Bảng ký hiệu chữ viết tắt
CTĐT = Chuyển tiền điện tử
NHA = Ngân hàng A
NHB = Ngân hàng B
NHNN = Ngân hàng nhà nớc
NHNo&PTNT = Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn
NHĐT&PT = Ngân hàng đầu t và phát triển
NHTM = Ngân hàng thơng mại
TMĐT = Thơng mại điện tử
TTTT = Trung tâm thanh toán
NHNoVN = Ngân hàng nông nghiệp Việt Nam
TTKDTM = Thanh toán không dùng tiền mặt
5
Lời nói đầu
I. Tính cấp thiết của đề tài:
Tốc độ phát triển nh vũ bão của ngành công nghệ thông tin đã đem lại cho con ng-
ời những tiến bộ vợt bậc trong đời sống kinh tế - xã hội. Dặc biệt với sự phát triển
nhanh chóng của nền kinh tế thế giới trong những năm qua thì xu hớng khu vực
hoá, toàn cầu hoá đã trở thành một xu thế tất yếu khách quan. Viêt Nam không
nằm ngoài xu thế này với việc tham gia vào những tổ chức, diễn đàn kinh tế khu
vực và quốc tế, các hiệp đinh thơng mại song phơng và đa phơng. Hội nhập kinh tế
quốc tế là một bớc đi đúng đắn mở ra cho Việt Nam những cơ hội mới, tạo điều
kiện cho Việt Nam không ngừng nâng cao vị thế của mình trên trờng quốc tế, trên
cơ sở tiếp thu và ứng dụng khoa học công nghệ, về cơ chế quản lý của các nớc
phát triển.Tuy nhiên hội nhập kinh tế cũng đặt Việt Nam trớc những thách thức
lớn cần đợc giải quyết, đặc biệt trong lĩnh vực tài chính và ngân hàng vì đây là lĩnh
vực có vai trò quyết định mức độ hội nhập kinh tế.
Từ trớc đến nay, hệ thống ngân hàng vẫn luôn đợc coi là hệ tuần hoàn của nền
kinh tế. Hệ thống ngân hàng hoạt động thông suốt, lành mạnh sẽ là tiền đề để các
nguồn tài chính đợc luân chuyển, sử dụng có hiệu quả, kích thích tăng trởng kinh
tế một cách bền vững.Trong những năm vừa qua ngành ngân hàng chúng ta đã có
những bớc phát triển cả về lợng và về chất. Trong quá trình hội nhập kinh tế, mức
độ cạnh tranh giữa các ngân hàngtrong nớc và nớc ngoài là hết sức gay gắt đặt
ngân hàng trớc sự lựa chọn: Tồn tại hay không tồn tại. Muốn tồn tại và phát triển
ngân hàng không ngừng đổi mới và cải cách, đặc biệt là nâng cao năng lực quản lý
trong lĩnh vực ngân hàng, tăng cờng hợp tác quốc tế giac các ngân hàng thơng mại
trong hoạt động kinh doanh tiền tệ - một hoạt động mang lại nguồn lợi nhuận
khổng lồ. Để có thể phát triển và hội nhập với nền kinh tế khu vực và trên thế gới,
thì việc đầu t đổi mới hiện đại hoá công nghệ thanh toán và công nghệ ngân hàng
là điều kiện tiên quyết. Dịch vụ thanh toán điện tử đã trở nên phát triển trên thế
giới. Tuy nhiên dịch vụ thanh toán điện tử ở nớc ta nói chung, ngân hàng nói riêng
đang ở bớc tiếp cận ban đầu, còn nhiều vấn đề phải làm. Mặt khác với mục tiêu là
một ngân hàng đang nỗ lực đổi mới công nghệ và áp dụng các dịch vụ ngân hàng
tiên tiến thì việc nâng cao chất lợng của hoạt động chuyển tiền điện tử của ngân
hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Nam Hà Nội là một đòi hỏi khách quan
Xuất phát từ những lý do trên kết hợp với tình hình thực tế tại đơn vị thực tập
mà đề tài Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động chuyển tiền điện tử tại
6
NHNo&PTNT Nam Hà Nội đợc chọn làm nội dung chính để nghiên cứu trong
khoá luận này.
II. Mục đích nghiên cứu:
- Hệ thống hoá lý luận về hoạt động chuyển tiền điện tử của ngân hàng thơng mại
- Phân tích đánh giá công tác thanh toán và chuyển tiền điện tử của NHNo&PTNT
Nam Hà Nội
- Đề xuất giải pháp và kiến nghị nâng cao hiệu quả hoạt động chuyển tiền điện tử
III. Đối tợng phạm vi và thời gian nghiên cứu:
Phân tích làm sáng tỏ về mặt lý luận của hoạt động chuyển tiền điện tử, đánh
giá thực trạng thanh toán và chuyển tiền điện tử tại NHNo&PTNT Nam Hà Nội, từ
đó da ra kién nghị giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động CTĐT, phục vụ tốt
hơn cho nhu ccàu phát triển kinh tế (không xét đến dịch vụ thanh toán mà ngân
hàng cung cấp cho khách hàng). Thời gian nghiên cứu từ năm 2002-2003.
IV. Phơng pháp nghiên cứu:
Phơng pháp phân tích, phong pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch sử và ph-
ơng pháp so sánh, phân tích thống kê làm công cụ chủ đạo để thực hiện đề tài này.
Cấu trúc khoá luận:
Ngoài phần mở đầu và kết luận, danh mục và danh mục và tài liệu tham
khảo, khoá luận bao gồm các chơng sau:
- Chơng 1: Lý luận chung về hoạt động CTĐT qua ngân hàng
- Chơng 2: Chuyển tiền điện tử với hoạt động kinh doanh của NHNo&PTNT
Nam Hà Nội
- Chơng 3: Một số giải pháp và kiến nghị nâng cao hiệu quả hoạt động CTĐT
7
Chơng 1
lí luận chung về hoạt động chuyển tiền điện tử
qua ngân hàng
1.1. khái niệm và vai trò của chuyển tiền điện tử trong nhtm
1.1.1. Khái niệm về chuyển tiền điện tử.
a. Khái niệm về thanh toán vốn giữa các ngân hàng
Ngân hàng là một trong những trung gian tài chính lớn nhấtcủa nền kinh
tế, nghiệp vụ kinh doanh ngân hàng rất đa dạng và phong phú. Dù hoạt động dới
hình thức nào cũng đợc kết thúc ở việc thanh toán quyết toán do đó thanh toán là
một chức năng quan trọng của ngân hàng. Tuỳ thuộc vào mối liên hệ giữa các
ngân hàng( cùng hệ thống hay khác hệ thống) mà các ngân hàng áp dụng cac ph-
ơng thức thanh toán khác nhau. Hiện nay thanh toán vôn giữa các ngân hàng có
thể thực hiện theo năm phơng thức chủ yếu sau:
- Thanh toán liên hàng trong cùng hệ thống
- Thanh toán bù trừ khác hệ thống
- Thanh toán uỷ nhiệm thu hộ, chi hộ
- Thanh toán qua tài khoản tiền gửi tại ngân hàng Nhà nớc
- Mở tài khoản lẫn nhau để thanh toán
Thanh toán liên hàng
Thanh toán liên hàng là quan hệ thanh toán giữa các chi nhánh ngân hàng
trong nội bộ hệ thống phát sinh trên cơ sở nghiệp vụ thanh toán không dùng tiền
mặt giữa các ngân hàng có mở tài khoản tiền gửi thanh toán ở các chi nhánh ngân
hàng khác nhau hoặc các nghiệp vụ chuyển tiền, điều hoà vốn trong nội bộ hệ
thống ngân hàng
Tuỳ theo đặc điểm và điều kiện về ứng dụng công nghệ thông tin riêng
mà mỗi ngân hàng xây dựng cho mình một hệ thống thanh toán một cách thích
hợp. Có những hệ thống ngân hàng tổ chức hệ thống thanh toán liên hàng toàn hệ
thống nhng có một số hệ thống ngân hàng, bên cạnh hệ thống TTLH toàn hệ thống
còn thiết lập thêm hệ thống TTLH nội tỉnh để phục vụ cho việc thanh toán giữa
các chi nhánh ngân hàng trong cùng một tỉnh, một thành phố và thực hiện kiểm
soát, đối chiếu liên hàng nội tỉnh theo sự uỷ quyền của cấp TƯ
Hiện nay Việt Nam có các hệ thống thanh toán liên hàng sau:
- Hệ thống thanh toán liên hàng của NHNN
- Các hệ thống thanh toán liên hàng của các NHTM NN
8
- Các hệ thống thanh toán của các NHTM cổ phần
- Các hệ thống thanh toán của các chi nhánh NH nớc ngoài
- Hệ thống thanh toán của kho bạc Nhà nớc
Trong thanh toán liên hàng tiến hành các nghiệp vụ thanh toán liên hàng
theo sự uỷ nhiệm chi của hệ thống thanh toán liên hang mà họ tham gia nên không
phải trực tiếp thanh toán vốn với nhau. Việc thanh toán vốn giữa các đơn vị ngân
hàng thông qua kiểm soát, đối chiếu liên hàng và theo dõi số d tài khoản liên hàng
di, liên hàng đến của các đơn vị liên hàng tại trung tâm thanh toán ( nếu là thanh
toán liên hàng toàn hệ thống ) Và chi nhánh ngân hàng cấp tỉnh ( nếu là thanh toán
liên hàng nội tỉnh).Nh vậy tuy đơn vị ngân hàng tham gia thanh toán liên hàng
không phải là đơn vị kinh tế hạch toán độc lập nhng là đơn vị hạch toán nội bộ
phải có đầy đủ vốn để đảm bảo hoạt động tanh toán liên hàng nói riêng. Trờng hợp
thiếu vốn thì phải nhận vốn điều hoà của hệ thống và phải chịu chi phí trả lãi nhận
điều hoà.
Thanh toán bù trừ giữa các ngân hàng
Thanh toán bù trừ giữa các ngân hàng (TTBT) là phơng thức thanh toán
vốn giữa các ngân hàng đợc thực hiện bằng cách bù trừ tổng số phải thu, phải trả
để thanh toán số chênh lệch ( kết quả bù trừ). TTBT phát sinh trên cơ sở các
khoản tiền hàng hoá, dịch vụ của khách hàng mở tài khoản ở các ngân hàng khác
nhau hoặc thanh toán vốn của bản thân ngân hàng. TTBT đợc áp dụng giữa các
ngân hàng khác hệ thống với nhau hoặc có thể áp dụng giữa các đơn vị ngân hàng
thuộc cùng một hệ thống ngân hàng. Tuỳ thuộc vào phơng pháp trao đổi chứng từ,
chuyển số liệu mà có cơ chế TTBT trên cơ sở chứng từ giấy (TTBT giấy) và TTBT
điện tử .Đối với các chứng từ giấy, các ngân hàng, tổ chức tín dụng và Kho Bạc
Nhà nớc, kể cả các đơn vị trực thuộc đợc phép làm dịch vụ thanh toán tham gia
TTBT đợc gọi là ngân hàng thành viên. Các ngân hàng thành viên phải mở tài
khoản tại tiền gửi tại ngân hàng chủ trì. Đối với TTBT khác hệ thống thì các ngân
hàng thành viên phải mở tài khoản tiền gửi tại ngân hàng chủ trì là NHNN trên địa
bàn. Ngân hàng chủ trì chịu trách nhiệm tổng hợp các kết quả thanh toán bù của
các ngân hàng thành viên. Ngân hàng chủ trì đợc quyền trích tài khoản tiền gửi
của ngân hàng thành viên để thanh toán. TTBT có thể tổ chức trong phạm vi địa
bàn ( nội thành, nội thị và các đơn vị ngân hàng có cự li gần đẻ đảm bảo giao nhận
chứng từ TTBT theo phiên giao dịch trong ngày), hoặc có thể tổ chức TTBT theo
khu vực hay toàn quốc.
9
Hiện nay do trình độ phát triển của công nghệ thông tin,các ngân hàng có
thể thực hiện TTBT với nhau theo phơng thức bù trừ điện tử thông qua hệ thống
thanh toán điện tử liên ngân hàng của NHNN, theo đó các NHTM chỉ phải mở
một tài khoản duy nhất tại NHNN và thực hiện toàn bộ các giao dịch thanh toán
của ngân hàng mình qua tài khoản này.Nếu trớc kia, mọi hoạt động thanh toán
diễn ra giữa các ngân hàng đợc tổ chức phân tán tại các chi nhánh NHNN trên địa
bàn thì hiện nay việc thực hiện từ khâu xử lý chứng từ đến khâu thanh toán đều đ-
ợc kết nối với tất cả thành viên. Nhờ đó giúp cho NHNN và các ngân hàng thành
viên hàng ngày có thể nhận biết, kiểm tra và tổng hợp đợc toàn bộ hoạt động thanh
toán toàn hệ thống của mình với các ngân hàng khác một cách nhanh chóng. Vì
thế các ngân hàng có thể cân đối nguồn vốn và sử dụng một cách kịp thời, khi cần
thiết có thể vay và cho các ngân hàng khác vay từ đó nâng cao hiệu quả sử dụng
vốn của toàn hệ thống.
Thanh toán qua tài khoản của NHNN
Thanh toán qua tài khoản tiền gửi tại NHNN dợc áp dụng đối với những
ngân hàng khác hệ thống khác địa bàn đều mở tài khoản tại NHNN (cùng hoặc
khác chi nhánh, sở giao dịch NHNN).
Việc thanh toán giữa các ngân hàng theo phơng thức này đợc thực hiện
từng lần theo số tiền ghi trên bảng kê các chứng từ thanh toán.Ngân hàng bên trả
tiền lập bảng kê kèm chứng từ gốc gửi đến NHNN nơi mở tài khoản yêu cầu
NHNN trích tài khoản nhà nớc thanh toán trả cho ngời thụ hởng. Nếu ngân hàng
của nguời thụ hỏng và ngân hàng của ngời trả tiền cùng mở tài khoản tại cùng
một chi nhánh NHNN thì việc thanh toán rất đơn giản, chi nhánh NHNN chỉ cần
căc cứ vào các chứng từ gốc đợc gửi đến để hạch toán vào các tài khoản tiền gửi t-
ơng ứng.Nếu hai NHTM này mở tài khoản tại các chi nhánh NHNN khác nhau thì
chi nhánh NHNN phải căn cứ vào chứng từ gốc để lập lệch chuyển tiền di nơi
ngân hàng của ngời thụ hởng mở tài khoản. Hiện nay NHNN đã xây dựng riêng
một hệ thống CTĐT nên việc thanh toán theo phơng thức này càng trở nên đơn
giản, nhanh chóng và chính xác hơn.
Thanh toán uỷ nhiệm thu hộ chi hộ
Uỷ nhiệm thu hộ, chi hộ là phơng thức thanh toán đợc áp dụng đối với
ngân hàng cùng hệ thống hoặc khác hệ thống theo sự thoả thuận cam kết với nhau,
ngân hàng sẽ thực hiện thu hộ chi hộ cho ngân hàng kia trên cơ sở chứng từ thanh
toán của khách hàng có mở tài khoản của ngân hàng kia.
10
Để thực hiện phơng thức thanh toán này thì hai ngân hàng phải tiến hành
kí kết hợp đồng với nhau để thống nhất với nhau về nguyên tắc, thủ tục và nội
dung thanh toán.Việc thu hộ, chi hộ giữa hai ngân hàng chỉ đợc tiến hành trong
phạm vi những khoản thanh toán đã đợc thoả thuận và qui định trong hợp đồng.
Mở tài khoản lẫn nhau để thanh toán
Phơng thức nay có thể áp dụng giữa hai ngân hàng cùng hệ thống hoặc
khác hệ thống với điều kiện ngân hàng kia để hạch toán các khoản thanh toán qua
lại giữa hai ngân hàng và các ngân hàng phải đăng kí mẫu dấu chữ ký của ngời có
thẩm quyền ra lệnh thanh toán với nhau. Ngân hàng phát sinh nghiệp vụ thanh
toán có trách nhiệm lập chứng từ thanh toán (nếu là tài khoản của chính mình)
Hoặc bảng kê có kèm theo chứng từ thanh toán của khách hàng (đối với khoản
thanh toán của khách hàng) gửi tới ngân hàng có quan hệ tiền gửi để yêu cầu
thanh toán.
Trên đây là năm phơng thức mà các ngân hàng có thể sử dụng để thanh
toán cho nhau , tuỳ thuộc vào từng điều kiện cụ thể mà mỗi ngân hàng có thể lựa
chọn cho mình phơng thức thanh toán thích hợp. Ngày nay, cùnh với sự phát triẻn
của khoa học kĩ thuật cũng nh phần mềm thanh toán hiện đại ra đời đã hỗ trỡ đắc
lực cho công tác thanh toán của ngay càng trở nên nhanh chóng và chính xác.
Nh vậy: Thanh toán vốn giữa các ngân hàng là nghiệp vụ thanh toán
qua lại giữa cá ngân hàng nhằm tiếp tục quá trình hình thanh toán tiền giữa
các xí nghiệp, tổ chức kinh tế, cá nhân với nhau mà họ không cùng mở tài
khoản tại một ngân hàng hoặc thanh toán vốn trong nội bộ các hệ thống ngân
hàng
b. Khái niệm thanh toán CTĐT
Thanh toán là việc thực hiện nghĩa vụ trả tiền hoặc chuyển tiền giữa các
tổ chức cá nhân. Hoạt động thanh toán là việc mở tài khoản, thực hiện dịch vụ
thanh toán của các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán và việc mở tài khoản, sử
dụng dịch vụ thanh toán cuẩ ngời sử dụng dịch vụ thanh toán.Thanh toán có thể
thực hiện dới hình thai vô cùng đơn giản, tồn tại duới dạng trao đỏi vật chất nh
hàng đổi hàng, chi trả bằng tiền mặt và cho đến nay ngời ta có thể thực hiện dịch
vụ thanh toán hoàn toàn phi vật chất: thanh toán điện tử.Thanh toán điện tử đợc
thực hiện thông qua các ngân hàng, các ngân hàng cung ứng các phơng tiện thanh
toán, thực hiện các giao dịch thanh toán trong và quốc tế, thực hiện thu hộ, chi hộ
và các loại dịch vụ khác theo yêu cầu của ngời thực hiện dịch vụ thanh toán
11
Thanh toán liên hàng điện tử hay chuyển tiền điện tử (CTĐT) là phơng
thức thanh toán vốn giữa các đơn vị liên hàng trong cùng một hệ thống bằng ch-
ơng trình phần mềm chuyển tiền điện tử với sự trợ giúp của hệ thống máy tính và
hệ thống mạng truyền tin nội bộ.
Chuyển tiền điện tử áp dụng phơng thức Kiểm soát tập trung, đối chiếu
tập trung. Do việc kiểm soát và đối chiếu đợc tập trung tại TTTT và kết thúc ngay
trong ngày nên đảm bảo tất cả các chuyển tiền đợc kiểm soát trớc khi trả tiền cho
khách hàng, từ đó đảm bảo an toàn tài sản.
Theo văn bản qui trình nghiệp vụ CTĐT (ban hành theo quyết định số 516
ngày 26/07/2000 của Tổng giám đốc NHNo&PTNT Việt Nam) thì: Chuyển tiền
điện tử là quá trình xử lý một khoản chuyển tiền qua mạng máy tính, kể từ khi
nhận đợc lệnh chuyển tiền của ngời phát lệnh đến khi hoàn tất việc thanh toán
cho ngời thụ huởng (đối với chuyển tiền Có) hoặc thu tiền từ ngời nhận lệnh
(đối với lệnh chuyển Nợ).
1.1.2. vai trò của thanh toán chuyển tiền điện tử
Thanh toán giữa các ngân hàng qua chuyển tiền điện tử có vai trò quan
trọng trong quá trình luân chuyển vốn an toàn, nhanh chóng và hiệu quả
a. Đối với khách hàng:
Giúp thực hiện việc thanh toán hộ cho khách hàng chính xác, an toàn,
nhanh chóng và hiệu quả
Bằng khả năng nghề nghiệp và chuyên môn cao cũng nh đợc sự trợ giúp
của các phơng tiện kỹ thuật hiện đại, các ngân hàng có thể thanh toán cho khách
hàng một cách nhanh chóng, chính xác và an toàn nhất, đồng thời có thể cập nhật
thờng xuyên, liên tục số d tài khoản, tình hình thanh toán của các ngân hàng.
Ngoài ra, bằng khả năng nắm bắt tổng hợp các thông tin kinh tế cũng nh am hiểu
trong nhiều lĩnh vực kinh doanh, ngân hàng cũng có thể t vấn cho khách hàng cách
làm ăn có hiệu quả nhất
b. Đối với ngân hàng
Thanh toán điện tử thực hiện điều hoà vốn một cách nhanh chóng
trong nội bộ hệ thống giữa các ngân hàng và góp phần củng cố, phát triển mối
quan hệ giữa các ngân hàng
Thanh toán vốn giữa các ngân hàng có tác dụng điều hoà vốn trong nội bộ
hệ thống ngân hàng với nhau và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn.Do nhu cầu vốn
của các chủ thể trong nền kinh tế là luôn biến động nên không ngân hàng nào có
thể đảm bảo chắc chắn là lợng vốn của mình có thể đáp ứng ngay đợc tất cả mọi
12
nhu cầu phát sinh. Chính vì thế mà ngân hàng thiếu vốn sẽ nhận đợc sự điều
chuyển của ngân hàng thừa vốn, ngân hàng thừa vốn sẽ không lâm vào tinh trạng
huy động quá nhiều nhng không cho vay đợc mà vẫn phải trả lãi tiền gửi cho
khách còn ngân hàng thiếu vốn sẽ không phải chịu lãi suất tiền cao hơn lãi suất
huy động do phải đi vay nóng của các tổ chức tín dụng khác để duy trì hoạt động
kinh doanh. Ngoài ra các ngân hàng thừa vốn còn đợc tăng thêm thu nhập do đợc
hởng lãi suất điều hoà vốn
Bằng việc thực hiện dịch vụ thanh toán cho khách hàng, ngân hàng có thể
huy động một khối lợng vốn lớn với chi phí thấp.
Thanh toán vốn giữa các ngân hàng còn góp phần củng cố và phát triển
mối quan hệ giữa các ngân hàng với nhau nếu họ thanh toán một cách sòng phẳng
nhanh chóng
c. Đối với nền kinh tế:
Tăng nhanh tốc độ tập trung thanh toán của ngân hàng đối với nền
kinh tế quốc dân và phát huy vai trò giám đốc đối với nền kinh tế.
Thực hiện tốt nhiệm vụ thanh toán vốn giữa các ngân hàng góp phần thúc
đẩy thanh toán không dùng tiền mặt phát triển, giảm lọng tiền mặt trong lu thông,
do đó góp phần giảm chi phí lu thông xã hội nh: in tiền, vận chuyển, bảo quản, cất
giữ tiền mặt, tạo điều kiện cho việc điều hành chính sách tiền tệ của NHNN và
hạn chế rủi ro.
Hầu nh tất cả các loại hình doanh nghiệp thực hiện kinh doanh đều có tài
khoản tại ngân hàng nên bằng việc theo dõi tình hình thanh toán giữa các ngành
nghề, các lĩnh vực kinh tế của khách hàng trong toàn bộ nền kinh tế ngân hàng có
thể đánh giá đợc ngành nào có khả năng phát triển từ đó t vấn đợc cho Chính phủ
đầu t vào lĩnh vực kinh tế đó, góp phần thúc đẩy nền kinh tế phát triển.
Nh vậy có thể thấy thực hiện tốt công tác thanh toán chuyển tiền điện tử
không chỉ có ý nghĩa to lớn đối với toàn bộ nền kinh tế, với các ngân hàng mà còn
đem lại lợi ích cho cả tổ chức, cá nhân thực hiện thanh toán qua ngân hàng.
1.2. Các căn cứ pháp lý về hoạt động ctđt
Năm 1993, NHNN Việt Nam đã có những quy định đầu tiên về việc phát
hành và thanh toán thẻ nhằm tạo điều kiện hành lang pháp lý cho việc bắt đầu phát
hành, sử dụng thanh toán thẻ. Đồng thời NHNN cũng rất khuyến khích các cá
nhân, tổ chức sử dụng tài khoản ngân hàng và thanh toán qua ngân hàng. Các văn
bản chính hớng dẫn có liên quan đến hoạt động CTĐT gồm:
13
Quyết định 308/QĐ/NH2 do thống đốc Ngân hàng nhà nớc Việt Nam ban hành
ngày 16/9/1997 về qui chế lập, sử dụng, kiểm soát, xử lý, bảo quản và lu trữ chứng
từ điện tử của các ngân hàng và tổ chức tín dụng
Quyết định số 353/1977/QĐ-NHNN2 do Thống đốc NHNN Việt Nam ban
hành ngày 22/10/1997 về qui chế CTĐT.
Nghị định 64/2001/NĐ-CP do chính phủ ban hành ngày 20/9/2001 về hoạt
động thanh toán qua các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán: quy định về hoạt
động thanh toán qua các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán bao gồm các quy
định về mở tài khoản, thực hiện dịch vụ thanh toán, tổ chức và tham gia các hệ
thống thanh toán của tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán: mở tài khoản, sử dụng
dịch vụ thanh toán của ngời sử dụng dịch vụ thanh toán.
QĐ số 44/2002/QĐ-TTG do thủ tớng chính phủ ngày 21/3/2002 về việc sử dụng
chứng từ điện tử làm chứng từ kế toán để hạch toán và thanh toán vốn của các tổ
chức cung ứng dich vụ thanh toán.
Cụ thể, chứng từ điện tử là hình thức của lệch thanh toán đợc sử dụng trong thanh
toán điện tử, thay thế cho chứng từ bằng giấy đợc truyền đi giữa các ngân hàng
qua mạng vi tính. Chứng từ điện tử đợc tạo trên hệ thống máy vi tính thông qua
việc chuyển hoá chứng từ giấy thành chứng từ điện t. Khi chuyển hoá phải đảm
bảo đúng mẫu đã đợc cài đặt trong máy, đầy đủ các yếu tố của chứng từ điện tử và
chính xác với số liệu. Chơng trình thanh toán điện tử đã cài sẵn các chứng từ nh:
giấy nộp tiền, ngân phiếu thanh toán, uỷ nhiệm chi, séc chuyển khoảnChứng từ
điện tử đủ điều kiện lu hành phải đợc thể hiện dới dạng dữ liẹu điện tử, đợc mã
hoá không bị thay đổi trong quá trình chuyển mạng máy tính hoặc trên mạng
mang tin nh băng từ, đĩa từ và các loại thẻ thanh toán.
Chứng từ điện tử đợc chuyển hoá thành chứng từ giấy để vừa làm căn cứ để hạch
toán tài khoản điều chuyển vốn vừa làm chứng từ cho khách hàng.
Nội dung chứng từ điện tử bao gồm: các nội dung cơ bản của chứng từ giấy thông
thờng:
1. Tên gọi của chứng từ (ví dụ: uỷ nhiệm chi, uỷ nhiệm thu)
2. Số, ký hiệu chứng từ và ký hiệu loại nghiệp vụ
3. Ngày, tháng, năm lập chứng từ điện tử, ngày giá trị của chứng từ điện
tử
4. Tên, địa chỉ, số hiệu tài khoản của đơn vị cá nhân chuyển tiền
5. Tên, địa chỉ, tài khoản của đơn vị cá nhân thụ hởng
6. Tên, địa chỉ, mã ngân hàng thanh toán
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét