Thứ Hai, 10 tháng 2, 2014

Các Giải pháp nâng cao khả năng cạnh tranh của mặt hàng chè nhằm tăng sản lượng XK ra thị trường quốc tế

Sản lợng chè tăng chủ yếu là do nhóm năm nớc sản xuất và xuất khẩu chè
chính (tăng khoảng 20 ngàn tấn). Thị trờng cung cấp chè vẫn tập trung chủ yếu
vào một số nớc sản xuất lớn nh ấn Độ với sản lợng đạt 870 ngàn tấn; Srilanca
đạt 320 ngàn tấn và riêng năm nớc ấn Độ, Srilanca, Trung Quốc, Kenia và
Inđônêxia đã chiếm trên 85% sản lợng chè thế giới (bảng 1).
Bảng 1: Cung chè thế giới theo thị trờng
Đơn vị tính: 1.000 tấn
Năm
ấn Độ
Srilanka Kênia Trung
Quốc
Inđônêxia Các nớc
khác
Tổng
cộng
So với năm
trớc (%)
1999 806 284 249 200 165 288 1.992 - 7,3
2000 870 315 245 200 170 300 2.100 5,4
2001 870 320 260 200 170 312 2.132 1,5
2002 890 320 280 200 170 325 2.185 2,5
2003
(*)
890 320 300 200 170 335 2.215 1,4
Nguồn: Hội đồng chè Quốc tế (ITC) và Cơ quan dự báo kinh tế (EFU) năm 2002. (*)
Số ớc tính, Hiệp hội chè Việt Nam.
Ghi chú: Số liệu bao gồm cả chè đen và chè xanh.
Theo FAO, sản lợng chè thế giới năm 2002 so với năm 2001 tăng 2,5%
(khoảng 3.097 ngàn tấn) do sản xuất chè ở nhiều nớc đạt mức sản lợng khá cao,
đặc biệt là Srilanca, ấn Độ. Bên cạnh đó, Việt Nam và Achentina đã cải thiện đ-
ợc tình trạng canh tác chè. Trong năm 2002, sản lợng tăng trởng mạnh không
chỉ trong những nớc trên và một số nớc cung cấp chè lớn ở Đông Phi, mà cả
những nớc nhập khẩu lớn nh Pakistan, Iran, Nêpan và Etiopia.
1.2. Nhu cầu.
(3)
Tiêu thụ chè trên thế giới không chỉ của các nớc nhập khẩu, mà còn bao
gồm cả bản thân các nớc sản xuất (nội tiêu).
Phần lớn các nớc xuất khẩu chè là các nớc đang phát triển và chậm phát
triển, nghèo nàn về kinh tế. Nhng sau chiến tranh, một số nớc thuộc địa đã lần l-
ợt giành đợc độc lập; theo đà nâng cao các điều kiện kinh tế và đời sống, lợng
chè nội tiêu đã tăng lên rất lớn. Nhu cầu chè ở các nớc đang phát triển tăng,
3
(3)Nguyễn Tiến Cơ, Tổng quan thị trờng chè thế giới, Tạp chí Ngời làm chè số 5, Tổng công ty chè Việt Nam
-năm 2001, trang 21
5
ngoài nguyên nhân tăng trởng dân số, còn do tác dụng bảo vệ sức khỏe của chè
ngày càng hấp dẫn con ngời.
Theo đánh giá của các chuyên gia trong nhóm các nớc sản xuất kinh
doanh chè của Tổ chức Nông lơng Quốc tế, đến những năm cuối thế kỷ 20 đã
có trên một nửa dân số thế giới uống chè. Hầu hết các nớc đều có ngời uống chè
trong đó có khoảng 160 nớc sử dụng chè thờng xuyên. Mức tiêu thụ bình quân
đầu ngời một năm trên toàn thế giới là 0,5kg/ ngời/ năm. Những nớc có mức
tiêu dùng bình quân đầu ngời cao là: Quata 3,2 kg; Ailen 3,09 kg; Anh 2,87 kg;
Thổ Nhĩ Kỳ 2,72 kg; Iraq 2,51 kg; Coet 2,23 kg; Tuynidi 1,82 kg; Ai Cập 1,44
kg; Srilanca 1,41 kg; ảrập Xêut 1,4 kg; Xury 1,26 kg; Australia 1,22 kg; Nhật
0,99 kg; Moroco 0.97 kg; Chilê 0,93 kg; BaLan, Pakistan 0,86 kg; Nga 0,85 kg;
ấn Độ, Trung Quốc, Mỹ có mức tiêu dùng bình quân trên đầu ngời thấp tơng
ứng 0,55 kg; 0,3 kg và 0,45 kg nhng dân số đông nên lại là những nớc tiêu dùng
lợng chè hàng năm rất lớn: ấn Độ là 620 - 650 ngàn tấn; Trung Quốc: 430-450
ngàn tấn; Mỹ: 90-100 ngàn tấn. Các nớc Anh, Nga, Nhật, Pakistan cũng là
những nớc tiêu dùng chè mỗi năm từ trên 100 ngàn tấn đến dới 200 ngàn tấn.
Còn những nớc nh Moroco, Đức, Pháp, Balan, Iran, Iraq, Ai Cập, Thổ Nhĩ Kỳ
sức tiêu thụ chè hàng năm cũng từ 30-70 ngàn tấn.
Thời kì 1999 -2001, nớc Anh ổn định ở ghế thứ nhất; ngợc lại Nga đã từ
ghế thứ 5 nhảy vọt lên ghế thứ 2; Pakistan đã nhảy lên ghế thứ 3; đồng thời, Mĩ
từ nớc nhập khẩu chè thứ 3 đã tụt xuống vị trí thứ 4; Nhật xếp thứ 5 và Irắc vị trí
thứ 6.
Tình hình trên cho thấy trong tỉ trọng tiêu thụ chè thế giới đã xuất hiện xu
thế chuyển dần từng bớc, từ nớc đơn thuần nhập khẩu chè sang các nớc sản xuất
chè, từ Châu Âu sang Châu á, từ Tây Âu sang Đông Âu, từ các nớc phát triển
sang các nớc đang phát triển.
Theo thống kê của Hiệp hội Chè Thế giới, đến năm 2001, thế giới có 26 n-
ớc tiêu thụ sản lợng chè hàng năm tơng đối lớn; Châu á 11 nớc, Châu Phi 6 n-
ớc, Châu Âu 5 nớc, Châu Mỹ 3 nớc và Châu úc 1 nớc. Việt Nam là nớc có mức
6
tiêu dùng trên đầu ngời còn thấp (0,3 kg) nhng lợng tiêu dùng một năm cũng đã
trên 20 ngàn tấn.
Các nớc phát triển ở Tây Âu và Mỹ có tập quán uống chè với đờng, sữa
phù hợp với cách uống của cà phê, cocacola nên rất coi trọng các loại chè có
màu nớc đỏ tơi sáng, vị nồng mạnh đậm đà, ngọt mát, hàm lợng chất tan không
dới 32%. Ngoài ra, do nhịp sống xã hội khẩn trơng nên họ a thích các loại chè
tan nhanh tiện lợi nh chè mảnh CTC, chè bột, chè túi nhúng, Vì vậy trong
những năm gần đây nhu cầu chè đen mảnh CTC đã tăng rất nhanh ở các nớc
này. Tỷ trọng chè bột và túi nhúng trong tổng nhu cầu tiêu dùng ở một số nớc
Tây Âu và Mỹ cũng đang ngày càng nhiều.
Chè xanh trong thời gian này cũng đang dần dần đợc nhiều ngời tiêu dùng
a thích.
Năm 2001 mức tiêu thụ chè thế giới ớc đạt 2,072 triệu tấn, tăng 2,4%
(khoảng 49 ngàn tấn) so với năm 2000, trong đó năm nớc tiêu thụ chè chủ yếu
là ấn Độ, CIS, Anh, Pakistan và Hoa Kỳ (chiếm khoảng 58,5% tổng mức tiêu
thụ thế giới) tăng 50 ngàn tấn và các nhóm nớc khác giảm 1 ngàn tấn. Tiêu thụ
chè thế giới trong năm này đã phục hồi so với năm 2000 và cao hơn 0,9% so với
tốc độ tăng trởng của mức cung. Sang năm 2002 và 2003 tình hình nhu cầu trên
thế giới đang có xu hớng chững lại (bảng 2).
Hiện nay, thị trờng chè thế giới đang ở giai đoạn bão hòa, có thể nhận thấy
sản lợng sản xuất ra giữa các năm có sự chênh lệch không đáng kể. Do vậy
những ngời làm chè đang nỗ lực để chuyển sang chú trọng hơn nữa đến chất l-
ợng trong khi về số lợng đã tơng đối đáp ứng đủ.
Bảng 2: Cầu chè thế giới theo thị trờng
Đơn vị tính: 1.000 tấn
Năm
ấn Độ
CIS Anh Pakistan Hoa Kỳ Thị trờng
khác
Tổng cộng So với năm
trớc (%)
1999 650 182 137 108 90 835 2.005 - 1,6
2000 663 160 135 112 93 860 2.023 0,9
2001 667 1.900 135 116 95 859 2.072 2,4
2002 396 190 133 120 95 885 2.116 2,1
7
2003
(*)
710 200 132 125 97 894 2.158 2,0
Nguồn: Hội đồng chè Quốc tế (ITC) và Cơ quan dự báo kinh tế (EFU) năm 2002.
(*) Số ớc tính, Hiệp hội chè Việt Nam.
Một trong những sản phẩm chè đợc chú ý đến trong chiến lợc này, đó là
chè an toàn thực phẩm và chè hữu cơ. Theo tổ chức lớn nhất thế giới về chứng
nhận các vờn chè hữu cơ (IOTP), thì tính đến tháng 12/2001, tổng số diện tích
trồng chè trên thế giới đợc quản lý theo cách hữu cơ là 72.650 ha, trong đó 63%
(4.589 ha) hãy còn đang trong quá trình chuyển đổi cách chăm sóc (quy định số
2092/91 của EU là hết năm thứ ba). Điều này có nghĩa là trong ít năm tới, khối
lợng chè hữu cơ đa ra giao dịch trên thị trờng sẽ tăng mạnh.
2. Các nớc cung cấp và xuất khẩu chè chủ yếu trên thế giới.
2.1. Tình hình chung
Trong mấy năm gần đây, những nớc cung cấp và xuất khẩu chè nhiều trên
thế giới phải kể đến ấn Độ, Trung Quốc, Srilanca, Kênia, Inđônêxia, Achentina,
Uganđa, Bănglađét, Đài Loan, Thổ Nhĩ Kỳ, Nhật Bản, Iran và Việt Nam. Về lu
thông chè, có thể chia thành 4 loại hình:
- Nội tiêu là chính, nhng xuất khẩu vẫn lớn nh ấn Độ, Trung Quốc.
- Xuất khẩu là chính, nội tiêu ít nh Srilanca, Kênia, Inđônêxia, Malavi,
Achentina, Bănglađét và Việt Nam.
- Nội tiêu là chính nhng nhập khẩu lớn nh Liên Xô, Nhật Bản, Iran.
- Nội tiêu là chính, xuất khẩu ít là Thổ Nhĩ Kỳ.
Thế kỷ XIX, chè xuất khẩu Trung Quốc đứng đầu thế giới, nhng vào thế
kỷ XX ấn Độ và Srilanca vợt lên trên; sau 1950 Trung Quốc mới phát triển trở
lại, năm 1990 chiếm 17,9% thị phần thế giới, so với ấn Độ 17,8%, Srilanca
19,1%. Xuất khẩu chè của Inđônêxia, Kênia, Uganđa, Bănglađét, Achentina
cũng liên tục phát triển. Do đó từ một nớc Trung Quốc xuất khẩu chè độc nhất
và sớm nhất thế giới, đã tăng lên hơn 10 nớc (trớc 1938) và đến nay đang tăng
lên trên 30 nớc.
2.2. Một số nớc xuất khẩu chè lớn trên thế giới

.
(4)
4(4)
Đỗ Kim Oanh, Thị trờng chè thế giới-Hiện thực và xu thế phát triển, Tạp chí Kinh tế và khoa học kỹ thuật
số 3, Hiệp hội chè Việt Nam-năm 1999, trang18,19
8

Srilanka: Trong những năm gần đây sản lợng chè của Srilanka tăng
nhanh. Nhờ đó, xuất khẩu chè cũng tăng khá mạnh. Năm 1997 xuất khẩu đạt
268.000 tấn cho thấy nớc này đã đợc đứng vào vị trí nớc xuất khẩu chè lớn nhất
thế giới. Năm 1998 doanh thu về xuất khẩu chè tại nớc này tăng 8,4% đạt 779,7
triệu Đô la Mỹ. Tuy nhiên xuất khẩu chè của Srilanca năm 1998 gặp một số trở
ngại: Thị trờng xuất khẩu chè lớn của Srilanka là Nga và Cộng đồng các quốc
gia độc lập (SNG) chiếm 25% tổng lợng chè xuất khẩu của nớc này nhng kể từ
khi lâm vào tình trạng khủng hoảng kinh tế, Nga đã không có khả năng thanh
toán, nên Srilanka đã tạm ngừng xuất khẩu chè sang Nga. Mặc dù vậy, phía Nga
cam kết đảm bảo thanh toán cho Srilanca và đề nghị Srilanka vẫn tiếp tục xuất
khẩu chè cho họ. Từ sự kiện này buộc Srilanca vẫn phải tìm kiếm thêm thị tr-
ờng, bạn hàng mới để duy trì xuất khẩu. Và kết quả là Srilanka vẫn tiếp tục duy
trì đợc vị trí đứng đầu của mình về xuất khẩu chè trên thế giới với lợng xuất
khẩu năm 2000 là 281.352 tấn; năm 2001 là 282.900 tấn, năm 2002 là 290.325
tấn và năm 2003 ớc tăng lên 300.000 tấn.

ấn Độ: Đây là nớc sản xuất chè lớn nhất thế giới, đồng thời cũng là nớc
tiêu thụ chè lớn nhất thế giới. Mức tiêu thụ bình quân của ngời dân nớc này
chiếm khoảng 70% sản lợng. Chính vì vậy, nhiều khi ấn Độ phải nhập thêm
nhiều chè để điều phối cho xuất khẩu.
Trong các nớc nhập khẩu chè của ấn Độ, Nga là nớc chiếm nhiều nhất.
Tổng lợng xuất khẩu chè của ấn Độ năm 1998-1999 là 206.090 tấn, năm 2000
là 206.800 tấn, đến năm 2001 giảm đi chỉ còn 179.790 tấn. Năm 2002, xuất
khẩu có tăng lên một chút, đạt 198.000 tấn chè, trong đó có tới 40.250 tấn là
xuất khẩu sang Iraq, tăng gấp 3 lần so với năm 2001.
Tuy nhiên, các chuyên gia ngành chè ấn Độ cho biết, năm 2003, hoạt
động xuất khẩu của nớc này đang chịu tác động sâu sắc của cuộc chiến tranh
Iraq. Cuộc chiến này là đòn mới nhất đánh vào ngành chè của ấn Độ - vốn đã ở
trong tình trạng trì trệ 4 năm trở lại đây do giá và nhu cầu về chè trên thị trờng
Thành Nam, Các nớc xuất khẩu chè thế giới, Tạp chí Ngời làm chè số 17, Tổng công ty chè Việt Nam-năm
2003, trang 31
9
nội địa và quốc tế đều thấp. Hiệp hội chè ấn Độ (ITA) dự đoán xuất khẩu chè
của nớc này năm 2003 sẽ giảm 6% xuống còn 186.000 tấn, chủ yếu do sự sụp
đổ của thị trờng chính Iraq. Doanh thu xuất khẩu 6 tháng đầu năm nay, ấn Độ
giảm 28% so với cùng thời điểm năm trớc xuống còn 57.150 tấn. Mặc dù vậy,
xuất khẩu của nớc này sang Anh và Pakistan tăng lên. ITA dự đoán sẽ tăng 19%
lên 25.000 tấn chè sang Anh.

Trung Quốc: Trong những năm vừa qua, tình hình sản xuất và xuất khẩu
chè tại Trung Quốc không có biểu hiện sôi động rõ rệt. Mặc dù giá chè trên thế
giới trong những năm qua giảm mạnh song sản lợng chè của Trung Quốc không
bị ảnh hởng. Tuy nhiên xuất khẩu chè của Trung Quốc bị giảm nhiều và có
phần tụt hơn so với những nớc xuất khẩu chè chính trên thế giới. Xuất khẩu năm
1996: 169.670 tấn, năm 1997: 202.464 tấn, và tăng lên 227.854 tấn vào năm
2000 (trong đó chè đen là 55.115 tấn còn chè xanh là 172.739 tấn), năm 2001
đạt 255.059 tấn, tăng 11,9% so với năm trớc (trong đó chè đen chiếm 73.557
tấn còn chè xanh: 181.502 tấn).
Mấy năm gần đây, chè hữu cơ của Trung Quốc phát triển với tốc độ rất
nhanh. Dự tính trong năm 2003, chè hu cơ sẽ chiếm lĩnh thị trờng trong nớc.
Đây sẽ là động lực để Trung Quốc nâng cao toàn diện chất lợng chè xanh trong
cả nớc.

Kênia: Chính phủ Kênia đã tăng cờng đầu t vào cơ sở hạ tầng trong một
vài năm gần đây để cải tiến hơn nữa việc trồng và xuất khẩu chè, nhất là việc
xây dựng đờng xá ở các vùng trồng chè, thực hiện các biện pháp cải tiến cơ cấu,
trong đó có việc loại bỏ giám sát bán chè trên thị trờng nội địa, tạo điều kiện
thuận lợi cho việc cạnh tranh trong phân phối và đóng gói chè.
Cũng nhờ những cố gắng này sản lợng xuất khẩu của Kênia tăng đáng kể,
kim ngạch xuất khẩu năm 1998 là 264.311 tấn chè tăng 27% so với năm trớc.
Sau đó thì giảm dần và đến năm 2000 là 217.000 tấn; năm 2001 lại có xu hớng
tốt hơn, đạt 258.000 tấn. Xuất khẩu năm 2002 của nớc này đã đem lại 475,1
triệu USD. 6 tháng đầu năm 2003, do sản lợng chè ở Kênia tăng khoảng 2.000
10
tấn so với cùng kỳ năm ngoái, nên ngành chè Kênia phấn đấu tăng xuất khẩu
22% để bù lại cho việc giá xuất khẩu giảm. Những khách hàng thờng xuyên của
Kênia là Mĩ, Anh, Pakistan, Ai Cập, Afganistan, Sudan, Iran.

Inđônêxia: Có thể nói, Inđônêxia cũng là nớc có sản xuất và xuất khẩu
chè lớn trên thế giới. Sản lợng xuất khẩu của Inđônêxia chỉ đứng sau Srilanka,
ấn Độ, Trung Quốc, Kênia. Xuất khẩu năm 2000 đạt 105.597 tấn; năm 2001 là:
99.805 tấn. Và vào năm 2002, 2003 xuất khẩu của nớc này vẫn tiếp tục giảm.

Việt Nam: Từ năm 1995 đến nay, Việt Nam đã cải thiện vị trí của mình
một cách rõ rệt trong xuất khẩu chè. Năm 1998, Việt Nam vẫn còn đứng ở vị trí
thứ 15 trên thế giới về xuất khẩu chè thì đến nay Việt Nam đã vơn lên vị trí thứ
6. Đây là một thành tích đáng kể đối với ngành chè Việt Nam. Vào năm 1998,
xuất khẩu đã đạt mức kỷ lục là 18.890 tấn với doanh thu là 34,9 triệu USD. Vậy
mà chỉ sau 4,5 năm nớc ta đã tăng đợc lợng xuất khẩu của mình lên tới 68.000
tấn chè (trong đó 54.140 tấn chè đen và 13.860 tấn chè xanh). Con số này
không phải là quá lớn nhng cũng không phải là nhỏ đối với ngành chè của nớc
ta.
Các bạn hàng xuất khẩu chính của chè Việt Nam là Iraq, Pakistan, Nga
Năm 2003 là một năm có thể nói là khó khăn đối với xuất khẩu chè Việt Nam
vì chúng ta đã bị giảm một lợng xuất khẩu đáng kể sang Iraq, vì vậy mà Việt
Nam đang xúc tiến những công việc nhằm tăng chất lợng sản phẩm chè, khắc
phục những khó khăn mà thị trờng Iraq mang lại.
3. Các nớc tiêu thụ và nhập khẩu chè chủ yếu trên thế giới.
3.1. Tình hình chung
Thế giới hiện có 131 nớc nhập khẩu chè. Những nớc hàng năm nhập số l-
ợng lớn gồm có Nga, Anh từ 150 - 200 ngàn tấn/năm. Ngoài ra còn có Pakistan,
Mỹ hàng năm nhập từ trên 100 ngàn tấn đến 150 ngàn tấn. Nhật, Tiểu Vơng
quốc ả Rập Thống nhất, Ai Cập mỗi năm nhập từ 50-70 ngàn tấn. Các nớc Irắc,
Ba Lan, Đức, Moroco, Thổ Nhĩ Kỳ nhập từ 30 ngàn đến dới 50 ngàn tấn. Pháp,
Hà Lan, Canađa, Syria thấp hơn nữa, từ trên 20 ngàn đến dới 30 ngàn tấn.
11
Australia, Malaixia, Ukraiin, Ireland, Saudi Arabia, Nam Phi, Senegal,
Turkmenistan là những nớc đạt đợc con số rất khiêm tốn, chỉ trên 10 tấn.
Châu Âu: Nga và Đông Âu nhập khẩu chè ngày một nhiều hơn, Tây Âu
cũng tăng bình thờng. Còn Anh và Ailen vẫn là những nớc tiêu thụ chè mạnh
mặc dù lợng chè nhập khẩu giảm chút ít, do cạnh tranh của cà phê.
Châu Mĩ: Mĩ và Chilê khởi sắc mạnh trong giai đoạn gần đây còn Canađa
chậm hơn trong việc nhập khẩu chè.
Châu á: Khu vực Trung Đông nhập khẩu chè tiêu thụ có tỉ lệ tăng trởng
cao nhất thế giới, trong đó có Pakistan đột xuất tăng lên.
3.2. Một số nớc nhập khẩu chè chủ yếu trên thế giới.
(

5)

Anh: Ngời Anh có lịch sử uống chè đã trên dới 300 năm. Uống chè tại n-
ớc Anh đã hình thành phong cách và tập quán. Trớc những năm 70 của thế kỷ
chè chiếm trên 70% thị phần các loại nớc uống. Tuy nhiên trong thời gian gần
đây, cà phê và các loại nớc ngọt khác đã giành lại đợc phần đáng kể thị phần n-
ớc uống của chè. Vì vậy, lợng chè nhập khẩu vào Anh giảm đáng kể từ 178.000
tấn năm 1998 còn 163.000 tấn năm 1999, đến năm 2000 chỉ còn 157.664 tấn;
và năm 2001 là 165.537 tấn (trong đó chè đen là 163.318 tấn còn chè xanh là
2.219 tấn). Các nớc chủ yếu xuất khẩu chè vào Anh là Kênia từ 45-50% tổng l-
ợng chè nhập khẩu của Anh, ấn Độ từ 16-18%, Nam Phi từ 6-10%, Malavi 3%
(riêng năm 2000 đạt 15,9%), Inđônêxia từ 5-10%, Srilanka 5-8%, Việt Nam
năm 1998 cao nhất giành đợc 0,53% thị phần tại Anh là 947 tấn trong số 78.000
tấn nhập vào nớc Anh.

Nga: Nớc này nhập khẩu chè rất lớn trên thế giới, chỉ kém Anh một
chút. ở Nga chè luôn luôn đợc coi là thực phẩm quan trọng trong cuộc sống
hàng ngày và là hàng nhập khẩu duy nhất trong bảng xác định chỉ số tiêu dùng.
Chè là một trong 16 mặt hàng thực phẩm đợc Chính phủ phân phối cho các
vùng sâu, vùng xa. Sức tiêu thụ khoảng 147-162 ngàn tấn chè / năm với tổng trị
giá trên thị trờng hiện nay khoảng 600-650 triệu USD. Chè nhập vào Nga chủ
5(5)
Nguyễn Tiến Cơ,Tổng quan thị thrờng chè TG,TC Ngời làm chè số 5,Tổng công ty chè VN-2001,tr21-23
12
yếu là chè của ấn Độ, chiếm khoảng 100-115.000 tấn/ năm, chiếm 71,5% thị
phần năm 2000. Một nhân tố làm thị phần chè của ấn Độ lớn là Hiệp định từ
năm 1994 giữa Chính phủ hai nớc cho phép ấn Độ trả nợ bằng chè và các công
ty nhập khẩu chè trả nợ không phải chịu thuế VAT (20%). Đến năm 2001, chè
của ấn Độ không còn đợc hởng u đãi VAT nh trớc, do vậy thị phần chè của ấn
Độ đã giảm mạnh xuống còn 45%, nhờng chỗ cho Srilanka là nớc xuất khẩu lớn
thứ hai vào thị trờng này. Thị phần chè của Srilanka đã tăng lên từ 17% năm
2000 lên 33% năm 2001 (80-90% chè từ Srilanka là chè thành phẩm đóng gói
trong khi đó 70-80% chè của ấn Độ là chè rời). Trung Quốc là nớc xuất khẩu
lớn thứ 3 với thị phần là 4%. 85% chè của Trung Quốc vào Nga là chè xanh.
Năm 1997, với chủ trơng phát triển công nghiệp chế biến chè trong nớc, Chính
phủ Nga đã tăng gấp đôi thuế nhập khẩu đối với chè hộp dới 3 kg lên 20%. Tuy
nhiên, các nớc xuất khẩu lớn vào Nga là ấn Độ, Srilanka, Trung Quốc và
Inđônêxia đều nằm trong danh sách đợc hởng u đãi vào thị trờng Nga tức là chỉ
chịu có 75% mức thuế nhập khẩu. Các nớc nh Campuchia, Lào, Banglađét,
Malawi và Mauritius đợc miễn thuế nhập khẩu vì đợc coi là các nớc kém phát
triển. Song vào năm 2001, chè của các nớc đều phải chịu thuế VAT là 20%.
Cũng nh ngời Anh, ngời Nga đã có lịch sử uống chè hàng trăm năm nay,
uống chè nóng pha hoặc nấu. Do tập quán dùng chè và do hoàn cảnh kinh tế ng-
ời Nga thích dùng chè sợi xoăn chặt theo quy trình OTD và phần lớn là chè
trung cấp và cấp thấp. Hiện nay tình hình kinh tế chính trị ở Nga đang dần ổn
định, các công ty xuyên quốc gia về chè đang có những chơng trình lớn nhằm
thâm nhập và chi phối thị trờng nớc này.

Pakistan: Thị trờng Pakistan nhập khẩu chè lớn sau Anh và Nga. Năm
1998, Pakistan nhập 111.559 tấn, năm 1999 giảm 5,2% còn 105.858 tấn, năm
2000 lại tăng lên 109.981 tấn; và năm 2001 là 107.445 tấn. Nhập khẩu chè của
Pakistan nói chung khá ổn định qua các năm. Trong số đó, Pakistan nhập chè
của Kênia từ 52.000-66.000 tấn, chiếm 47-63%; Inđônêxia 12.000 tấn, chiếm
khoảng 11%; Ruwanda 5-6%; Bănglađét 3,7-7,9%; Tanzania 3,7-4,3%; Srilanka
13
3,6-3,7%; Việt Nam trong năm 2000 đã xuất sang Pakistan đợc 5.132 tấn,
chiếm 4,6%, chủ yếu là các loại chè trung cấp và cấp thấp, trong đó có 274 tấn
chè xanh. Đây là thị trờng có thể chấp nhận nhiều chủng loại chè khác nhau từ
cấp cao đến cấp thấp, cả chè xanh lẫn chè đen.
Theo các quan chức ngành chè, Pakistan đã yêu cầu Kênia ký một Hiệp
định tự do thơng mại (FTA) về việc thúc đẩy thơng mại giữa 2 nớc. Pakistan-đất
nớc tiêu thụ gần 140.000 tấn chè mỗi năm là thị trờng chè lớn nhất của Kênia,
chiếm gần 24% thị trờng xuất khẩu nớc này.

Mỹ: Đây là nớc tiêu thụ cà phê là chính, tỷ lệ tiêu dùng giữa chè và cà
phê là 1:10. Chính phủ Mỹ miễn thuế cho chè nhập nhng qui định tiêu chuẩn
cho chè tùy theo từng nớc xuất vào Mỹ. Năm 1998, Mỹ đã nhập 100.204 tấn
chè, năm 1999 giảm xuống còn 95.062 tấn; năm 2000 vẫn tiếp tục giảm với sản
lợng nhập khẩu là 90.892 tấn; nhng vào năm 2001 đã tăng lên là 100.124 tấn.
Có 4 hãng chè lớn chi phối thị trờng Mỹ là Lipton 43% thị phần, Tetley 10%,
Nestle và Southern mỗi hãng 5%. Còn lại là thị phần của trên 40 hãng và cửa
hàng. Nớc xuất khẩu nhiều nhất vào Mỹ là Achentina chiếm 38%, Trung Quốc
10%, Inđônêxia là 8%; ấn Độ, Srilanka, Kênia, Malaixia mỗi nớc giành đợc
5%. Việt Nam năm cao nhất cũng mới chỉ đạt 1.745 tấn bằng 1,8% thị phần.
Chè Việt Nam nhập vào Mỹ chủ yếu là chè cấp trung và cấp thấp. Ngời Mỹ có
tới 80% dân số thích uống chè lạnh, chè hòa tan, chè bột hỗn hợp đợc uống với
đá hoặc pha trà để nguội cho tủ lạnh mới uống nhng nớc chè để trong tủ lạnh
phải đỏ tơi, trong suốt, không bị kết tủa váng kem sữa. Cũng do uống chè tan,
chè nhúng trong túi lọc, ngời tiêu dùng không trực tiếp nhìn mặt chè nên họ chỉ
coi trọng mầu nớc khi đã qua tủ lạnh, họ không để ý đến ngoại hình nên các
loại chè cấp thấp, cấp trung sẽ đợc các nhà nhập khẩu Mỹ quan tâm nhiều hơn.

Nhật: Đất nớc Nhật Bản có truyền thống uống chè từ lâu đời, sản xuất
chè đứng thứ 6 trên thế giới về sản lợng song cũng lại là nớc nhập khẩu chè t-
ơng đối lớn vì sản xuất không đủ cho tiêu dùng trong nớc. Sản lợng sản xuất
hàng năm từ 70-80.000 tấn, toàn bộ là chè xanh. Vùng trồng chè quan trọng
nhất của Nhật là tỉnh Shizuoka ở chân núi Phú Sĩ, tuy nhiên chè ngon nhất vẫn
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét