Thứ Ba, 4 tháng 3, 2014

Mở rộng thanh toán không dùng tiền mặt tại NHNo&PTNT Huyện Hoà An

Trêng §H Kinh TÕ Quèc D©n Khoa Ng©n Hµng- Tµi ChÝnh

+ Trong thanh toán không dùng tiền mặt, vật trung gian trao đổi không xuất
hiện như trong hình thức thanh toán dùng tiền mặt theo kiểu H-T-H mà chỉ xuất hiện
dưới dạng tiền kế toán hay tiền ghi sổ và được ghi chép trên các chứng từ sổ sách kế
toán. đây là đặc điểm riêng của thanh toán không dùng tiền mặt.
+ Trong thanh toán không dùng tiền mặt, ngân hàng vừa là người tổ chức vừa
là người thực hiện các khoản thanh toán. Chỉ có ngân hàng, người quản lý tài khoản
tiền gửi của các khách hàng mới được quyền trích chuyển những tài khoản này theo
các nguyên tắc chuyên môn đặc thù như là một nghiệp vụ riêng của mình. Với nghiệp
vụ này, ngân hàng trở thành trung tâm thanh toán đối với các khách hàng của mình.
Với những đặc điểm nêu trên, thanh toán không dùng tiền mặt nếu được tổ
chức và thực hiện tốt sẽ phát huy được tác dụng tích cực của nó. Trong tương lai,
theo đà phát triển của xã hội và theo nhu cầu của thị trường, thanh toán không dùng
tiền mặt sẽ giữ một vị trí cực kỳ quan trọng trong việc lưu chuyển tiền tệ và trong
thanh toán giá trị của nền kinh tế.
I.2.Vai trò của thanh toán không dùng tiền mặt trong nền kinh tế thị trường.
Thanh toán không dùng tiền mặt được sử dụng rộng rãi trong mọi tầng lớp
dân cư ở nhiều quốc gia là một tất yếu khách quan do tính hiệu quả và thiết thực của
nó.
- Đối với khách hàng, thanh toán không dùng tiền mặt là một phương thức
thanh toán đơn giản, an toàn, tiết kiệm, thuận lợi cho sự trao đổi. Khi có tài khoản
giao dịch ở ngân hàng, khách hàng muốn rút tiền ra bất cứ lúc nào và ngân hàng nào
cũng được, chỉ cần viết yêu cầu gửi ngân hàng.
- Đối với ngân hàng, thanh toán không dùng tiền mặt là một công cụ thanh
toán bù trừ giữa các ngân hàng không phải dùng đến giấy bạc, giúp cho việc thanh
toán thuận lợi và lưu thông tiền tệ được nhanh hơn đồng thời dễ kiểm soát. Thanh
toán không dùng tiền mặt có vai trò quan trọng trong việc huy động tích tụ các nguồn
vốn tạm thời nhàn rỗi chưa sử dụng đến của khách hàng vào tổ chức tín dụng, tạo
nguồn để đảm bảo thanh toán của ngân hàng đối với các khách hàng có nhu cầu thanh
toán. Loại tiền gửi này cũng là một nguồn vốn cung cấp cho các nghiệp vụ sinh lời
NguyÔn Hoµng Anh §øc Tµi ChÝnh C«ng 48
5
Trêng §H Kinh TÕ Quèc D©n Khoa Ng©n Hµng- Tµi ChÝnh

của ngân hàng thương mại, gửi và thanh toán phải trả lãi, do vậy giảm được chi phí
huy động vốn “đi vay để cho vay”.
- Đối với nền kinh tế, thanh toán không dùng tiền mặt có ý nghĩa quan trọng
đến việc tiết kiệm khối lượng tiền mặt trong lưu thông, từ đó giảm bớt những phí tổn
to lớn của xã hội có liên quan đến việc phát hành và lưu thông tiền. Trước hết đó là
tiết kiệm chi phí in tiền, sau đó là những chi phí cho việc kiểm đếm, chuyên chở, bảo
quản và huỷ bỏ tiền cũ, rách mà vấn đề bức xúc nhất hiện nay đó là việc chuyên chở
và bảo quản tiền mặt. Thanh toán không dùng tiền mặt ra đời và phát triển trên cơ sở
của nền kinh tế thị trường, nó góp phần đẩy nhanh tốc độ quá trình tái sản xuất xã
hội, nó liên quan đến toàn bộ quá trình lưu thông hàng hoá, tiền tệ của các tổ chức
kinh tế và các cá nhân trong xã hội. Thanh toán không dùng tiền mặt tạo điều kiện dễ
dàng cho việc kiểm soát lạm phát. Thông qua việc khống chế tỷ lệ dự trữ bắt buộc, tỷ
lệ tái chiết khấu ngân hàng Trung ương gián tiếp điều hoà khối lượng tiền tệ cung
ứng góp phần bảo đảm cho nền kinh tế ở một mức độ ổn định. Căn cứ vào việc thanh
toán luân chuyển tiền tệ mà hoạch định các chính sách cần thiết. Với ý nghĩa to lớn
đó, ở những quốc gia có nền kinh tế phát triển người dân sử dụng thanh toán không
dùng tiền mặt như là một thói quen văn hoá không thể thiếu được.
I.3. Những qui định về thanh toán không dùng tiền mặt
I.3.1. Những quy định chung
Để đẩy mạnh công tác thanh toán không dùng tiền mặt. Nhiều văn bản pháp
qui về lĩnh vực thanh toán đã được Chính phủ ban hành như Nghị định số
64/2001/NĐ-CP ngày 20/09/2001 về hoạt động thanh toán qua các tổ chức cung ứng
dịch vụ thanh toán. Thống đốc Ngân hàng Nhà nước đã ban hành nhiều quyết định,
thông tư, chỉ thị mới như Quyết định số 226/2002/QĐ-NHNN ngày 26/3/2002 thay
thế cho Quyết định số 22/QĐ-NH1 ngày 21/02/1994 về ban hành thể lệ thanh toán
không dùng tiền mặt. Các văn bản trên nhằm hoàn thiện dần chế độ thanh toán không
dùng tiền mặt cho phù hợp với yêu cầu đổi mới của nền kinh tế, tạo điều kiện cho các
Ngân hàng, tổ chức tín dụng triển khai nhiều thể thức, hình thức thanh toán tiên tiến,
từng bước hoà nhập với hệ thống thanh toán theo thông lệ quốc tế.
NguyÔn Hoµng Anh §øc Tµi ChÝnh C«ng 48
6
Trêng §H Kinh TÕ Quèc D©n Khoa Ng©n Hµng- Tµi ChÝnh

Các doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức, đoàn thể, đơn vị vũ trang, công dân Việt
Nam và người nước ngoài hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam (gọi chung là đơn vị cá
nhân) được quyền lựa chọn Ngân hàng để mở tài khoản giao dịch và thực hiện thanh
toán. Việc mở tài khoản thanh toán tại Ngân hàng và thực hiện thanh toán qua tài
khoản được ghi bằng đồng Việt Nam. Trường hợp mở tài khoản và thanh toán bằng
ngoại tệ phải thực hiện theo qui chế quản lí ngoại hối của Chính phủ Việt Nam ban
hành.
Để mở tài khoản tiền gửi thanh toán các doanh nghiệp, cá nhân cần phải gửi
cho Ngân hàng nơi mở tài khoản những giấy tờ sau:
* Đối với khách hàng là các DN, tổ chức kinh tế:
- Giấy đăng ký mở tài khoản do chủ tài khoản ký tên và đóng dấu, trong đó
ghi rõ:
+ Tên đơn vị
+ Họ và tên chủ tài khoản
+ Địa chỉ giao dịch của đơn vị
+ Số, ngày tháng năm, nơi cấp giấy CMT nhân dân của chủ tài khoản.
+ Tên Ngân hàng nơi mở tài khoản
- Bản đăng ký mẫu dấu và chữ ký để giao dịch với Ngân hàng nơi mở tài
khoản gồm:
+ Chữ ký của chủ tài khoản và của những người được uỷ quyền ký thay chủ
tài khoản trên các giấy tờ thanh toán giao dịch với Ngân hàng (chữ ký thứ nhất).
+ Chữ ký của kế toán trưởng và của những người được uỷ quyền ký thay kế
toán trưởng (chữ ký thứ hai).
+ Mẫu dấu của đơn vị.
- Các văn bản chứng minh tư cách pháp nhân của đơn vị như quyết định thành
lập đơn vị, giấy phép thành lập doanh nghiệp, quyết định bổ nhiệm thủ trưởng đơn
vị (nếu là bản sao phải có chứng nhận của công chứng Nhà nước ).
NguyÔn Hoµng Anh §øc Tµi ChÝnh C«ng 48
7
Trêng §H Kinh TÕ Quèc D©n Khoa Ng©n Hµng- Tµi ChÝnh

* Đối với khách hàng là các cá nhân:
- Giấy đăng ký mở tài khoản do chủ tài khoản ký tên, trong đó ghi rõ:
+ Họ và tên của chủ tài khoản
+ Địa chỉ giao dịch của chủ tài khoản
+ Số, ngày tháng năm và nơi cấp giấy CMT của chủ tài khoản.
+ Tên Ngân hàng nơi mở tài khoản.
- Bản đăng ký mẫu chữ ký của chủ tài khoản để giao dịch với Ngân hàng nơi
mở tài khoản. Đối với tài khoản đứng tên cá nhân không thực hiện việc uỷ quyền
người ký thay chủ tài khoản, tất cả các giấy tờ thanh toán giao dịch với Ngân hàng
đều phải do chủ tài khoản ký.
* Sử dụng tài khoản tiền gửi thanh toán
- Chủ tài khoản có quyền sử dụng số tiền trên tài khoản tiền gửi.
Trong phạm vi số dư tài khoản tiền gửi và tuỳ theo yêu cầu chi trả, chủ tài
khoản có thể thực hiện các khoản thanh toán qua Ngân hàng hoặc rút tiền mặt ra để
sử dụng.
- Chủ tài khoản chịu trách nhiệm về việc chi trả vượt quá số dư tài khoản tiền
gửi và chịu phạt theo qui định; chịu trách nhiệm về sai sót, lợi dụng trên các giấy tờ
thanh toán qua Ngân hàng của những người được chủ tài khoản uỷ quyền ký thay.
- Chủ tài khoản phải tuân theo những qui định và hướng dẫn của Ngân hàng
phục vụ mình về việc lập các giấy tờ thanh toán, phương thức nộp, lĩnh tiền ở Ngân
hàng. Trên giấy tờ thanh toán, các chữ ký và dấu phải đúng mẫu đã đăng ký tại Ngân
hàng.
- Chủ tài khoản tự tổ chức hạch toán, theo dõi số dư tiền gửi ở NH. Trong
phạm vi 3 ngày làm việc kể từ ngày nhận được giấy báo Nợ, giấy báo Có về các
khoản giao dịch trên tài khoản tiền gửi, bản sao sổ tài khoản tiền gửi hoặc giấy báo số
dư tài khoản tiền gửi cuối tháng do Ngân hàng gửi đến, chủ tài khoản phải đối chiếu
NguyÔn Hoµng Anh §øc Tµi ChÝnh C«ng 48
8
Trêng §H Kinh TÕ Quèc D©n Khoa Ng©n Hµng- Tµi ChÝnh

với sổ sách của mình, nếu có chênh lệch thì báo ngay cho Ngân hàng biết để cùng
nhau đối chiếu, điều chỉnh lại số liệu cho khớp đúng.
I.3.2. Quy định về trách nhiệm thanh toán
* Ngân hàng:
+ Thực hiện cung cấp các hình thức thanh toán như séc, thẻ, ủy nhiệm thu, ủy
nhiệm chi, thư tín dụng…Để thực hiện công tác thanh toán không dùng tiền mặt, các
ngân hàng phải sử dụng các hình thức thanh toán không dùng tiền mặt được quy định
bởi pháp luật và được các trung tâm thanh toán chấp nhận. Một số hình thức thanh
toán không dùng tiền mặt mà ngân hàng thường dùng là: séc, thẻ thanh toán, ủy
nhiệm thu, ủy nhiệm chi, thư tín dụng… Khi sử dụng các hình thức thanh toán này,
các ngân hàng phải thực hiện đúng với các yêu cầu về thời gian, thủ tục thanh toán…
theo như quy định về thanh toán không dùng tiền mặt đã được các cơ quan có thẩm
quyền ban hành. Ngân hàng có trách nhiệm cung cấp các hình thức thanh toán không
dùng tiền mặt mà ngân hàng đã cam kết thực hiện theo yêu cầu của khách hàng.
+ Thực hiện thanh toán nhanh chóng, chính xác, kịp thời.Khi đã thỏa thuận
xong một hợp đồng thanh toán không dùng tiền mặt của khách hàng đối với ngân
hàng, ngân hàng phải thực hiện việc thanh toán cho khách hàng một cách nhanh
chóng, kịp thời, an toàn và chính xác. Nếu có sai sót hay chậm trễ vì một lý do nào
đó, ngân hàng phải có thông báo bằng văn bản cho khách hàng nói rõ lý do sai sót,
chậm trễ đó và đưa ra hướng giải quyết sự chậm trễ và sai sót trên. Ngân hàng phải
hoàn toàn chịu trách nhiệm về những sai sót thuộc phạm vi trách nhiệm của mình
trong quá trình thực hiện nghiệp vụ thanh toán thanh toán không dùng tiền mặt.
* Khách hàng trả tiền:
+ Có đủ số dư trên tài khoản thanh toán, lập các chứng từ thanh toán (hình
thức thanh toán) hợp lệ, hợp pháp. Đối với khác hàng là người trả tiền khi tham gia
vào các hình thức thanh toán nói chung và thanh toán không dùng tiền mặt nói riêng
NguyÔn Hoµng Anh §øc Tµi ChÝnh C«ng 48
9
Trêng §H Kinh TÕ Quèc D©n Khoa Ng©n Hµng- Tµi ChÝnh

thì trước hết khách hàng phải có tiền, khi thanh toán không dùng tiền mặt thì người
trả tiền phải có số dư trên tài khoản thanh toán của mình tại ngân hàng đảm bảo đủ
chi trả cho hợp đồng thanh toán đó. Bên cạnh đó, khách hàng phải lập các chứng từ
thanh toán một cách đầy đủ, chính xác, hợp lệ, hợp pháp. Trong chứng từ đó phải ghi
rõ phương thức thanh toán không dùng tiền mặt được sử dụng, khối lượng thanh
toán, thời gian thanh toán, đối tượng được thanh toán…
+ Thực hiện thanh toán sòng phẳng số tiền phải trả cho khách hàng, nếu làm
sai sẽ bị phạt theo chế độ hiện hành. Khi đến hạn thanh toán người trả tiền phải thực
hiện nghĩa vụ thanh toán của mình một cách đầy đủ kịp thời….mà không được chậm
trễ vì bất cứ lý do gì. Người trả tiền sẽ bị xử phạt tiền hoặc bị truy tố trước pháp luật
nếu chậm trễ trong việc thực hiện hợp đồng thanh toán đã đáo hạn.
* Khách hàng thụ hưởng:
+ Kiểm tra tính hợp lệ và hợp pháp của các hình thức thanh toán nhận được.
Để đảm bảo an toàn và để tránh các rắc rối có thể xảy ra, khách hàng thụ hưởng khi
nhận được các chứng từ thanh toán phải kiểm tra các yếu tố trên các chứng từ này
xem có hợp lệ và hợp pháp không. Nếu thấy những chứng từ này có dấu hiệu bất
thường thì phải báo ngay cho các ngân hàng liên quan để giải quyết.
+ Cung cấp đầy đủ và kịp thời lượng hàng hóa, dịch vụ cho người mua.
Khách hàng thụ hưởng đồng thời là người bán có trách nhiệm cung cấp đầy đủ và kịp
thời lượng hàng hóa, dịch vụ cho người mua, người trả tiền theo đúng quy cách, chất
lượng đã thỏa thuận trong hợp đồng.
II. Những hình thức thanh toán không dùng tiền mặt hiện hành.
II.1. Hình thức thanh toán bằng séc.
Séc là một hình thức thanh toán quan trọng không thể thiếu được trong thanh
toán không dùng tiền mặt hiện nay. Mặc dù đã ra đời từ rất sớm và ngày càng có
NguyÔn Hoµng Anh §øc Tµi ChÝnh C«ng 48
10
Trêng §H Kinh TÕ Quèc D©n Khoa Ng©n Hµng- Tµi ChÝnh

nhiều công cụ thanh toán hiện đại nhưng thanh toán bằng séc vẫn giữ vị trí quan
trọng trong các hình thức thanh toán không dùng tiền mặt.
Séc là môt tờ lệnh trả tiền của chủ tài khoản được lập trên mẫu đã quy định
sẵn, yêu cầu ngân hàng phục vụ mình trích tiền từ tài khoản tiền gửi của mình để trả
cho người thụ hưởng có tên trên tờ séc hay người cầm tờ séc đó.
Séc là loại chứng từ thanh toán được áp dụng rộng rãi ở tất cả các nước trên
thế giới, quy định sử dụng séc đã được chuẩn hoá theo Công ước quốc tế.
Séc được sử dụng để thanh toán tiền hàng, dịch vụ, nộp thuế, trả nợ… hoặc
được dùng để rút tiền mặt tại các chi nhánh ngân hàng. Tất cả các khách hàng mở tài
khoản tại ngân hàng đều có quyền sử dụng séc để thanh toán. Thời hạn hiệu lực của
séc, tùy theo quy định trước, thường là 15 ngày kể từ ngày chủ tài khoản phát hành
séc đến ngày người thụ hưởng nộp séc vào ngân hàng (gồm cả ngày chủ nhật và ngày
lễ). Trường hợp nếu ngày kết thúc thời hạn hiệu lực của tờ séc là ngày nghỉ, ngày lễ
thì thời hạn đó được lùi vào ngày làm việc kế tiếp.
Sau đây ta sẽ xem xét hai loại séc: Séc chuyển khoản và Séc bảo chi.
II.1.1. Séc chuyển khoản
Séc chuyển khoản là một tờ lệnh trả tiền của người phát hành séc đối với ngân
hàng phục vụ mình về việc trích một khoản tiền nhất định từ tài khoản của mình để
trả cho người được hưởng có tên trong tờ séc.
Séc chuyển khoản chỉ được áp dụng trong phạm vi thanh toán giữa các khách
hàng có tài khoản ở cùng một chi nhánh nhưng các chi nhánh này có tham gia giao
nhận chứng từ trực tiếp cho nhau theo quy định từ trước, thời gian hiệu lực của tờ séc
tối đa là 10 ngày làm việc. Khác với séc lĩnh tiền mặt, khi phát hành séc thanh toán
chuyển khoản, chủ tài khoản phải gạch hai đường song song chéo góc hoặc viết chữ
"chuyển khoản " ở góc phía trên bên trái mặt trước tờ séc trước khi giao người thụ
hưởng.
Về nguyên tắc, séc chuyển khoản phải được phát hành trên cơ sở số dư tài
khoản tiền gửi hiện có tại ngân hàng. Nếu tài khoản tiền gửi không đủ để thanh toán,
NguyÔn Hoµng Anh §øc Tµi ChÝnh C«ng 48
11
Trêng §H Kinh TÕ Quèc D©n Khoa Ng©n Hµng- Tµi ChÝnh

séc sẽ bị ngân hàng từ chối thanh toán, chủ tài khoản phải chịu trách nhiệm thanh
toán tờ séc đó và những khoản tiền phạt chi phí phát sinh liên quan đến việc khiếu nại
và khởi kiện.
- Sơ đồ luân chuyển séc chuyển khoản:
+ Thanh toán giữa khách hàng mở tài khoản ở cùng một ngân hàng

(1): Người
trả tiền phát
hành séc và giao cho người thụ hưởng.
(2): Người thụ hưởng tiếp nhận séc, sau khi kiểm tra tính hợp pháp, hợp lệ của tờ séc
sẽ lập 3 liên bảng kê nộp séc cùng tờ séc nộp vào ngân hàng xin thanh toán.
(3): Ngân hàng kiểm tra tờ séc, nếu đủ điều kiện thì tiến hành trích tài khoản tiền gửi
của người trả tiền và báo Nợ cho họ.
(4): Ngân hàng ghi Có vào tài khoản của bên thụ hưởng và báo Có cho họ.
+ Thanh toán khác ngân hàng có tham gia thanh toán bù trừ trên địa bàn
NguyÔn Hoµng Anh §øc Tµi ChÝnh C«ng 48
12
Người trả tiền Người thụ hưởng
Ng©n hµng phục vụ
người trả tiền
Ng©n Hµng phục vụ người
thụ hưởng
2’
1
2 64
5
3
Người trả tiền Người thụ hưởng
Ng©n hµng phục vụ
1
2
3 4
Trêng §H Kinh TÕ Quèc D©n Khoa Ng©n Hµng- Tµi ChÝnh

(1): Người trả tiền phát hành séc giao cho người thụ hưởng.
(2): Người thụ hưởng sau khi kiểm tra tính hợp pháp, hợp lệ của tờ séc sẽ lập 3 liên
bảng kê nộp séc cùng tờ séc nộp vào ngân hàng phục vụ mình xin thanh toán ( Người
thụ hưởng cũng có thể nộp trực tiếp bảng kê nộp séc kèm theo tờ séc vào ngân hàng
phục vụ người trả tiền để đòi tiền).
(3): Ngân hàng sẽ tiến hành kiểm tra ( Nếu lập bảng kê có gì sai sót hoặc có các tờ
séc không hợp lệ, quá thời hạn hiệu lực thanh toán thì từ chối thanh toán) sau đó
chuyển các tờ séc và bảng kê nộp séc cho ngân hàng phục vụ người trả tiền.
(4): Ngân hàng phục vụ người trả tiền sau khi kiểm tra tính hợp lệ, hợp pháp của tờ
séc và số dư tài khoản tiền gửi của chủ tài khoản sẽ tiến hành trích tài khoản của
người trả tiền và báo Nợ cho họ.
(5): Ngân hàng phục vụ người trả tiền dùng các liên bảng kê nộp séc lập chứng từ
thanh toán bù trừ và chuyển cho ngân hàng phục vụ người thụ hưởng để thanh toán
cho người thụ hưởng.
(6): Ngân hàng phục vụ người thụ hưởng tiếp nhận các bảng kê nộp séc ( thông qua
thanh toán bù trừ ) sẽ ghi Có vào tài khoản cho người thụhưởng và báo cho họ.
II.1.2. Séc bảo chi
Séc bảo chi là một loại séc thanh toán được ngân hàng đảm bảo khả năng chi
trả bằng cách trích trước số tiền trên tờ séc từ tài khoản tiền gửi của người trả tiền
sang tài khoản " Đảm bảo thanh toán séc " nhằm đảm bảo khả năng thanh toán của tờ
séc đó.
NguyÔn Hoµng Anh §øc Tµi ChÝnh C«ng 48
13
Trêng §H Kinh TÕ Quèc D©n Khoa Ng©n Hµng- Tµi ChÝnh

Séc bảo chi có phạm vi thanh toán rộng hơn séc chuyển khoản. Ngoài việc sử
dụng để thanh toán giữa các chủ thể mở tài khoản tại cùng một chi nhánh ngân hàng
hoặc hai ngân hàng có tham gia thanh toán bù trừ trên cùng địa bàn séc bảo chi còn
được sử dụng để thanh toán giữa khách hàng mở tài khoản tại các chi nhánh trong
cùng hệ thống trong phạm vi cả nước.
- Sơ đồ luân chuyển thanh toán toán séc bảo chi
+ Trường hợp hai chủ thể thanh toán mở tài khoản tại cùng một chi nhánh ngân hàng
(1) : Người trả tiền làm thủ tục bảo chi séc ( lập hai liên giấy "Yêu cầu bảo chi séc"
kèm tờ séc đã ghi đủ các yếu tố nộp vào ngân hàng để xin bảo chi séc). Ngân hàng
đối chiếu giấy yêu cầu và tờ Séc, số dư tài khoản của người phát hành, nếu đủ điều
kiện thì tiến hành trích tiền từ tài khoản tiền gửi chuyển vào tài khoản " Đảm bảo
thanh toán Séc". Sau đó đóng dấu "Bảo chi" lên tờ séc và giao séc cho khách hàng.
(2): Người trả tiền giao Séc cho người thụ hưởng để nhận hàng hoá, dịch vụ.
(3): Người thụ hưởng lập bảng kê nộp Séc kèm các tờ Séc nộp vào ngân hàng xin
thanh toán.
(4): Ngân hàng kiểm tra ký hiệu mật trên tờ séc và các yếu tố cần thiết khác, tiến
hành ghi Có vào tài khoản của người thụ hưởng và báo Có cho họ.
(5): Ngân hàng tất toán tài khoản " Đảm bảo thanh toán Séc"
+ Trường hợp hai chủ thể thanh toán mở tài khoản khác ngân hàng có tham gia thanh
toán bù trừ
NguyÔn Hoµng Anh §øc Tµi ChÝnh C«ng 48
14
Người trả tiền Người thụ hưởng
Ng©n hµng phục vụ
1 3
2
(5) 4

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét