Thứ Sáu, 7 tháng 3, 2014

Một số giải pháp nhằm đảm bảo an toàn tín dụng đối với kinh tế ngoài quốc doanh tại Ngân hàng công thương Đống Đa

- Có quan hệ với khách hàng theo nguyên tắc tự chịu trách nhiệm về vật
chất và hành chính đối với tài sản tiền vốn và cam kết giữ bí mật về số liệu và
hoạt động cũ nh tạo điều kiện thuận lợi cho khách hàng có quan hệ với tổ
chức tín dụng khác theo nguyên tắc bình đẳng tự nguyện cũng có lợi vừa hợp
tác vừa cạnh tranh với nhau trong khuôn khổ pháp luật các hoạt động chủ
yếu:
1. Nghiệp vụ huy động vốn:
Là nghiệp vụ đầu tiên của các Ngân hàng thơng mại nhằm tạo nguồn
vốn làm tiền đề cho vay vốn của Ngân hàng dùng để cho vay vốn gồm:
- Vốn điều lệ là vốn ban đầu khi Ngân hàng đợc thành lập vốn này, có
thể do Nhà nớc cấp (nếu là Ngân hàng quốc doanh) có thể do các cổ đông
góp vốn nếu là Ngân hàng thơng mại cổ phần
Qui mô hay mức vốn điều lệ của Ngân hàng thơng mại khi thành lập đ-
ợc quy định.
- Vốn huy động: loại vốn này chiếm tỷ trọng ngày càng tăng trong
nguồn vốn của Ngân hàng thơng mại, vốn đợc huy động dới hình thức tiền
gửi tiền tiết kiệm (có kỳ hạn, không kỳ hạn) tiền phát hành trái phiếu, kỳ
phiếu theo mức của Ngân hàng nhà nớc cho phép. Trong từng thời gian nhất
định Ngân hàng thơng mại đợc quyền sử dụng có thời hạn và hoàn trả cả vốn,
lãi cho chủ sở hữu.
- Vốn tiếp nhận: loại vốn này gồm tài trợ, vốn đầu t phát triển, uỷ thác
đầu t để cho vay, theo các chơng trình dự án xây dựng cơ bản chung của nhà
nớc.
- Vốn đi vay: gồm vốn vay của Ngân hàng nhà nớc vay vốn của Ngân
hàng nớc ngoài, và các tổ chức tín dụng, Ngân hàng thơng mại có trách
nhiệm sử dụng đúng mục đích có hiệu quả hoàn trả đúng thời hạn cả gốc và
lãi.
- Nghiệp vụ cho vay vốn là nghiệp vụ thông qua đó các nguồn vốn huy
động đợc đem cho vay nhằm phục vụ yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội.
5
Tuỳ theo tiêu thức phân loại có các hình thức cho vay khác nh cho vay
ngắn hạn, trung và dài hạn, cho vay sản xuất kinh doanh, cho vay thanh toán,
cho vay dự trữ.
- Nghiệp vụ thanh toán là nghiệp vụ của Ngân hàng thơng mại thực hiện
trên cơ sở sự uỷ nhiệm của khách hàng trong khâu thanh toán hộ, giữ hộ đòi
nợ thông qua các hình thức chuyển tiền, thanh toán, chứng từ và phát hành
chứng khoán.
* Các nghiệp vụ huy động, cho vay và thanh toán có mối quan hệ với
nhau, cấu thành nội dung hoạt động của Ngân hàng thơng mại trong đó
nghiệp vụ huy động vốn là tiền, để phát triển nghiệp vụ cho vay, đến lợt nó,
việc cho vay càng mở rộng sẽ thúc đẩy nghiệp vụ huy động ngày càng tăng
lên trong quá trình thực hiện 2 nghiệp vụ này dới hình thức "nợ", "có" sẽ có
tác động làm tăng nghiệp vụ trung gian - nghiệp vụ thanh toán hộ khách hàng
nhờ đó các khoản tiền phải trả đợc tập trung để bổ sung cho nghiệp vụ vay và
huy động vốn thúc đẩy hoạt động tín dụng phát triển nhanh chóng "
2. Vai trò của tín dụng Ngân hàng
a. Tín dụng đối với Ngân hàng
Trong hoạt động sản xuất kinh doanh, mục tiêu hàng đầu của doanh
nghiệp, các tổ chức kinh tế là tối đa hoá lợi nhuận, mục tiêu hàng đầu của
Ngân hàng - Một tổ chức kinh doanh tiền tệ cũng không nằm ngoài phạm vi
đó Ngân hàng thu đợc lợi nhuận thông qua các hoạt động dịch vụ, cung cấp
cho khách hàng nh thanh toán, t vấn nhng quan trọng nhất là hoạt động cho
vay (hoạt động tín dụng)
Thật vậy, Ngân hàng với t cách là một trung gian tài chính kinh doanh
trên nguyên tắc nhận tiền gửi của khách hàng (nghiệp vụ huy động vốn) dới
hình thức tài khoản vãng lai và tài khoản tiền gửi tiền trên cơ sở đó tiến hành
các hoạt động cho vay dới nhiều hình thức khác nhau, tuỳ theo yêu cầu vay
của khách hàng. Sự chênh lệch giữa tiền lãi kiếm đợc qua hoạt động và tiền
lãi phải trả cho các khoản huy động là lợi nhuận thu đợc. Đây cha phải là
toàn bộ lợi nhuận của Ngân hàng, tuy nhiên, nó chiếm tỷ lệ lớn nhất trong
tổng số lợi nhuận của Ngân hàng.
6
Ngày nay hoạt động trong môi trờng cạnh tranh của cơ chế thị trờng
hoạt động tín dụng Ngân hàng càng trở nên sôi động, đa dạng. Đối với các
Ngân hàng thơng mại để có thể tồn tại và phát triển trong môi trờng cạnh
tranh, góp phần thúc đẩy nền kinh tế xã hội. Hệ thống Ngân hàng thơng mại
luôn phải tìm cách nâng cao chiến lợc tín dụng, đa dạng hoá các chất lợng
dịch vụ từng bớc công nghệ hoá trong hoạt động tín dụng đảm bảo sự tồn tại
của Ngân hàng trong thời kỳ mới. b. Vai trò tín dụng đối với nền kinh tế
Có thể nói sẽ là không tởng khi nói đến phát triển kinh tế mà không có
vốn hoặc không đủ vốn hay ở một khía cạnh khác sẽ là thiếu chính xác thiếu
biện chứng khi chỉ đề cập từ phía vốn đối với phát triển kinh tế bởi lẽ vốn đợc
bắt nguồn từ nền kinh tế, nền kinh tế ngày càng phát triển thì càng có điều
kiện tích tụ vốn nhiều hơn, phải chăng đây chính là mốc quan hệ nhân quả.
Vậy có thể nói vốn và sự phát triển kinh tế có độ chính xác hơn so với
nói vốn đối với sự phát triển kinh tế.
Đối với nớc ta, tại đại hội đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khoá VII
của Đảng đã chỉ rõ: " để công nghiệp hoá, hiện đại hoá cần huy động nhiều
nguồn vốn, sẵn có với sử dụng vốn có hiệu quả trong đó nguồn vốn trong nớc
là quyết định, nguồn vốn bên ngoài là quan trọng "
Khẳng định rằng nếu ta có quan niệm đúng về vốn thì sẽ giúp ta phát
hiện đợc những tiềm năng về vốn, cũng từ đó có biện pháp khai thác và sử
dụng đem lại hậu quả với mục tiêu của chúng ta là chuyển dịch cơ cấu kinh
tế theo hớng công nghiệp hoá, hiện đại hoá thì vốn nớc ngoài sẽ tạo ra cú
"huých" mạnh mẽ để nền kinh tế mau chóng cất cánh, nếu xét về vấn đề vốn
nớc ngoài, trong quan hệ cung cầu thì cung vốn cho các nớc đang phát triển
thấp hơn nhiều so với cầu về vốn của nớc đo. Điều này cho thấy chúng ta sẽ
gặp phải những đối thủ cạnh tranh rất lớn mạnh trên lĩnh vực này nếu xem
xét về vốn trong quan hệ giữa vốn trong nớc và vốn nớc ngoài. Thì qua thực
tiễn những năm thực hiện công việc đổi mới vừa qua cho thấy mức độ "hấp
thụ", vốn nớc ngoài tuỳ thuộc chủ yếu vào khả năng nguồn vốn bên trong của
nền kinh tế. Sự thật trên cảnh báo sẽ sai lầm nếu kỳ vọng quá lớn và nguồn
vốn bên ngoài trong khi không tận lực khai thác nguồn vốn sẵn có bên
trong
7
Tín dụng Ngân hàng đóng vai trò rất lớn trong sự nghiệp phát triển kinh
tế - xã hội chúng ta đều biết rằng muốn phát triển kinh tế thì điều trớc hết là
phải có vốn (vốn = tiền) mà để có vốn bằng tiền thì phải có tổ chức có đủ
thẩm quyền và chức năng huy động và tập trung đó trớc khi đem sử dụng. ở
bất kỳ quốc gia nào thì công việc này do hai tổ chức thực hiện:
Tổ chức Tài chính (quỹ tài chính) và tổ chức tín dụng.
Song chủ yếu vẫn là các tổ chức tín dụng. Vì rằng dới đây Các Mác đã
viết "Một mặt Ngân hàng là sự tập trung t bản tiền tệ của những ngời có tiền
cho vay, mặt khác đó là sự tập trung các ngời đi vay" vậy tín dụng Ngân hàng
đã đóng vai trò quan trọng từ buổi sơ khai đến mô hình Ngân hàng hiện đại
ngày nay với khái niệm ấy đối với riêng trong lĩnh vực tín dụng đã là một vấn
đề vô cùng quan trọng trong sự phát triển kinh tế, xã hội, có thể khái quát
qua thực tiễn cho thấy hiệu quả mang lại của tín dụng Ngân hàng, tín dụng
Ngân hàng đã góp phần làm giảm hệ số tiền nhàn rỗi và nâng cao hiệu quả sử
dụng vốn, là đòn bảy kinh tế quan trọng thúc đẩy mở rộng mối quan hệ giao
lu quốc tế tác động tích cực đến nhịp độ phát triển và thúc đẩy sự cạnh tranh
trong nền kinh tế thị trờng nó góp phần lớn thực hiện chiến lợc phát triển
kinh tế, chống lạm phát tiền tệ và góp phần thu hẹp khoảng cách giàu nghèo.
ý nghĩa to lớn ấy của vốn của vai trò tín dụng trong nền kinh tế thị tr-
ờng đòi hỏi chúng ta có nhận thức đứng đắn để ý nghĩa đó trở thành hiện thực
một khi vốn - tín dụng Ngân hàng thể hiện chức năng vai trò của bản thân thì
chắc rằng dù trong bất kỳ lĩnh vực nào của sự nghiệp phát triển kinh tế đều
đem lại những hậu quả nhất định, góp phần không nhỏ thực hiện thắng lợi đ-
ờng lối công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nớc
3. Các hình thức tín dụng Ngân hàng
Nh chúng ta đã biết Ngân hàng thu lợi nhuận thông qua các dịch vụ
cung cấp cho khách hàng nh: thanh toán, t vấn nhng quan trọng nhất là hoạt
động cho vay .
Tuỳ theo các tiêu thức: khác nhau và căn cứ vào đối tợng đợc cấp tín
dụng mà các khoản cho vay có thể đợc phân ra thành các hình thức cho vay
khác nhau nh: cho vay theo mục đích, theo hình thức bảo đảm, kỳ hạn, theo
phơng pháp hoàn trả. Ngoài ra còn có nhiều cách phân loại khác. Việc phân
8
loại nh thế hoàn toàn mang tính chất tơng đối, không hề tách rời bản chất của
tín dụng là hoạt động vay mợn có hoàn trả .
a. Cho vay theo mục đích
Cách phân loại này căn cứ vào mục đích hoặc việc sử dụng vốn vay nh
cho vay bất động sản, cho vay thơng mại, công nghiệp nông nghiệp, cho vay
cá nhân, cho vay đối với các tổ chức tài chính, chính quyền.
b. Cho vay có đảm bảo và không có đảm bảo
* Cho vay có đảm bảo
Hình thức cho vay biểu hiện bằng việc cho vay có cầm giữ các vật thế
chấp cụ thể nào đó. Vật thế chấp có thể gồm nhiều loại tài sản nh bất động
sản, biên nhận ký gửi hàng hoá, các loại chứng khoán, vật đơn hàng hoá, sổ
tiết kiệm
Yêu cầu cơ bản của vật thế chấp là dễ bảo quản, có chứng từ bảo hiểm
cần thiết và phải bán đợc.
Yêu cầu món vay phải đợc bảo đảm chỉ nhằm tạo điều kiện để ngời cho
vay giảm bớt mất mát trong trờng hợp ngời vay không muốn hay không trả
nợ đợc. Nó tạo tâm lý yên tâm cho ngời đi vay.
Tuy vậy bảo đảm không nghĩa là món nợ sẽ đa hoàn trả bởi lẽ trong tr-
ờng hợp thanh lý tài sản thế chấp, tài sản thế chấp có thể bị giảm giá hoặc ép
giá, điều này sẽ khiến nó không đủ vốn trả hết nợ.
* Cho vay không bảo đảm
Khác với cho vay có bảo đảm, cho vay không có bảo đảm đợc dựa trên
tính liêm khiết và từ tình hình tài chính của ngời vay, lợi tức có thể có đợc
trong tơng lai và tình hình trả nợ trớc đây. Hình thức này thờng đợc Ngân
hàng áp dụng cho các khách hàng lớn và quen thuộc của Ngân hàng trong
nhiều trờng hợp còn đợc hởng lãi suất u đãi. Đó thờng là các công ty có cách
quản lí hiệu quả, có các sản phẩm và dịch vụ đợc thị trờng chấp nhận, lợi
nhuận ổn định và tình hình tài chính vững mạnh. Trên thực tế nhiều khoản
vay lớn nhất lại đợc thực hiện theo hình thức này.
c. Cho vay theo kỳ hạn
9
Các khoản cho vay của Ngân hàng đợc phân theo kỳ hạn trờng hợp hợp
đồng cho vay: ngắn hạn, trung hạn, dài hạn
Cho vay ngắn hạn: thời hạn tối đa là 12 tháng
Cho vay trung hạn: thời hạn từ 1-3 năm
Cho vay dài hạn: dới 3 năm
Các khoản vay có thì hạn ngắn thờng đáp ứng nhu cầu vốn lu động của
khách.
Các khoản vay trung và dài hạn thờng đợc áp dụng vào mục đích đầu t
mua sắm máy móc, mở rộng phạm vi hoạt động.
d. Cho vay theo phơng pháp hoàn trả:
Các khoản cho vay của Ngân hàng có thể hoàn trả 1 lần hoặc trả góp.
Những khoản cho vay trả 1 lần là những khoản cho vay thẳng nghĩa là
hợp đồng yêu cầu trả toàn bộ một lần vào thời gian đến hạn cuối cùng.
Cho vay trả góp đòi hỏi việc hoàn trả theo định kì. Việc hoàn trả có thể
là hàng tháng, hàng quí, hàng năm. Cho vay trả góp theo nguyên tắc trả dần
trong suốt thời hạn thực hiện hợp đồng. Nhờ vay việc hoàn trả không trở
thành gánh nặng lớn đối với ngời vay nh trong trờng hợp toàn bộ khoản vay
phải đợc trả 1 lần. Đối với nhiều ngời các khoản cho vay trả góp đóng vai trò
nh một phơng tiện góp qui. Hình thức này đợc dành nhiều cho các món vay
bất động sản và cho vay tiêu dùng.
Qua các hình thức cho vay nêu trên ta thấy rằng: Các khoản cho vay là
những sản phẩm hàng hoá của Ngân hàng thơng mại trên thị trờng kinh
doanh tín dụng và dịch vụ Ngân hàng. Nền kinh tế càng phát triển thì các nhu
cầu về tín dụng càng phong phú đa dạng. Ngân hàng cần phải tiếp cận và hoá
nhập với đời sống kinh tế xã hội để tạo nhiều hình thức tín dụng mới đáp ứng
nhu cầu của các nhà sản xuất và tầng lớp dân c.
II. An toàn tín dụng Ngân hàng
Hoạt động với nguyên tắc "đi vay để cho vay" nên Ngân hàng cũng
không khác bất kỳ ngành kinh doanh nào, có thể gặp rủi ro, có thể mất tiền
vốn - Hoạt động Ngân hàng với bản chất của nó, chịu ảnh hởng rất nhiều loại
10
hình rủi ro. Bản thân nhà quản lý và ngời lập chính sách cần phải biết đợc,
hiểu đợc những rủi ro để tìm mọi cách để chế ngự nó, hạn chế đợc những đổ
vỡ gây thiệt hại trớc hết là với chính bản thân Ngân hàng sau phản ứng dây
chuyền là sự khủng hoảng trong cơ cấu của thành phần kinh tế trong nền kinh
tế, điều này cũng mang ý nghĩa đối với ngành Ngân hàng khi đứng trong môi
trờng cạnh tranh của cơ chế thị trờng.
1. Đảm bảo an toàn
Với chức năng quản lý và kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ, tín dụng
hoạt động Ngân hàng mang tính chất đặc thù riêng mà các ngành kinh tế
khác không có đợc so với hoạt động kinh doanh của ngành kinh tế khác thì
hoạt động Ngân hàng là hoạt động gắn liền với rủi ro vì "đầu vào" và "đầu ra"
của ngành Ngân hàng. Đều là tiền, ngày nay trong cơ chế thị trờng, ngành
Ngân hàng phải huy động và tạo mọi nguồn vốn để đáp ứng nhu cầu tín dụng
cho mọi thành phần kinh tế, để đáp ứng nhu cầu đó, nâng cao hiệu quả kinh
doanh tăng lợi nhuận giúp Ngân hàng đứng vững trong môi trờng cạnh tranh.
Ngành Ngân hàng phải nâng cao chênh lệch hoạt động tín dụng và hiệu
quả sử dụng vốn cũng nh việc quản lý nguồn vốn. Điều này chỉ có đợc khi
Ngân hàng tổ chức hợp lý khoa học quy trình cho vay của mình. Quy trình
quản lý tín dụng mang ý nghĩa quan trọng đối với hoạt động của ngành bởi vì
đối với một món vay đã đợc Ngân hàng cho vay ra phải đạt yêu cầu chuẩn
mực nhất định đầy đủ của an toàn tín dụng để sao cho ngành Ngân hàng đợc
phép chuyển nhợng một cách dễ dàng.
- Có tính lỏng trong chuyển nhợng kèm theo chứng từ sở hữu giản đơn
dễ chuyển nhợng.
- Hiện nay theo quy định của Ngân hàng nhà nớc cũng nh luật Ngân
hàng và các tài chính tín dụng qui định phải có vật đảm bảo dễ xác định và
có tính ổn định trong thời gian dài.
- Vật bảo đảm tín dụng (Tài sản thế chấp), phải mang tính lỏng (có thị
trờng để tạo thu) để nhằm thu hồi nợ khi ngời vay không có khả năng hoàn
trả.
2. Các hình thức đảm bảo an tín dụng
11
2.1. Nghiên cứu và nhận định khách hàng
Trên thực tế nguyên nhân thờng gặp về tổn thất tín dụng lại không phải
là các Ngân hàng tìm hiểu về khách hàng mà do Ngân hàng nghiên cứu
không đầy đủ về khách hàng.
Do vậy để hạn chế rủi ro, các Ngân hàng thơng mại cần phải nghiên cứu
về khách hàng trên các phơng diện cụ thể:
a. Năng lực pháp lý
Để tránh rủi ro Ngân hàng không nên thiết lập quan hệ với những khách
hàng không có đủ năng lực pháp lý bởi vì khi có đồng vốn trong tay họ sẵn
sàng thành lập các công ty "ma" không có t cách pháp nhân đề lừa gạt, chiếm
dụng vốn của Ngân hàng. Hơn nữa, hoạt động sản xuất kinh doanh của họ
không đợc các cơ quan có thẩm quyền cho phép, không đợc sự công nhận
của pháp luật, do đó thu nhập sẽ bấp bênh không ổn định
Do vậy: Để đảm bảo an toàn vốn, Ngân hàng chỉ quan hệ với khách
hàng có đủ năng lực pháp lý. Đó là những doanh nghiệp có giấy phép kinh
doanh, quyết định thành lập, quyết định bổ nhiệm ngời chịu trách nhiệm
quản lý, đợc quy định rõ chức năng, nhiệm vụ hoạt động. Ngân hàng chỉ cho
phép những ngời có thẩm quyền thay mặt cho doanh nghiệp, công ty đứng ra
ký kết hợp đồng vay vốn. Đối với công ty cổ phần, công ty liên doanh thì
Ngân hàng cũng phải xem xét ngời đứng ra xin vay có đủ t cách đại diện cho
một tập thể hay không. Việc Ngân hàng lựa chọn quan hệ với những khách
hàng có đủ năng lực pháp lý sẽ tránh đợc tình trạng không có ngời nhận nợ
trực tiếp hoặc ngời nhận nợ không đủ t cách, Ngân hàng sẽ thực sự trở thành
chủ nợ và đợc pháp luật bảo đảm có quyền đòi nợ.
b. Phân tích tình hình khả năng thanh toán của doanh nghiệp để xác
định khả năng vay thu hồi vốn của tổ chức tín dụng.
Có nhiều chỉ tiêu và phơng pháp đánh giá tình hình tài chính và khả
năng thanh toán của ngời vay. Thông thờng các ngân hàng có thể phân tích
khả năng trả nợ của khách hàng qua các chỉ tiêu sau:
- Hệ số tài trợ là chỉ tiêu khái quát, phản ánh khả năng tự đảm bảo về
mặt tài chính của doanh nghiệp. Hệ số này đợc tính nh sau:
12
Nguồn vón doanh nghiệp tự có
Hệ số tài trợ =
Tổng vốn doanh nghiệp hiện có
Tổng vốn doanh nghiệp hiện có gồm: nguồn vón cố định., nguồn vón lu
động, nguồn vốn xây dựng cơ bản, quỹ xí nghiệp, nguồn kinh phí, thu nhập
cha phân phối.
+ Tổng nguồn vốn doanh nghiệp đang sử dụng gồm: nguồn vốn hiện có
của doanh nghiệp, nguồn vốn tín dụng, nguồn vốn thanh toán.
Hệ số tài trợ càng cao chứng tỏ tình hình tài chính của doanh nghiệp
càng vững chắc. Khi hệ số này càng giảm thấp, thì khả năng đáp ứng các
khoản nợ cũng giảm đi, đồng thời khả năng rủi ro cho ngân hàng tăng lên.
Trên thực tế, một doanh nghiệp có hệ số tài trợ kỳ này lớn hơn hệ số tài trợ
kỳ trớc và lớn hơn 0,5 là tốt.
- Tỷ suất lợi nhuận:
Tỷ suất lợi nhuận là khả năng sinh lợi của 1 đồng vốn trong năm của
một doanh nghiệp. Tỷ suất lợi nhuận có thể tính chung cho vốn cố định và
vốn lu động, nhng cũng có thể tính riêng cho từng loại vốn nếu doanh nghiệp
có tỷ suất lợi nhuận lớn hơn lãi suất tiền vay ngân hàng, thể hiện trong năm
doanh nghiệp làm ăn có lãi và có khả năng hoàn trả tiền vay ngân hàng cả
vốn lẫn lãi và có tích luỹ. Những doanh nghiệp có tỷ xuất lợi nhuận nhỏ hơn
lãi suất tiền vay ngân hàng là những doanh nghiệp có nhiều khả năng không
trả nợ đợc ngân hàng. Do vậy để phòng rủi ro các tổ chức tín dụng thờng
không cho vay đối với các doanh nghiệp này.
Năng lực đi vay của doanh nghiệp: là khả năng của một doanh nghiệp
kêu gọi xin vay vón và đợc tính bằng công thức sau:
Nguồn vốn tự có
Năng lực đi vay =
Nguồn vốn thờng xuyên
Năng lực đi vay tỷ lệ thuận với nguồn vốn tự có của doanh nghiệp, nó
tăng giảm ngợc chiều với tình hình nợ lần và có quan hệ mật thiết với khả
13
năng tự chủ về tài chính của doanh nghiệp. Một số doanh nghiệp có khả năng
tự chủ tài chính cao (hệ số tài chính lớn) thờng có năng lực đi vay lớn vì
doanh nghiệp có thể đáp ứng đợc các khoản nợ khi đến hạn thanh toán. Ngời
ta đã tính rằng nếu doanh nghiệp có tỷ lệ này lớn hơn 2/3 thì doanh nghiệp có
năng lực đi vay rất lớn. Ngợc lại nếu thông số này nhỏ hơn 0,5 thì doanh
nghiệp đã đạt mức bão hoà của năng lực đi vay. Vì vậy, đối với những doanh
nghiệp này thờng không đi vay.
Khả năng thanh toán của doanh nghiệp
Khả năng thanh toán củ doanh nghiệp phản ánh tình hình tài chính của
doanh nghiệp tốt hay xấu. Để đánh giá chính xác khả năng thanh toán của
doanh nghiệp ta cần xem xét lại, phân tích chỉ tiêu sau:
+ Khả năng thanh toán chung: là chỉ tiêu tổng hợp, phản ánh khái quát
thanh toán của doanh nghiệp.
Khả năng thanh toán chung đợc tính nh sau:
Số tiền doanh nghiệp có thể dùng để thanh toán
Khả năng thanh toán của doanh nghiệp =
Số tiền doanh nghiệp phải thanh toán
Số tiền doanh nghiệp có thể dùng để thanh toán gồm toàn bộ số vốn
bằng tiền, các khoản phải thu và thành phẩm, hàng hoá còn tồn kho (còn có
những quan điểm khác nhau về nọi dung tiêu thức này).
Số tiền doanh nghiệp phải thanh toán gồm: các khoản phải trả ngời bán,
ngời mua, các khoản phải trả cán bộ công nhân viên, các khoản nợ ngân hàng
và tổ chức kinh tế, các khoản phải trả khác.
Nếu hệ số = 1 chứng tỏ doanh nghiệp có khả năng thanh toán, tình hình
tài chính bình thờng khả quan. Nhìn chung hệ số càng lớn thì khả năng thanh
toán càng chắc chắn, khả năng thu hồi nợ của ngân hàng dễ dàng hơn.
Ngợc lại, khi hệ số này <1 thì tình trạng tài chính của doanh nghiệp có
thể xấu đi và ngân hàng không nên cho vay đối với những đối tợng này bởi vì
doanh nghiệp khó có thể thanh toán đợc những khoản nợ và sẽ xuất hiện
những khoản nợ quá hạn.
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét