản chủ nghĩa, ngời sở hữu hàng hoá là nhà t
bản. Quyền sở hữu hàng hoá này dẫn đến quyền chiếm hữu lao động không
công của công nhân, C.Mác gọi là chiếm hữu t bản chủ nghĩa. Bởi vì trong hàng
hoá đó có giá trị lớn hơn giá trị mà nhà t bản bỏ ra để đợc quyền sở hữu. Song,
sự chiếm hữu t bản chủ nghĩa không phải nảy sinh từ sự vi phạm quy luật giá trị,
mà trái lại tuân thủ đúng quy luật đó. Quy luật giá trị là quy luật của sản xuất và
lu thông hàng hóa. Quy luật này đòi hỏi các hàng hoá trao đổi với nhau theo
nguyên tắc ngang giá. Một bên, ngời công nhân bán sức lao động, nhận đợc giá
trị món hàng của mình; còn một bên, nhà t bản là ngời mua sức lao động, nhận
đợc giá trị sử dụng của món hàng ấy. Quy luật giá trị không liên quan gì tới việc
tiêu dùng hàng hóa, miễn là trớc tiên khi tiêu dùng đã có trao đổi ngang giá rồi.
Cho nên trong hàng hoá, ngoài phần chi phí t liệu sản xuất và tiền công ra, còn
có thêm khoản giá trị thặng d nữa để tích lũy t bản, không phải vì ngời bán
(công nhân) đã bị lừa bịp, mà do ngời mua (nhà t bản) đã tiêu dùng hàng hoá đó.
Sự tích lũy t bản khác sự tích lũy ban đầu. Tích lũy ban đầu là tích lũy
ngay trên cơ sở nền sản xuất cơ bản. Tích lũy ban đầu có trớc tích lũy t bản
nhằm tạo điều kiện cho sự ra đời của phơng thức sản xuất t bản chủ nghĩa, đó là
đội quân lao động làm thuê và tích lũy tiền tệ để lập ra những xí nghiệp t bản
bằng biện pháp bạo lực là chủ yếu. Theo C.Mác, cái gọi là tích lũy ban đầu
5
chẳng qua chỉ là một quá trình lịch sử tách rời ngời sản xuất ra khỏi t liệu sản
xuất. Nó là ban đầu vì nó là tiền sử của t bản và phơng thức sản xuất phù hợp
với t bản.(C.Mác và Ph.Ăngghen: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, 1993,
t.23, tr.997).
Chúng ta biết rằng không nên lẫn lộn tích lũy t bản với việc trữ của với
việc tạo ra nguồn dự trữ, nhng cũng không nên lẫn lộn tích lũy t bản với tái sản
xuất mở rộng nói chung: không có tái sản xuất theo quy mô ngày càng mở rộng
thì không có tích lũy t bản, nhng không phải bất cứ tái sản xuất mở rộng nào
cũng là tích lũy t bản, chỉ trong một thời đại lịch sử nhất định, khi mà t liệu sản
xuất và vật phẩm tiêu dùng đợc tích lũy độc lập với ngời sản xuất nh là một lực
lợng thù địch với họ và bóc lột họ, thì tái sản xuất mở rộng mới trở thành tích
lũy t bản.
3. Động cơ của tích lũy t bản:
Động lực thúc đẩy tích lũy t bản trớc hết là do quy luật giá trị thặng d -
quy luật kinh tế tuyệt đối của chủ nghĩa t bản. Quy luật này chỉ rõ mục đích sản
xuất của nhà t bản là tối đa hóa giá trị thặng d. Thực hiện động cơ đó các nhà t
bản phải không ngừng tích lũy, mở rộng sản xuất, coi đó là phơng tiện căn bản
để tăng cờng bóc lột công nhân.
Khi sản xuất t bản chủ nghĩa càng phát triển, đòi hỏi t bản bỏ vào trong
một xí nghiệp phải lớn lên không ngừng, và sự cạnh tranh làm cho những quy
luật nội tại của nền sản xuất t bản chủ nghĩa trở thành những quy luật bên ngoài,
có tính cách cỡng bức đối với mỗi nhà t bản cá biệt.Sự cạnh tranh buộc các nhà
t bản, nếu muốn t bản của mình ngày càng tăng, quy mô sản xuất ngày càng lớn,
kĩ thuật sản xuất ngày càng hiện đại, nhằm tăng năng xuất lao động, nâng cao số
lợng, chất lợng và hạ giá cả hàng hóa, thì chỉ có thể thực hiện bằng cách tăng c-
ờng tích lũy t bản.
Tích lũy t bản còn do yêu cầu mở rộng sự thống trị của t bản trên phạm vi
thế giới và chinh phục thế giới của cải.
6
Từ trớc tới đây, khi nghiên cứu về giá trị thặng d, khi thì coi nó là quỹ
tiêu dùng, khi thì coi là quỹ tích lũy của nhà t bản. Thực ra nó đồng thời là cả
hai thứ. Một phần của giá trị thặng d, coi là thu nhập thì bị nhà t bản tiêu dùng
một cách chu kì hoặc bị nhà t bản nhập vào quỹ tiêu dùng, còn phần kia thì đợc
tích lũy lại làm t bản. Nh vậy, khối lợng giá trị thặng d đợc phân chia thành t
bản và thu nhập. Từ đó rút ra kết luân: thu nhập và t bản (tức bộ phận giá trị
thặng d t bản hoá ) thay đổi theo tỉ lệ nghịch: thu nhập càng nhiều thì t bản càng
ít và ngợc lại. Nh vậy là có mâu thuẫn giữa tích luỹ và tiêu dùng. Đó chính là
tấm bi kịch của nhà t bản - cuộc xung đột giữa tính ham mê tích luỹ và ham mê
hởng lạc.
Nhà t bản chỉ có giá trị lịch sử, có lí do tồn tại trong xã hội, chừng nào
còn làm chức năng của t bản nhân cách hoá. Vậy mục đích quyết định sự hoạt
động của nhà t bản không phải giá trị sử dụng, không phải sự hởng thụ, mà là
giá trị trao đổi, là sự tăng lên không ngừng của giá trị đó. Họ chỉ có thể coi sự
tiêu dùng cá nhân là một thứ ăn cắp, hay ít nhất cũng là một thứ vay mợn của số
tích lũy. Nh vậy trong buổi đầu của sản xuất t bản chủ nghĩa, lòng ham muốn
làm giàu của các nhà t bản thờng chi phối tuyệt đối.
Phơng thức sản xuất t bản chủ nghĩa phát triển và cùng với nó, sự tích lũy
và của cải cũng phát triển theo, nhà t bản không còn đơn thuần là hiện thân của
t bản nữa. Họ có thể coi việc t bản hoá giá trị thặng d là một trở ngại cho sự h-
ởng thụ của mình. Nh vậy đến một trình độ phát triển nhất định, sự tiêu dùng xa
phí của các nhà t bản ngày càng tăng lên theo sự tích lũy t bản, thâm chí nó còn
bắt buộc nhà t bản bất hạnh phải tiêu xài xa phí, một sự xa phí hoàn toàn
theo tập tục,vừa là sự phô trơng giàu có, vừa là thủ đoạn để vay mợn (C.Mác:
T bản, tiếng Nga, q.I, tr597). Cùng với sự phát triển hơn nữa của chủ nghĩa t bản
cuộc xung đột đó đợc giải quyết bằng cách tăng giá trị thặng d tới mức có thể
vừa dùng vào sự tiêu dùng đầy đủ, vừa dùng vào sự tích luỹ cũng không kém
phần đầy đủ.
7
II. Những nhân tố ảnh hởng đến quy mô của tích lũy t bản:
Với một khối lợng giá trị thặng d nhất định thì quy mô tích lũy t bản phụ
thuộc vào tỉ lệ phân chia khối lợng giá trị thặng d đó thành quỹ tích lũy và quỹ
tiêu dùng của nhà t bản.Trong trờng hợp này, nếu tích lũy t bản tăng thì tiêu
dùng của nhà t bản sẽ giảm và ngợc lại. Đó là mâu thuẫn giữa tích lũy và tiêu
dùng của nhà t bản mà ta đã nói ở trên.
Nhng nếu tỉ lệ phân chia khối lợng giá trị thặng d thành quỹ tích lũy và
tiêu dùng của nhà t bản đã xác định, còn giá trị thặng d là một lợng thay đổi thì
tất cả những yếu tố có ảnh hởng đến sự thay đổi lợng giá trị thặng d đều có ảnh
hởng đến quy mô của tích lũy. Những nhân tố đó là:
Nhân tố 1: Trình độ bóc lột sức lao động
Trình độ bóc lột sức lao động biểu hiện ở tỉ suất giá trị thặng d, do đó nó
ảnh hởng đến tích lũy. Nhng nó còn ảnh hởng đến tích lũy ở một mặt khác nữa.
Khi nghiên cứu sự sản xuất giá trị thặng d, C.Mác giả định tiền công ít ra
cũng bằng giá trị sức lao động. Sở dĩ nh vậy là do yêu cầu của việc giải thích về
giá trị thặng d và t bản trên cơ sở các quy luật của lu thông hàng hóa. Để chứng
minh giá trị thặng d không thể xuất phát từ chỗ tiền công không nhất trí với giá
trị sức lao động, mà trái lại cần chứng minh giá trị thặng d ra đời ngay cả khi
sức lao động đã đợc trả công đầy đủ.
Nhng bây giờ, khi nghiên cứu những nhân tố ảnh hởng đến tích lũy thì
phải tính đến tình hình thực tế.Trong thực tế, có nhiều trờng hợp nhà t bản đã
tìm mọi cách hạ thấp tiền công của công nhân thấp hơn giá trị sức lao động của
họ để tăng thêm quỹ tích lũy. Điều này chứng tỏ nhà t bản không chỉ chiếm đoạt
lao động thặng d mà còn chiếm đoạt cả một phần lao động tất yếu của công
nhân để làm tăng sự giàu có của mình. Việc cắt xén tiền công giữ vai trò quan
trọng trong quá trình tích lũy t bản.
Nâng cao mức độ bóc lột bằng cách tăng cờng độ lao động và kéo dài
ngày lao động rõ ràng làm tăng thêm giá trị thặng d, do đó làm tăng bộ phận giá
8
trị thặng d đợc t bản hoá, tức làm tăng tích lũy. Thông thờng, muốn nâng cao
khối lợng giá trị thặng d, nhà t bản phải mở rộng sản xuất, tức là phải tăng thêm
thiết bị, máy móc, nhà xởng và thuê thêm công nhân. Nhng trong trờng hợp kéo
dài ngày lao động hay tăng cờng độ lao động, nhà t bản chỉ cần tăng thêm
nguyên liệu một cách tơng ứng với việc sử dụng triệt để công sức máy móc hiện
có. Cái lợi ở đây là không cần chi thêm t bản để mua thêm máy móc, thiết bị và
xây dựng thêm nhà xởng, t liệu lao động khấu hao nhanh hơn, hao mòn vô hình
và chi phí bảo quản giảm đợc nhiều hơn. Đồng thời bắt số công nhân hiện có
cung cấp thêm một lợng lao động, bằng cách tăng cờng độ lao động hoặc kéo
dài thời gian lao động mà không cần tăng thêm t bản khả biến để thuê công
nhân.
Riêng đối với những ngành công nghiệp khai thác tự nhiên nh ngành dầu
khí, ngành than, đánh bắt cá biển, v.v., đối tợng lao động là những tặng vật tự
nhiên, t bản bất biến hầu nh chỉ có t liệu lao động. Cho nên chỉ cần nhờ vào tính
co giãn của sức lao động hiện có để tăng quy mô tích lũy t bản mà không cần
ứng t bản để mua nguyên liệu. Tơng tự trong ngành sản xuất nông nghiệp, khi
đã có một số t bản ứng trớc để mua công cụ, giống, phân bón, v.v. chỉ cần bắt số
lao động hiện có cung cấp thêm một lợng lao động lớn hơn, sẽ nâng cao độ phì
nhiêu của đất làm cho khối lợng nông sản tăng lên. Đây là sự tác động trực tiếp
của con ngời đối với tự nhiên để tăng quy mô tích lũy mà không cần đến sự có
mặt của một t bản mới. Trong công nghiệp chế biến, nguyên liệu do hai ngành
trên cung cấp, cho nên một số sản phẩm tăng thêm do hai ngành trên sản xuất ra
mà không cần phải chi phí thêm t bản, cũng có lợi cho ngành này.
Từ sự phân tích trên, C.Mác kết luận: một khi nắm đợc hai nguồn gốc
đầu tiên tạo ra của cải là sức lao động và đất đai, thì nhà t bản có một sức bành
trớng cho phép nó tăng những yếu tố tích lũy của nó lên quá những giới hạn d-
ờng nh đợc quy định bởi đại lợng của bản thân t bản, tức là bởi những giá trị và
9
khối lợng của những t liệu sản xuất đã sản xuất ra, trong đó t bản đang tồn
tại.(sđd, t.23, tr851).
Nhân tố 2: trình độ năng suất lao động xã hội
Việc nâng cao năng suất lao động làm tăng thêm giá trị thặng d, do đó
tăng thêm bộ phận giá trị thặng d đợc t bản hóa. Mặt khác, năng suất lao động
tăng lên thì khối lợng sản xuất làm ra tăng lên và giá trị của một hàng hóa giảm
xuống, do đó giá cả t liệu sản xuất và t liệu tiêu dùng sẽ giảm. Kết quả này đa
đến: 1) Với một khối lợng giá trị thặng d nhất định, phần tích lũy có thể lấn sang
phần tiêu dùng, nhng tiêu dùng của nhà t bản vẫn bằng hoặc cao hơn trớc và 2)
với một khối lợng giá trị thặng d nhất định giành cho tích lũy, cũng có thể mua
đợc khối lợng t liệu sản xuất và sức lao động phụ thêm nhiều hơn trớc. Nh vậy,
quy mô tích lũy t bản không chỉ phụ thuộc vào khối lợng giá trị thặng d dành
cho tích lũy nhiều hay ít, mà còn phụ thuộc vào khối lợng t liệu sản xuất và t
liệu tiêu dùng do khối lợng giá trị thặng d đó chuyển hóa đợc. Cho nên sự giàu
có của xã hội và khả năng không ngừng tái sản xuất mở rộng sự giàu có đó
không phải chủ yếu là do độ dài thời gian lao động thặng d mà chủ yếu là do
năng suất của lao động thặng d quy định.
Năng suất lao động tăng lên còn ảnh hởng đến số lợng t bản bất biến đang
hoạt động. Vì nếu năng suất lao động tăng cùng với sự tiến bộ không ngừng của
khoa học - kĩ thuật trong các ngành sản xuất ra t liệu sản xuất cho phép ngời ta
sản xuất ra những t liệu sản xuất mới có năng lực sản xuất cao hơn, giá trị của
nó chuyển vào một sản phẩm nhỏ hơn để thay thế những t liệu sản xuất cũ. Do
đó, t bản cũ đợc tái sản xuất ra dới một hình thức có năng suất cao hơn. Cũng do
năng suất lao động tăng, làm chp giá trị và khối lợng t liệu sản xuất do khối lợng
lao động nhất định sử dụng tăng lên, giá trị t bản cũ đợc chuyển sang sản phẩm
mới cùng một lúc tăng lên. Giá trị này đợc bảo tồn dới hình thức có ích mới và
do đó có thể lại hoạt động với t cách là t bản.
10
Sự tiến bộ của khoa học - kĩ thuật cho phép ngời ta biến những vật thải
trong tiêu dùng sản xuất và tiêu dùng cá nhân của xã hội, vốn là những vật
không có giá trị thành những yếu tố phụ thêm cho tích lũy mà không cần tăng
thêm t bản. Nh vây, khoa học - kĩ thuật đã tạo cho t bản đang hoạt động một
năng lực mở rộng mà không phụ thuộc vào khối lợng t bản đã cho sẵn. Sự tiến
bộ trong lĩnh vực hóa học, cho phép ngời ta phát hiện ra những vật liệu mới và
công dụng mới của vật liệu đang sử dụng, nhờ đó mà phạm vi đầu ra của tích
lũy t bản đợc mở rộng.
Nhân tố 3: sự chênh lệch giữa t bản sử dụng và t bản tiêu dùng
T bản sử dụng là toàn bộ khối lợng giá trị máy móc, thiết bị, nhà xởng,
súc vật kéo v.v. mà trong quá trình sản xuất thờng lặp đi lặp lại, đều hoạt động
với toàn quy mô hiện vật của chúng nhằm đạt tới một hiệu quả nhất định. T bản
tiêu dùng là bộ phận giá trị của những t liệu lao động đã hao mòn dần trong quá
trình sản xuất và đợc chuyển từng phần vào sản phẩm mới. Do đó có sự chênh
lệch giữa t bản sử dụng và t bản tiêu dùng. Đó là bộ phận giá trị đợc sử dụng nh-
ng cha đợc tính vào sản phẩm.
Nh vậy, t liệu lao động là những thứ đợc dùng để tạo ra sản phẩm, chúng
đợc sử dụng toàn bộ, nhng chỉ đợc tiêu dùng từng phần giá trị của nó, cho nên
các t liệu lao động đó có đặc tính phục vụ không công giống nh các lực lợng tự
nhiên: nớc, không khí v.v Sự phục vụ không công này nhiều hay ít là do tầm
quan trọng của mỗi thứ. Máy móc càng hiện đại thì sự chi phí bằng phần giá trị
của máy chuyển vào một sản phẩm càng nhỏ, sự chênh lệch giữa t bản sử dụng
và t bản tiêu dùng càng lớn. Do đó t bản lợi dụng đợc những thành tựu của lao
động quá khứ càng nhiều. Sự phục vụ không công của lao động quá khứ nói trên
là nhờ lao động sống nắm lấy và làm cho nó sống lại, sẽ đợc tích lũy lại cùng
với quy mô ngày càng tăng của tích lũy t bản.
Nhân tố 4: quy mô của t bản ứng trớc
11
Nếu tỉ suất giá trị thặng d không thay đổi thì khối lợng giá trị thặng d chỉ
có thể tăng lên khi lợng t bản ứng trớc để mua sức lao động tăng lên. Và khi t
bản khả biến tăng lên thì t bản bất biến cũng phải tăng lên theo một quan hệ tỉ lệ
nhất định. Do đó muốn tăng khối lợng giá trị thặng d để nâng quy mô tích lũy t
bản thì phải tăng khối lợng t bản ứng trớc.
Và khi đại lợng t bản ứng trớc càng lớn, thì quy mô sản xuất càng mở
rộng, kĩ thuật sản xuất càng hiện đại, do đó các động lực thúc đẩy sản xuất giá
trị thặng d càng có tác động mạnh mẽ, quy mô tích lũy t bản càng lớn.
Tóm lại, để nâng cao quy mô tích lũy t bản, cần phải khai thác tối đa lực
lợng lao động để tác động vào tự nhiên, tăng năng suất lao động, sử dụng triệt để
công suất máy móc, thiết bị và tăng quy mô t bản ứng trớc để mở rộng sản xuất
và đổi mới kĩ thuật.
III. ý nghĩa của việc nghiên cứu tích lũy t bản:
1. ý nghĩa lí luận:
Chủ nghĩa t bản trong quá trình phát sinh và phát triển đã thực hiện những
tất yếu kinh tế là tích lũy ban đầu và tích lũy t bản để từ đó đi lên sản xuất lớn.
Nó thực hiện tích luỹ tích tụ và tập trung t bản. Tích tụ t bản là sự tăng thêm quy
mô của t bản cá biệt bằng cách t bản hoá giá trị thặng d, là kết quả trực tiếp của
tích lũy t bản. Tập trung t bản là sự tăng thêm quy mô của t bản cá biệt bằng liên
kết hay xác nhập t bản cá biệt có sẵn trong xã hội thành t bản cá biệt khác lớn
hơn.
Chủ nghĩa t bản đã khai thác các nhân tố để làm tăng quy mô của tích lũy
t bản: tăng cờng bóc lột sức lao động của công nhân bằng cách kéo dài ngày lao
động hay tăng cờng độ lao động; khai thác tối đa các lực lợng lao động để tác
động vào tự nhiên, nghiên cứu, phát minh và ứng dụng những tiến bộ khoa học -
kĩ thuật, công nghệ mới để nâng cao năng suất lao động; sử dụng triệt để công
suất máy móc, thiết bị và tăng quy mô của t bản ứng trớc để mở rộng sản xuất
12
và đổi mới kĩ thuật. Toàn bộ của cải mà các nhà t bản tích lũy đợc sau một thời
gian là kết quả của việc chiếm đoạt giá trị thặng d do lao động không công của
giai cấp công nhân tạo ra. Cố nhiên dẫn tới sự phân chia xã hội thành hai cực đối
lập: tích lũy sự giàu có về phía giai cấp t sản và tích lũy sự nghèo khổ về phía
giai cấp công nhân. Quy mô, tốc độ tích lũy càng cao, giai cấp t sản càng giàu
có nhanh chóng, giai cấp vô sản càng thất nghiệp và bần cùng. Sự bần cùng đó
đợc thể hiện ở: tỉ trọng thu nhập của giai cấp công nhân trong tổng sản phẩm
quốc dân giảm, mặc dù thu nhập tuyệt đối có thể tăng, trong khi đó tỉ trọng thu
nhập của giai cấp t sản trong thu nhập quốc dân tăng nhiều; mức sống công
nhân giảm sút, sự giảm sút không chỉ trong trờng hợp tiêu dùng cá nhân bị giảm
xuống tuyệt đối, mà cả khi tiêu dùng cá nhân tăng nhng mức tăng đó chậm hơn
mức tăng của nhu cầu.
Cuối cùng, C.Mác đã rút ra quy luật phổ biến của của tích lũy t bản: Của
cải xã hội càng nhiều, t bản hoạt động càng lớn, quy mô và cờng động của sự
tăng thêm t bản càng lớn, và do đó đại lợng tuyệt đối của giai cấp vô sản và sức
lao động của họ càng lớn, thì đội quân thất nghiệp trừ bị càng đông. Nhng đội
quân công nghiệp trừ bị càng đông so với đội quân lao động tại ngũ, thì số nhân
khẩu thừa cố định lại càng thêm đông đảo và sự nghèo khổ của họ tỉ lệ thuận với
sự dày vò của lao động của đội quân lao động tại ngũ. Sau hết, những tầng lớp
cùng khổ trong giai cấp công nhân càng đông và đội quân công nghiệp trừ bị
càng lớn, thì sự bần cùng chính thức càng lớn.(sđđ, tr.907).
Khi phơng thức sản xuất t bản chủ nghĩa đã hình thành thì quá trình tích
lũy và cạnh tranh dẫn đến t bản sản xuất đợc tập trung ngày càng lớn, do đó sản
xuất đợc xã hội hoá cao hơn, lực lợng sản xuất đợc phát triển mạnh hơn. Điều đó
làm mâu thuẫn giữa tính xã hội của sản xuất với chế độ t hữu t bản chủ nghĩa
hình thành và ngày càng phát triển. Sự phát triển của mâu thuẫn này tất yếu dẫn
đến sự thay thế xã hội t bản bằng xã hội khác cao hơn, tiến bộ hơn. Đó là xu h-
13
ớng lịch sử của tích lũy t bản, xu hớng tạo ra những tiền đề vật chất và tiền đề xã
hội cao cho sự phủ định đối với chủ nghĩa t bản.
2. ý nghĩa thực tiễn:
Nghiên cứu tích lũy t bản có ý nghĩa thực tiễn đối với nớc ta trong quá
trình công nghiệp hoá (CNH), hiện đại hoá (HĐH) hiện nay.
Để CNH, HĐH, đi lên sản xuất lớn tất yếu phải tích lũy. Đảng và Nhà n-
ớc ta đã xác định, tích lũy vốn là điều kiện có tầm quan trọng bậc nhất để thực
hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa xã hội chủ nghĩa. Thật vậy, sau hơn 10 năm
đổi mới, nớc ta đã chuyển sang một thời kì mới - thời kì đẩy mạnh CNH, HĐH
đất nớc với nhiệm vụ khó khăn: xây dựng cơ cấu kinh tế hợp lí, đẩy mạnh cuộc
cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại đi đôi với tiếp nhận chuyển giao
công nghệ mới từ nớc ngoài. Nh vậy đòi hỏi nớc ta phải có nguồn vốn lớn để cải
tạo điều kiện phát triển con ngời, chuyển dần lao động chân tay sang lao động
trí óc, từng bớc thực hiện phân công lại lao động xã hội; cần vốn để phát triển
một số ngành công nghiệp nặng, để nâng cấp, phát triển cơ sở hạ tầng, giao
thông vân tải, phát triển các vùng kinh tế; việc trang bị kĩ thuật ngày càng hiện
đại cho nền kinh tế quốc dân chỉ có thể thực hiện đợc khi có vốn để đẩy mạnh
nghiên cứu, ứng dụng những thành tựu khoa học công nghệ hiện đại và thực
hiện chuyển giao công nghệ.
Trớc yêu cầu trên, đòi hỏi đất nớc ta phải khai thác mọi nhân tố để làm
tăng tích lũy vốn. Cụ thể là:
Đối với nguồn tích lũy từ nội bộ nền kinh tế quốc dân - đây đợc xem là
nguồn chủ yếu, có vai trò quyết định - đợc thực hiện trên cơ sở nâng cao hiệu
quả sản xuất, nguồn của nó là lao động thặng d của ngời lao động thuộc tất cả
các thành phần kinh tế, vì vậy con đờng cơ bản để tăng tích lũy vốn trong nớc là
tăng năng suất lao động trên cơ sở ứng dụng tiến bộ khoa học - kĩ thuật, công
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét