Về chủ thể của vi phạm hành chính :
Chủ thể của vi phạm hành chính là tội phạm có thể cùng là cá nhân thực hiện vi
phạm pháp luật. Hành vi trái pháp luật có lỗi mới là vi phạm pháp luật, vì vậy, chủ
thể của vi phạm pháp luật phải là người có năng lực hành vi. Năng lực hành vi là
khả năng của chủ thể, khả năng này được nhà nước thừa nhận, bằng các hành vi của
mình thực hiện trên thực tế các quyền chủ thể và nghĩa vụ pháp lý, tức là tham gia
vào các quan hệ pháp luật. Năng lực hành vi trách nhiệm pháp lý của con người phụ
thuộc vào độ tuổi, tình trạng sức khoẻ (có bị bệnh làm mất hoặc hạn chế khả năng
nhận thức về hành vi của mình hay không) và tuỳ theo từng loại trách nhiệm pháp lý
mà được pháp luật qui định cụ thể. Theo quy định của pháp luật hành chính và hình
sự nước ta, chủ thể vi phạm hành chính và tội phạm đều phải đạt độ tuổi từ đủ 14
tuổi trở lên mà trí tuệ phát triển bình thường. Theo quy định tại Điều 6 Pháp lệnh xử
lý vi phạm hành chính năm 2002 thì người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi chỉ bị xử
phạt đối với những vi phạm hành chính thực hiện do cố ý. Người từ đủ 16 tuổi trở
lên phải chịu trách nhiệm về mọi vi phạm hành chính do mình gây ra. Tương tự như
vậy, Bộ luật hình sự năm 1999 của n-ớc ta cũng quy định về độ tuổi chịu trách
nhiệm hình sự tại Điều 12 như sau:
1. Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm.
2. Người từ đủ 14 tuổi trở lên, nhưng chưa đủ 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình
sự về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng”. Từ
những vấn đề trình bày ở trên, chúng ta có thể nhận thấy chủ thể - cá nhân vi phạm
hành chính và tội phạm có chung độ tuổi chịu trách nhiệm về hành vi do mình gây
ra. Việc quy định độ tuổi chịu trách nhiệm hành chính và hình sự thể hiện chính
sách hành chính và hình sự nhân đạo của nhà nước ta đối với người phạm tội ở tuổi
chưa thành niên.
Dấu hiệu pháp lý của hành vi VPHC
Gồm 4 dấu hiệu pháp lý của VPHC:
- Dấu hiệu trong mặt khách quan.
- Dấu hiệu trong mặt chủ quan.
- Dấu hiệu về chủ thể.
- Dấu hiệu về khách thể.
+ Dấu hiệu trong mặt khách quan:
- Dấu hiệu bắt buộc là hành vi VPHC (là hành vi xâm phạm các quy tắc quản lý
nhà nước và đã bị pháp luật hành chính ngăn cấm). Việc bị ngăn cấm thể hiện rõ
trong các văn bản pháp luật quy định về xử phạt VPHC.
Những hành vi này bị pháp luật quy định là sẽ bị xử phạt bằng các hình thức, biện
pháp xử phạt hành chính.
- Như vậy, khi xem xét để đi đến kết luận rằng hành vi của cá nhân hay tổ chức
có phải là VPHC hay không, bao giờ cũng phải có những căn cứ pháp lý rõ ràng xác
định hành vi đó phải được pháp luật quy định là sẽ bị xử phạt bằng các biện pháp
xử phạt hành chính. Cần tránh tình trạng áp dụng “nguyên tắc suy đoán” hoặc “áp
dụng tương tự pháp luật” trong việc xác định VPHC đối với các tổ chức và cá nhân.
+ Dấu hiệu trong mặt chủ quan:
- Dấu hiệu bắt buộc là dấu hiệu lỗi của chủ thể vi phạm, thể hiện dưới hình thức
cố ý hoặc vô ý (người thực hiện hành vi này phải trong trạng thái có đầy đủ khả
năng nhận thức và điều khiển hành vi của mình nhưng đã vô tình, thiếu thận trọng
mà không nhận thức được điều đó hoặc nhận thức được nhưng vẫn cố tình thực
hiện vi phạm.
- Nếu xác định rằng, chủ thể thực hiện hành vi khi không có khả năng nhận thức
hoặc khả năng điều khiển hành vi thì kết luận rằng không có vi phạm hành chính
xảy ra.
+ Dấu hiệu về chủ thể:
- Chủ thể thực hiện hành vi VPHC là các tổ chức, cá nhân có năng lực chịu trách
nhiệm hành chính theo quy định của pháp luật hành chính.
-Theo quy định của pháp luật, cá nhân là chủ thể của VPHC phải là người không
mắc các bệnh tâm thần hoặc mắc các bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc
khả năng điều khiển hành vi và đủ độ tuổi do pháp luật quy định, cụ thể là:
- Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi là chủ thể của VPHC trong trường hợp
thực hiện với lỗi cố ý. Người thực hiện hành vi với lỗi cố ý là người nhận thức được
hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, bị pháp luật cấm đoán nhưng vẫn cố tình
thực hiện.
- Người đủ 16 tuổi trở lên có thể là chủ thể của VPHC trong mọi trường hợp.
Tổ chức là chủ thể VPHC bao gồm: cơ quan nhà nước, các tổ chức xã hội, các đơn
vị kinh tế, các đơn vị thuộc lực lượng vũ trang nhân dân.
- Cá nhân, tổ chức nước ngoài cũng là chủ thể VPHC theo quy định của pháp luật
Việt Nam, trừ trường hợp điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết hoặc tham gia có
quy định khác.
+ Dấu hiệu về khách thể:
- Dấu hiệu khách thể để nhận biết VPHC là hành vi vi phạm này đã xâm hại đến
trật tự quản lý hành chính nhà nước đã được pháp luật hành chính quy định và bảo
vệ.
Thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính
1. Thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự là một
năm, kể từ ngày hành vi vi phạm được thực hiện; đối với vi phạm hành chính về
xuất cảnh, nhập cảnh thì thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính là hai năm, kể từ
ngày hành vi vi phạm được thực hiện.
Nếu quá các thời hạn nói trên thì không bị xử phạt vi phạm hành chính nhưng
vẫn bị áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả vi phạm hành chính quy định tại
Nghị định này.
2. Đối với cá nhân đã bị khởi tố, truy tố hoặc có quyết định đưa vụ án ra xét xử
theo thủ tục tố tụng hình sự mà có quyết định đình chỉ điều tra hoặc đình chỉ vụ án
thì bị xử phạt vi phạm hành chính nếu hành vi của người đó có dấu hiệu vi phạm
hành chính; trong trường hợp này, thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính là ba tháng,
kể từ ngày người có thẩm quyền xử phạt nhận được quyết định đình chỉ và hồ sơ vi
phạm.
3. Trong thời hạn được quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này mà cá nhân, tổ
chức thực hiện hành vi vi phạm hành chính mới hoặc cố tình trốn tránh, cản trở
việc xử phạt thì không áp dụng thời hiệu xử phạt nói trên; thời hiệu xử phạt được tính
lại kể từ thời điểm người đó thực hiện hành vi vi phạm hành chính mới hoặc thời điểm
chấm dứt hành vi trốn tránh, cản trở việc xử phạt.
4. Người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính nếu có lỗi trong việc để quá
thời hiệu xử phạt thì bị xử lý theo quy định tại Điều 121 của Pháp lệnh Xử lý vi
phạm hành chính năm 2
Chế tài của vi phạm hành chính
Đối với mỗi vi phạm hành chính, cá nhân, tổ chức vi phạm phải chịu một trong các
hình thức xử phạt chính sau đây:
a) Cảnh cáo
Cảnh cáo được áp dụng đối với cá nhân, tổ chức vi phạm hành chính nhỏ, lần đầu,
có tình tiết giảm nhẹ hoặc đối với mọi hành vi vi phạm hành chính do người chưa
thành niên từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi thực hiện. Cảnh cáo được quyết định bằng
văn bản.
b) Phạt tiền.
1.Mức phạt tiền trong xử phạt vi phạm hành chính là từ 5.000 đồng đến
500.000.000 đồng.
2. Căn cứ vào tính chất, mức độ vi phạm, mức phạt tiền tối đa trong các lĩnh vực
quản lý nhà nước được quy định như sau:
a) Phạt tiền tối đa đến 20.000.000 đồng được áp dụng đối với hành vi vi phạm hành
chính trong các lĩnh vực: trật tự, an toàn xã hội; quản lý và bảo vệ các công trình
giao thông; quản lý và bảo vệ công trình thủy lợi; lao động; đo lường và chất lượng
hàng hóa; kế toán; thống kê; tư pháp; bảo hiểm xã hội
b) Phạt tiền tối đa đến 30.000.000 đồng được áp dụng đối với hành vi vi phạm hành
chính trong các lĩnh vực: trật tự, an toàn giao thông đường bộ, đường thủy; văn hóa
- thông tin; du lịch; phòng, chống tệ nạn xã hội; đất đai; đê điều và phòng chống lụt,
bão; y tế; giá; điện lực; bảo vệ và kiểm dịch thực vật; bảo vệ nguồn lợi thủy sản; thú
y; quản lý, bảo vệ rừng, lâm sản; quốc phòng; an ninh
c) Phạt tiền tối đa đến 70.000.000 đồng được áp dụng đối với hành vi vi phạm hành
chính trong các lĩnh vực: thương mại; hải quan; bảo vệ môi trường; an toàn và kiểm
soát bức xạ; trật tự, an toàn giao thông đường sắt; xây dựng; bưu chính, viễn thông
và tần số vô tuyến điện; chứng khoán; ngân hàng; chuyển giao công nghệ.
d) Phạt tiền tối đa đến 100.000.000 đồng được áp dụng đối với hành vi vi phạm
hành chính trong các lĩnh vực: khoáng sản; sở hữu trí tuệ; hàng hải; hàng không dân
dụng; thuế (trừ trường hợp các luật về thuế có quy định khác.
đ) Phạt tiền tối đa đến 500.000.000 đồng được áp dụng đối với hành vi xâm phạm
vùng lãnh hải, vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của
nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam nhằm nghiên cứu, thăm dò, khai thác
nguồn lợi hải sản, dầu khí, các tài nguyên thiên nhiên khác.
3.Đối với hành vi vi phạm hành chính trong những lĩnh vực quản lý nhà nước chưa
được quy định tại khoản 2 Điều này thì Chính phủ quy định mức phạt tiền, nhưng
tối đa không vượt quá 100.000.000 đồng.
-Tùy theo tính chất, mức độ vi phạm, cá nhân, tổ chức vi phạm hành chính còn có
thể bị áp dụng một hoặc các hình thức xử phạt bổ sung sau đây:
a) Tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề;
b) Tịch thu tang vật, phương tiện được sử dụng để vi phạm hành chính.
-Ngoài các hình thức xử phạt được quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này, cá
nhân, tổ chức vi phạm hành chính còn có thể bị áp dụng một hoặc nhiều biện pháp
khắc phục hậu quả sau đây:
a) Buộc khôi phục lại tình trạng ban đầu đã bị thay đổi do vi phạm hành chính gây
ra hoặc buộc tháo dỡ công trình xây dựng trái phép
b) Buộc thực hiện các biện pháp khắc phục tình trạng ô nhiễm môi trường, lây lan
dịch bệnh do vi phạm hành chính gây ra
c) Buộc đưa ra khỏi lãnh thổ Việt Nam hoặc buộc tái xuất hàng hóa, vật phẩm,
phương tiện;
d) Buộc tiêu hủy vật phẩm gây hại cho sức khỏe con người, vật nuôi và cây trồng,
văn hóa phẩm độc hại;
đ) Các biện pháp khác do Chính phủ quy định.
4. Người nước ngoài vi phạm hành chính còn có thể bị xử phạt trục xuất. Trục xuất
được áp dụng là hình thức xử phạt chính hoặc xử phạt bổ sung trong từng trường
hợp cụ thể.
Nội dung cơ bản của Quy định về xử phạt vi phạm hành chính:
Văn bản chế tài xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực đầu tư và thực hiện dự
án đầu tư gây ô nhiễm môi trường cần có các điều xử phạt đối với các hành vi: Vi
phạm quy định khi xây dựng chiến lược, quy hoạch và kế hoạch; Thiếu nội dung
đánh giá, dự báo tác động môi trường, biện pháp bảo vệ môi trường trong quá trình
xây dựng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch; Thiếu chỉ tiêu đầu tư cho việc tăng
cường năng lực về tổ chức quản lý, giám sát môi trường, ngăn ngừa và xử lý ô
nhiễm, cải tạo và bảo vệ môi trường trong kế hoạch phát triển, chương trình, dự án
đầu tư; Không lấy ý kiến rộng rãi của các bộ, ngành, địa phương, các nhà khoa học
và chuyên gia có liên quan khi lập các chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển;
Không công bố công khai và trưng cầu ý kiến nhân dân và Hội đồng nhân dân sống
trong vùng quy hoạch đối với quy hoạch đô thị và nông thôn; Vi phạm quy định về
cam kết bảo vệ môi trường; Vi phạm quy định về đánh giá tác động môi trường và
đánh giá môi trường chiến lược; Vi phạm khi triển khai thực hiện quy hoạch, kế
hoạch, chương trình và dự án đầu tư, từ đó phát thải vào môi trường các chất thải
độc hại…
Bên cạnh các hình thức xử phạt bằng tiền, còn cần quy định các biện pháp khắc
phục hậu quả, thời gian phải khắc phục xong hậu quả, buộc phải bổ sung các nội
dung còn thiếu theo quy định.
1. Chủ tịch Uỷ ban nhân dân các cấp có thẩm quyền xử phạt đối với các hành vi
vi phạm hành chính trong các lĩnh vực quản lý nhà nước ở địa phương.
2. Các chức danh có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính của các cơ quan
quản lý nhà nước theo ngành, lĩnh vực có thẩm quyền xử phạt đối với những hành
vi vi phạm hành chính được quy định cụ thể tại các nghị định của Chính phủ về xử
phạt vi phạm hành chính trong từng lĩnh vực quản lý nhà nước.
3. Thẩm quyền xử phạt của các chức danh theo quy định của Pháp lệnh trong
từng trường hợp cụ thể được xác định như sau:
a) Thẩm quyền phạt tiền được xác định căn cứ vào mức tối đa của khung tiền phạt
quy định cho mỗi hành vi vi phạm hành chính.
b) Thẩm quyền áp dụng hình thức tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành
chính được xác định căn cứ vào văn bản quy phạm pháp luật về xử phạt vi phạm
hành chính trong từng lĩnh vực quản lý nhà nước quy định cho chức danh có thẩm
quyền tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính đối với một hành vi vi
phạm cụ thể. Trường hợp Pháp lệnh quy định thẩm quyền tịch thu theo trị giá của
tang vật, phương tiện vi phạm thì phải căn cứ vào giá trị thực tế của tang vật,
phương tiện vi phạm để xác định thẩm quyền.
c) Thẩm quyền áp dụng hình thức tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành
nghề được xác định căn cứ vào văn bản quy phạm pháp luật về xử phạt vi phạm
hành chính trong từng lĩnh vực quản lý nhà nước. Đối với hành vi vi phạm có quy
định áp dụng hình thức xử phạt tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề
thì chức danh nào có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi đó
cũng có quyền xử phạt tước quyền sử dụng giấy phép hoặc chứng chỉ hành nghề đối
với người vi phạm; trường hợp luật có quy định khác thì theo quy định của luật.
Trong thời hạn ba ngày, kể từ ngày quyết định xử phạt vi phạm hành chính, người
đã ra quyết định xử phạt phải thông báo bằng văn bản cho cơ quan cấp giấy phép,
chứng chỉ hành nghề về việc đã áp dụng hình thức xử phạt tước quyền sử dụng giấy
phép, chứng chỉ hành nghề.
d) Thẩm quyền áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả được xác định căn cứ
vào Pháp lệnh quy định chức danh đó có thẩm quyền áp dụng các biện pháp khắc
phục hậu quả; đồng thời căn cứ vào hành vi vi phạm cụ thể có quy định việc áp
dụng biện pháp khắc phục hậu quả được quy định trong các nghị định của Chính
phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong từng lĩnh vực quản lý nhà nước.
đ) Trong trường hợp mức tiền phạt, trị giá tang vật phương tiện bị tịch thu hoặc
một trong các hình thức xử phạt hoặc biện pháp khắc phục hậu quả không thuộc
thẩm quyền hoặc vượt quá thẩm quyền thì người đang thụ lý vụ việc vi phạm phải
kịp thời chuyển vụ việc vi phạm đó đến người có thẩm quyền xử phạt.
Thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính :
-Thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính của Ủy ban nhân dân các cấp
1. Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh có quyền xử phạt theo quy định tại Điều 30
Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính đối với hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh
vực văn hoá - thông tin được quy định tại Nghị định này thuộc địa bàn quản lý của
địa phương.
2. Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện có quyền xử phạt theo quy định tại Điều 29
Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính đối với hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh
vực văn hoá - thông tin được quy định tại Nghị định này thuộc địa bàn quản lý của
địa phương.
3. Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã có quyền xử phạt theo quy định tại Điều 28
Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính đối với hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh
vực văn hoá - thông tin được quy định tại Nghị định này thuộc địa bàn quản lý của
địa phương.
-Thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính của cơ quan thanh tra chuyên
ngành
1. Thanh tra viên chuyên ngành văn hóa - thông tin đang thi hành công vụ có
quyền xử phạt theo quy định tại Điều 38 Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính đối
với hành vi vi phạm trong lĩnh vực văn hóa - thông tin được quy định tại Nghị định
này.
2. Chánh thanh tra chuyên ngành văn hóa - thông tin các cấp có quyền xử phạt theo
thẩm quyền quy định tại Điều 38 Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính đối với hành
vi vi phạm trong lĩnh vực văn hóa - thông tin được quy định tại Nghị định này.
3. Thanh tra viên, Chánh thanh tra chuyên ngành các cấp của các ngành có liên
quan đến lĩnh vực văn hóa - thông tin có quyền xử phạt theo thẩm quyền quy định
tại Điều 38 Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính đối với hành vi vi phạm trong lĩnh
vực văn hóa - thông tin được quy định tại Nghị định này thuộc phạm vi quản lý nhà
nước của ngành mình.
- Thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính của Bộ đội biên phòng, Hải quan
Lực lượng Bộ đội biên phòng, Hải quan có quyền xử phạt theo thẩm quyền quy
định tại các Điều 32 và 34 Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính đối với các hành vi
vi phạm về xuất khẩu, nhập khẩu các sản phẩm văn hoá được quy định tại Nghị
định này.
- Thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính của Cảnh sát nhân dân
Lực lượng Cảnh sát nhân dân có quyền xử phạt theo thẩm quyền quy định tại
Điều 31 Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính đối với các hành vi vi phạm hành
chính trong lĩnh vực văn hoá - thông tin có liên quan đến trật tự, an toàn xã hội
thuộc thẩm quyền quản lý được quy định tại Nghị định này.
-Thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính của cơ quan Quản lý thị trường
Lực lượng Quản lý thị trường có quyền xử phạt theo thẩm quyền quy định tại
Điều 37 Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính đối với các hành vi vi phạm về kinh
doanh dịch vụ các sản phẩm văn hoá - thông tin được quy định tại Nghị định này.
- Thủ tục xử phạt
Thủ tục xử phạt những hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực văn hóa - thông
tin được áp dụng theo các quy định tại Chương VI Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành
chính và Chương IV Nghị định số 134/2003/NĐ-CP ngày 14 tháng 11 năm 2003
của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Pháp lệnh Xử lý vi phạm
hành chính.
- Thu, nộp tiền phạt
Tổ chức, cá nhân vi phạm hành chính trong lĩnh vực văn hoá - thông tin mà bị
phạt tiền thì phải nộp tiền tại địa điểm theo quy định của pháp luật. Thủ tục thu, nộp
tiền phạt thực hiện theo hướng dẫn của Bộ Tài chính.
-Thủ tục tịch thu và xử lý tang vật, phương tiện vi phạm
1. Khi áp dụng hình thức tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính trong
lĩnh vực văn hoá - thông tin, người có thẩm quyền xử phạt phải thực hiện đúng thủ
tục quy định tại Điều 60 Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính.
2. Người ra quyết định tịch thu có trách nhiệm tổ chức bảo quản tang vật, phương
tiện bị tịch thu. Trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày tịch thu tang vật, phương tiện vi
phạm, người ra quyết định tịch thu phải chuyển giao quyết định xử phạt, biên bản
tịch thu và toàn bộ tang vật, phương tiện bị tịch thu cho cơ quan có thẩm quyền để
tổ chức bán đấu giá theo quy định tại Điều 61 Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính,
trừ đối với băng đĩa và các sản phẩm văn hoá đã có nội dung.
3. Đối với tang vật là di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia, người ra quyết định phải báo
cáo Bộ Văn hoá - Thông tin để Bộ trưởng Bộ Văn hoá - Thông tin giao cho cơ quan
thích hợp quản lý, sử dụng.
Trong mọi trường hợp chuyển giao tang vật sang sở hữu nhà nước, thủ tục chuyển
giao và quản lý tang vật thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 32 Nghị định số
134/2003/NĐ-CP ngày 14 tháng 11 năm 2003 của Chính phủ quy định chi tiết thi
hành Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính.
4. Tiền thu được từ bán tang vật, phương tiện bị tịch thu, sau khi trừ các chi phí
theo quy định của pháp luật, phải nộp vào ngân sách nhà nước.
-Thủ tục tước quyền sử dụng giấy phép
Thủ tục tước quyền sử dụng các loại giấy phép trong lĩnh vực văn hóa - thông tin
thực hiện theo quy định tại Điều 59 Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính.
- Thủ tục tiêu huỷ văn hoá phẩm độc hại
1. Đối với văn hoá phẩm bị tịch thu và cơ quan nhà nước có thẩm quyền về văn
hoá - thông tin quyết định tiêu hủy thì phải thành lập Hội đồng xử lý để tiêu huỷ.
Thành phần Hội đồng xử lý bao gồm đại diện cơ quan quản lý nhà nước về văn hoá
- thông tin, cơ quan công an, tài chính và các cơ quan có liên quan cùng cấp.
2. Khi tiến hành tiêu huỷ văn hoá phẩm, cơ quan có trách nhiệm phải lập biên bản
tiêu huỷ. Biên bản phải có chữ ký xác nhận của các thành viên Hội đồng xử lý.
Trong trường hợp cần thiết có thể mời đại diện các cơ quan, tổ chức hữu quan
chứng kiến việc tiêu hủy.
3. Bộ Văn hoá - Thông tin hướng dẫn cụ thể thủ tục tiêu huỷ các loại văn hoá
phẩm cần phải tiêu huỷ theo quy định tại Nghị định này.
Tính trái pháp luật của vi phạm hành chính :
• hành vi mà tổ chức cá nhân thực hiện là hành vi trái pháp luật về quản lí nhà nước
nghĩa là tổ chức cá nhân đó thực hiện hoặc thực hiện ko đúng những yêu cầu mà
pháp luật về quản lí hành chính nhà nước đề ra
• hành vi vi phạm hành chính của tổ chức phải có lỗi , có thể là lỗi cố ý hoặc vô ý.
chủ thể thực hiện hàn vi vi phạm hành chính trong trạng thái có đủ khả năng nhận
thức dc hành vi đó là trái pháp luật hành chính nhưng vãn cố ý thực hiện hoặc do
quá tự tin cẩu thả trong xử sự dẫn đến hành vi trái pháp luật về quản lí hành chính
nhà nước xảy ra
• hành vi trái pháp luật về quản lí nhà nước do tổ chức cá nhân thực hiện ko phải là
tội phạm nghĩa là hành vi này có mức độ gây nguy hiểm cho xã hội thấp hơn tội
phạm. đây là dấu hiệu quan trọng để phan biệt vi phạm hành chính với tội phạm. để
đánh giá mức độ nguy hiểm của vi phạm hành chính phải căn cứ vào các yếu tố
như: mức độ gây thiêt hại cho xã hội cuả hành vi , tính chất, mưc độ lỗi, tầm quan
trọng của khác thể được bảo vệ, nhân thân người vi phạm
• hành vi trái pháp luật về quản lí nhà nước do tổ chức, cá nhân thực hiện phải dc
pháp luật hành chính qui định bị xử phạt hành chính. chỉ có quốc hội uỷ ban thường
vụ quốc hội và chính phủ mới có quyền ban hành văn bản pháp luật qui định về vi
phạm hành chính và các biện pháp xử lí đối với vi phạm hành chính. quốc hội qui
định về vi phạm hành chính, hình thức, biện pháp xử lí đối với vi phạm hành chính
trong các văn bản luật , uỷ ban thường vụ quốc hội qui định về vi phạm hành chính,
hình thức biện pháp đối với vi phạm hành chính trong các pháp lệnh. Chính phủ qui
định về các vi phạm hành chính , hình thức biện pháp xử lí đối với vi phạm hành
chính trong các nghị định
Các biện pháp ngăn chặn vi phạm hành chính và bảo đảm việc xử lí vi phạm
hành chính
1. Trong trường hợp cần ngăn chặn kịp thời vi phạm hành chính hoặc để bảo đảm
việc xử lý vi phạm hành chính, người có thẩm quyền có thể áp dụng các biện pháp
sau đây theo thủ tục hành chính:
a) Tạm giữ người;
b) Tạm giữ tang vật, phương tiện vi phạm hành chính;
c) Khám người;
d) Khám phương tiện vận tải, đồ vật;
đ) Khám nơi cất giấu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính;
e) Bảo lãnh hành chính;
g) Quản lý người nước ngoài vi phạm pháp luật Việt Nam trong thời gian làm thủ
tục trục xuất;
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét