Thứ Sáu, 7 tháng 3, 2014

Bài thi Công đoàn đây rồi

§iªu Quang L©m – TiÓu häc HiÒn §a
đoàn kết , thống nhất của lao động và phong trào Công nhân thế giới trong cuộc đấu
tranh chống chủ nghĩa đế quốc, cầm đầu là đế quốc Mỹ, chống bọn tư bản lũng đoạn, vì
hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và chủ nghĩa xã hội”
Khẩu hiệu hành động là: : “Động viên sức người sức của chi viện cho chiến trường, tất
cả để giải phóng miền Nam thống nhất đất nước”
Đại hội đã bầu 72 Uỷ viên chính thức, Đồng chí Tôn Đức Thắng được bầu làm Chủ tịch
danh dự Tổng Công đoàn Việt Nam, đồng chí Hoàng Quốc Việt được bầu làm Chủ tịch
Đoàn Chủ tịch Tổng Công đoàn Việt Nam. Đ/c Nguyễn Đức Thuận là Tổng Thư ký.
4. Đại hội lần thứ IV: diễn ra từ ngày 8/5/1978 đến 11/5/1978 tại Thủ đô Hà Nội.
Đại hội đã xác định nhiệm vụ của Công đoàn trong nhiệm kỳ mới là:
“Bồi dưỡng năng lực và phát huy quyền làm chủ tập thể xã hội chủ nghĩa của
công nhân, viên chức, dấy lên phong trào cách mạng rộng lớn thực hiện thắng lợi đường
lối cách mạng xã hội chủ nghĩa ở nước ta, kết hợp xây dựng kinh tế quốc phòng, thường
xuyên nâng cao tinh thần cách mạng, sẵn sàng làm tròn nghĩa vụ bảo vệ Tổ quốc; thực
hiện đồng thời ba cuộc cách mạng; cách mạng về quan hệ sản xuất, cách mạng khoa học
kỹ thuật, cách mạng tư tưởng văn hoá, trong đó cách mạng khoa học kỹ thuật là then
chốt; tích cực hoàn thiện quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc và hoàn thành
cải tạo xã hội chủ nghĩa ở miền Nam; thi đua lao động, sản xuất, cần kiệm xây dựng chủ
nghĩa xã hội, thi đua phục vụ nông nghiệp, thực hiện công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa
nước nhà, trước mắt là hoàn thành và hoàn thành vượt mức kế hoạch 5 năm lần thứ hai
(1976- 1980), chăm lo đời sống và bảo vệ lợi ích chính đáng của công nhân, viên chức;
ra sức đào tạo và bồi dưỡng cán bộ Công đoàn; cải tiến tổ chức và phương pháp công tác
nâng cao năng lực hoạt động, năng lực tham gia quản lý kinh tế, tham gia vào công việc
của Nhà nước và kiểm tra hoạt động của Nhà nước; góp phần tăng cường đoàn kết và
thống nhất của phong trào công nhân và của lao động thế giới trong cuộc đấu tranh
chống chủ nghĩa đế quốc, chủ nghĩa thực dân cũ và mới và các thế lực phản động khác,
vì quyền lợi của người lao động, vì hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ, và chủ nghĩa xã
hội”
Khẩu hiệu hành động là: “Động viên giai cấp công nhân và những người lao động
khác thi đua lao động sản xuất, phát triển kinh tế, đẩy mạnh công nghiệp hoá trong phạm
vi cả nước”
Đại hội đã bầu BCH mới gồm 155 Uỷ viên. Đ/c Nguyễn Văn Linh, UV Bộ Chính
trị Trung ương Đảng được bầu làm Chủ tịch Tổng Công đoàn Việt Nam. Đ/c Nguyễn
Đức Thuận làm Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký.
5. Đại hội lần thứ V: diễn ra từ ngày 16/11/1983 đến ngày 18/11/1983 tại Thủ đô
Hà Nội.
Đại hội khẳng định: tiếp tục thực hiện nhiệm vụ chung của công đoàn cách mạng
xã hội chủ nghĩa, mà Đại hội lần thứ tư Công đoàn Việt Nam đề ra: “Bồi dưỡng năng
lực và phát huy quyền làm chủ tập thể xã hội chủ nghĩa của công nhân, viên chức, dấy
5
§iªu Quang L©m – TiÓu häc HiÒn §a
lên phong trào cách mạng rộng lớn thực hiện thắng lợi đường lối cách mạng xã hội chủ
nghĩa ở nước ta, kết hợp xây dựng kinh tế với quốc phòng, thường xuyên nâng cao tinh
thần cách mạng, sẵn sàng làm tròn nghĩa vụ bảo vệ Tổ quốc; thực hiện đồng thời ba
cuộc cách mạng; cách mạng về quan hệ sản xuất, cách mạng khoa học kỹ thuật, cách
mạng tư tưởng văn hoá, trong đó cách mạng khoa học kỹ thuật là then chốt; tích cực
hoàn thiện quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc và hoàn thành cải tạo xã hội
chủ nghĩa ở miền Nam; thi đua lao động, sản xuất, cần kiệm xây dựng chủ nghĩa xã hội,
thi đua phục vụ nông nghiệp, chăm lo đời sống và bảo vệ lợi ích chính đáng của công
nhân, viên chức; ra sức đào tạo và bồi dưỡng cán bộ Công đoàn; cải tiến tổ chức và
phương pháp công tác nâng cao năng lực hoạt động, năng lực tham gia quản lý kinh tế,
tham gia vào công việc của Nhà nước và kiểm tra hoạt động của Nhà nước; góp phần
tăng cường đoàn kết và thống nhất của phong trào công nhân và của lao động thế giới
trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc, chủ nghĩa thực dân cũ và mới và các thế
lực phản động khác, vì quyền lợi của người lao động, vì hoà bình, độc lập dân tộc, dân
chủ, và chủ nghĩa xã hội”
Khẩu hiệu hành động là: “Động viên công nhân- lao động thực hiện 3 chương
trình lớn của Đảng. Phát triển nông nghiệp và công nghiệp thực phẩm, sản xuất hàng
tiêu dùng và sản xuất hàng xuất khẩu”
Đại hội V Công đoàn Việt Nam đã sửa đổi bổ sung Điều lệ công đoàn Việt Nam,
làm rõ hơn tính chất của công đoàn Việt Nam, mối quan hệ giữa công đoàn với các đoàn
thể khác. Đồng thời bổ sung nhiệm vụ quốc tế đối với các nước bạn Lào, Campuchia.
Đại hội đã quyết định lấy ngày 28/7/1929 ngày họp Đại hội thành lập Tổng Công hội đỏ
miền Bắc Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Đông Dương làm ngày kỷ
niệm thành lập Công đoàn Việt Nam.
Đại hội đã bầu BCH gồm 155 Uỷ viên. Ban Thư ký gồm 13 uỷ viên. Đ/c Nguyễn
Đức Thuận Uỷ viên BCH Trung ương Đảng làm Chủ tịch. Đ/c Phạm Thế Duyệt làm
Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Tổng Công đoàn Việt Nam.
6. Đại hội lần thứ VI: diễn ra từ ngày 17 đến 20/10/1988 tại Hà Nội
Đại hội đã xác định khẩu hiểu “Việc làm và đời sống, dân chủ và công bằng xã
hội” là mục tiêu trong hoạt động của công đoàn các cấp.
Công đoàn phải động viên công nhân, lao động đi đầu trong việc đổi mới cơ chế quản lý
kinh tế, thực hiện thắng lợi đường lối đổi mới của Đảng, đồng thời kiên quyết đấu tranh
thực hiện dân chủ xã hội chủ nghĩa, công bằng xã hội.
Đại hội đã quyết định đổi tên Tổng Công đoàn Việt Nam thành Tổng Liên đoàn lao
động Việt Nam. Các chức danh Thư ký công đoàn gọi là Chủ tịch công đoàn, Đại hội
bầu đồng chí Nguyễn Văn Tư- Uỷ viên dự khuyết Ban Chấp hành Trung ương Đảng –
làm Chủ tịch Tổng Liên đoàn lao động Việt Nam.
Đại hội VI công đoàn là Đại hội đổi mới của phong trào công nhân và tổ chức công đoàn
Việt Nam.
6
§iªu Quang L©m – TiÓu häc HiÒn §a
Ngày 30/6/1990, Quốc hội khoá VIII, kỳ họp thứ 17 đã thông qua Luật công đoàn.
Luật này thay thế Luật công đoàn đã công bố ngày 5/11/1957.
7. Đại hội lần thứ VII: họp từ ngày 09 đến ngày 12/11/1993 tại Hà Nội.
Năm 1992, Quốc hội khoá VII kỳ họp thứ 11 đã thông qua Hiến pháp nước Cộng hoà xã
hội chủ nghĩa Việt Nam. Điều 10 Hiến pháp 1992 quy định rõ về vai trò, vị trí của tổ
chức Công đoàn Việt Nam.
Đại hội đánh giá cao phong trào công nhân, viên chức lao động trong tất cả các cơ
sở sản xuất, kinh doanh, phục vụ an ninh và quốc phòng, các cơ quan quản lý, nghiên
cứu khoa học trong các trường học, bệnh viện, các đơn vị hành chính sự nghiệp, đã góp
phần xứng đáng vào những thành tựu chung của đất nước, tô thắm thêm truyền thống
yêu nước và cách mạng của giai cấp công nhân và tầng lớp tri thức Việt Nam.
Nghị quyết Đại hội VII Công đoàn Việt Nam khẳng định “Trong bước ngoặt đầy thử
thách, giai cấp công nhân nước ta đã tỏ rõ bản lĩnh chính trị vững vàng, vượt qua mọi
khó khăn trong bước đầu chuyển sang cơ chế thị trường, hăng hái đi đầu trong công
cuộc đổi mới, góp phần quan trọng vào sự phát triển kinh tế xã hội, củng cố quốc phòng
và an ninh của đất nước, giữ vững ổn định về chính trị”.
Đại hội xác định mục tiêu của hoạt động công đoàn trong những năm tới là:
“Đổi mới tổ chức và hoạt động công đoàn.
Góp phần xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Chăm lo và bảo vệ lợi ích của công nhân lao động”.
Đồng chí Nguyễn Văn Tư- Uỷ viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng được bầu lại làm
Chủ tịch Tổng Liên đoàn lao động Việt Nam.
8. Đại hội lần thứ VIII: Từ ngày 3 đến ngày 6/11/1998 tại Hà Nội.
Nghị quyết Đại hội khẳng định: “Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam,
công cuộc đổi mới tiếp tục đạt được nhiều thành tựu to lớn, trong đó sự đóng góp xứng
đáng của giai cấp công nhân và tổ chức Công đoàn Việt Nam…Đội ngũ công nhân, viên
chức, lao động đã tỏ rõ hơn bản lĩnh chính trị vững vàng, tin tưởng và quyết tâm thực
hiện đường lối đổi mới do Đảng khởi xướng và lãnh đạo, nỗ lực vương lên lao động và
công tác…giữ vai trò quyết định thúc đẩy phát triển kinh tế- xã hội của đất nước, giữ
vững ổn định chính trị, an ninh quốc phòng, xứng đánh là giai cấp lãnh đạo cách mạng,
lực lượng nòng cốt, đi đầu trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước”
Đại hội xác định mục tiêu và khẩu hiệu hành động của Công đoàn trong những năm tới
là: “ Vì sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, vì việc làm, đời sống, dân chủ
và công bằng xã hội, xây dựng giai cấp công nhân và tổ chức công đoàn vững mạnh”
Đồng chí Cù Thị Hậu- Uỷ viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng được Đại hội bầu làm
Chủ tịch Tổng Liên đoàn lao động Việt Nam.
9. Đại hội lần thứ IX: Họp từ ngày 10 đến ngày 13/10/2003 tại Hà Nội.
7
§iªu Quang L©m – TiÓu häc HiÒn §a
Căn cứ Nghị quyết Đại hội IX của Đảng, bám sát tình hình thực tiễn của đất nước,
phong trào CNVC-LĐ và các chức năng của công đoàn đã được pháp luật quy định, trên
cơ sở tổng hoạt động, phân tích rõ những kết quả, những khuyết điểm, yếu kém, nguyên
nhân và những bài học kinh nghiệm của những nhiệm kỳ qua, mục tiêu và phương
hướng tổng quát của tổ chức công đoàn trong nhiệm kỳ 2003-2008 được xác định như
sau:
“Xây dựng giai cấp công nhân vững mạnh, xứng đáng là lực lượng nòng cốt, đi
đầu trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và vai trò lãnh đạo cách
mạng trong thời kỳ mới; củng cố và phát triển sâu rộng khối đại đoàn kết toàn dân tộc
trong Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, trên cơ sở liên minh vững chắc giai cấp công nhân
với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức; tổ chức các phong trào thi đua yêu nước sôi
nổi, rộng khắp, thiết thực và có hiệu quả trong CNVC-LĐ; tham gia quản lý, chăm lo
bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của CNVC-LĐ; đẩy mạnh phát triển đoàn
viên và tổ chức Công đoàn trong các thành phần kinh tế; nâng cao năng lực và trình độ
cán bộ công đoàn ; đổi mới nội dung và phương thức hoạt động, xây dựng tổ chức Công
đoàn vững mạnh; tham gia xây dựng Đảng, Nhà nước trong sạch, vững mạnh; mở rộng
và tăng cường hợp tác quốc tế, góp phần xây dựng Đảng, Nhà nước trong sạch, vững
mạnh; mở rộng và tăng cường hợp tác quốc tế, góp phần thực hiện thắng lợi các nhiệm
vụ phát triển kinh tế- xã hội, xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN”
Khẩu hiệu hành động của tổ chức Công đoàn trong thời kỳ mới là:
“Xây dựng giai cấp công nhân và tổ chức Công đoàn vững mạnh, chăm lo bảo vệ
quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của CNVC-LĐ, góp phần tăng cường đại đoàn
kết toàn dân tộc, thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.”
Đại hội đã bầu lại đ/c Cù Thị Hậu làm Chủ tịch Tổng Liên đoàn lao động Việt Nam.
10.Đại hội lần thứ X: họp từ ngày 2 đến ngày 5/11/2008 tại Hà Nội
Mục tiêu, phương hướng hoạt động công đoàn trong 5 năm (2008-2013)
“Tiếp tục đổi mới nội dung, phương thức hoạt động của công đoàn các cấp; hướng về cơ
sở, lấy cơ sở làm địa bàn hoạt động chủ yếu, lấy đoàn viên, công nhân, viên chức lao
động làm đối tượng vận động; chuyển mạnh hoạt động công đoàn vào việc tổ chức thực
hiện chức năng đại diện, bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp, chính đáng của đoàn viên, công
nhân, viên chức, lao động; xây dựng quan hệ lao động hài hoà, ổn định, tiến bộ; góp
phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế- xã hội của đất nước”
Khẩu hiệu hành động là:
“Đổi mới, sáng tạo; bảo vệ quyền lợi hợp pháp của đoàn viên, công nhân, viên
chức, lao động; vì sự phát triển ổn định, bền vững của đất nước”
Đại hội đã bầu dồng chí Đặng Ngọc Tùng- Uỷ viên Trung ương Đảng làm Chủ tịch
Tổng Liên đoàn lao động Việt Nam.

8
§iªu Quang L©m – TiÓu häc HiÒn §a
Câu hỏi 3: Đồng chí hãy cho biết đại hội nào được đánh giá là đại hội đổi mới?
Theo đồng chí, quan điểm "đổi mới" đó được phát triển như thế nào ở Đại hội X Công
đoàn Việt Nam?
Trả lời:
Đại hội VI Công đoàn Việt Nam họp giữa lúc công nhân viên chức cùng toàn dân
đang ra sức khắc phục khó khăn, phát triển sản xuất, thực hiện đường lối đổi mới của
Đảng nên có thể nói Đại hội VI Công đoàn Việt Nam là Đại hội đổi mới của phong trào
công nhân và tổ chức Công đoàn Việt Nam. Đại hội họp từ ngày 17 đến ngày
20/10/1988.
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng (12/1980)- Đại hội mở đầu cho
thời kỳ đổi mới ở Việt Nam, đã phân tích những nguyên nhân căn bản dẫn đến khủng
hoảng kinh tế- xã hội ở nước ta, và trên cơ sở đó, Đại hội xác định quan điểm và đường
lối đổi mới, trước hết là đổi mới về kinh tế.
“Muốn đưa nề kinh tế thoát khỏi tình trạng rối ren, mất cân đối, phải dứt khoát sắp xếp
lại nền kinh tế quốc dân theo cơ cấu hợp lý.
Tư tưởng chỉ đạo của kế hoạch và các chính sách kinh tế là giải phóng mọi năng
lực sản xuất hiện có, khai thác mọi khả năng tiềm tàng của đất nước và sử dụng có hiệu
quả sự giúp đỡ quốc tế để phát triển mạnh mẽ lực lượng sản xuất đi đôi với xây dựng và
củng cố quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa”
Trong sự nghiệp cao cả đó, Đảng xác định tổ chức Công đoàn “có vai trò to lớn
trong việc động viên các tầng lớp nhân dân, tham gia xây dựng, quản lý kinh tế, quản lý
xã hội”, “Đảng cần tổng kết kinh nghiệm và ra nghị quyết về xây dựng giai cấp công
nhân. Nhà nước cần bổ sung Luật Công đoàn”.
Động lực chủ yếu thực hiện nhiệm vụ xây dựng và phát triển kinh tế- xã hội trong kế
hoạch 5 năm 1986-1990 không phải là đẩy mạnh đầu tư mà là đổi mới cơ chế quản lý
kinh tế.
Nhà nước đã có nhiều chính sách để từng bước xác lập cơ chế quản lý mới. Trong
nông nghiệp với cơ chế khoán theo hộ, hộ nông dân là đơn vị kinh tế tự chủ ở nông thôn,
đã tạo ra bước phát triển đáng kể về sản xuất lương thực. Từ chỗ lương thực sản xuất
không đủ dùng trở thành quốc gia xuất khẩu gạo. Thắng lợi đó có đóng góp quan trọng
của đội ngũ công nhân viên chức trong những năm cuối thập kỷ 80.
Trong Công nghiệp, Quyết định số 217/HĐBT tháng 11/1987 đã tạo quyền tự chủ
cho các doanh nghiệp quốc doanh. Các đơn vị doanh nghiệp quốc doanh thực hiện hạch
toán độc lập lấy thu bù chi. Sản xuất công nghiệp tuy vẫn còn gặp nhiều khó khăn trong
quá trình chuyển đổi cơ chế, nhưng trong một số ngành công nghiệp then chốt đã đạt
mức tăng trưởng khá. Sản lượng điện năm 1990 tăng 72,5% so với năm 1985. Sản lượng
dầu thô đã tăng từ 40 ngàn tấn năm 1986 lên 2,7 triệu tấn năm 1990.
Với việc xoá bỏ chế độ 2 giá, áp dụng cơ chế giá thị trường, thương mại hoá tư
liệu sản xuất và hàng hoá tiêu dùng cùng với những cải cách trong lĩnh vực tài chính,
9
§iªu Quang L©m – TiÓu häc HiÒn §a
kinh tế đẩy mạnh sản xuất, tăng trưởng kinh tế, chúng ta đã kiềm chế và đẩy lùi được
lạm phát. Nền kinh tế nhiều thành phần đã được phát huy trong một bước quá trình dân
chủ hoá đời sống kinh tế- xã hội và giải phóng sức sản xuất. “Đường lối đổi mới do Đại
hội Đảng lần thứ VI đề ra và được triển khai trong kế hoạch 5 năm 1986-1990 là sự tìm
tòi thử nghiệm, để vượt qua khó khăn, thoát khỏi khủng hoảng”
Gia cấp công nhân là lực lượng nòng cốt trong xây dựng chủ nghĩa xã hội. Năm
1987, công nhân viên chức chiếm 6% dân số, 16% lực lượng lao động xã hội nhưng đã
sản xuất được 35,5% tổng sản phẩm xã hội, 27,3% thu nhập quốc dân và đóng góp cho
Nhà nước 70,6% tổng ngân sách. Số lượng đoàn viên công đoàn từ 84% so với tổng số
công nhân viên chức năm 1983 tăng lên 89,5% năm 1988.
Đại hội VI Công đoàn Việt Nam đã xác định khẩu hiểu “Việc làm và đời sống,
dân chủ và công bằng xã hội” là mục tiêu trong hoạt động của công đoàn các cấp.
Công đoàn phải động viên công nhân, lao động đi đầu trong việc đổi mới cơ chế
quản lý kinh tế, thực hiện thắng lợi đường lối đổi mới của Đảng, đồng thời kiên quyết
đấu tranh thực hiện dân chủ xã hội chủ nghĩa, công bằng xã hội.
Đại hội đã quyết định đổi tên Tổng Công đoàn Việt Nam thành Tổng Liên đoàn
lao động Việt Nam. Các chức danh Thư ký công đoàn gọi là Chủ tịch công đoàn, Đại
hội bầu đồng chí Nguyễn Văn Tư- Uỷ viên dự khuyết Ban Chấp hành Trung ương Đảng
– làm Chủ tịch Tổng Liên đoàn lao động Việt Nam.
Ngày 30/6/1990, Quốc hội khoá VIII, kỳ họp thứ 17 đã thông qua Luật công đoàn. Luật
này thay thế Luật công đoàn đã công bố ngày 5/11/1957.
Điều 1 Luật công đoàn ghi rõ:
“1. Công đoàn là tổ chức chính trị- xã hội rộng lớn của giai cấp công nhân và của
người lao động Việt Nam (gọi chung là người lao động) tự nguyện lập ra dưới sự lãnh
đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam; là thành viên trong hệ thống chính trị của xã hội Việt
Nam; là trường học chủ nghĩa xã hội của người lao động”
Luật công đoàn năm 1990 là cơ sở pháp lý để phát huy vai trò của công đoàn trong cách
mạng xã hội chủ nghĩa, bảo đảm quyền dân chủ và lợi ích của người lao động trong thời
kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Vai trò, vị trí của tổ chức công đoàn đã được
xác định rõ hơn trong hệ thống chính trị của nước Việt Nam trong thời kỳ công nghiệp
hoá, hiện đại hoá.
Quan điểm đổi mới được phát triển ở đại hội X Công đoàn Việt Nam đó là:
Trong mục tiêu phương hướng hoạt động, trong điều kiện đất nước ta hội nhập
sâu với thế giới, như Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới WTO. Vì
vậy trong mục tiêu, phương hướng hoạt động công đoàn trong 5 năm tới (2008-
2013) ghi rõ:
Các nhiệm vụ trọng tâm và giải pháp chủ yếu của Công đoàn trong giai đoạn này xác
định rõ:
1- Đại diện, chăm lo bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của đoàn viên, công
nhân, viên chức, lao động.
10
§iªu Quang L©m – TiÓu häc HiÒn §a
2- Tuyên truyền, giáo dục công nhân, viên chức, lao động góp phần xây dựng giai cấp
công nhân lớn mạnh. Triển khai thực hiện có hiệu quả Chương trình hành động của
Tổng Liên đoàn thực hiện Nghị quyết hội nghị lần thứ 6 của Ban Chấp hành Trung ương
Đảng khoá X “Về tiếp tục xây dựng giai cấp công nhân Việt Nam thời kỳ đẩy mạnh
công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
3- Tổ chức các phong trào thi đua yêu nước trong công nhân, viên chức, lao động.
4- Tiếp tục đổi mới tổ chức và phương thức hoạt động, nâng cao chất lượng hoạt động
của tổ chức công đoàn và đội ngũ cán bộ công đoàn

Câu hỏi 4: Đồng chí hãy nêu quan điểm của Đảng về xây dựng giai cấp công nhân
và tổ chức Công đoàn Việt Nam thời kỳ đẩy mạnh CNH-HĐH đất nước?
Trả lời:
Nghị quyết nêu lên 5 quan điểm chỉ đạo của Đảng ta về vấn đề này, đó là:
Thứ nhất, kiên định quan điểm giai cấp công nhân là giai cấp lãnh đạo cách mạng
thông qua đội tiền phong là Đảng Cộng sản Việt Nam.
Thứ hai, xây dựng giai cấp công nhân lớn mạnh phải gắn kết hữu cơ với xây dựng, phát
huy sức mạnh của liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức
dưới sự lãnh đạo của Đảng, phát huy sức mạnh của tất cả các giai cấp, các tầng lớp xã
hội; đồng thời tăng cường quan hệ đoàn kết, hợp tác quốc tế với giai cấp công nhân trên
toàn thế giới.
Thứ ba, chiến lược xây dựng giai cấp công nhân lớn mạnh phải gắn kết chặt chẽ
với chiến lược phát triển kinh tế- xã hội, công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, hội
nhập kinh tế quốc tế.
Thứ tư, đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ mọi mặt cho công nhân, không
ngừng trí thức hoá giai cấp công nhân là một nhiệm vụ chiến lược.
Thứ năm, xây dựng giai cấp công nhân lớn mạnh là trách nhiệm của cả hệ thống chính
trị, của toàn xã hội và sự nỗ lực vươn lên của bản thân mỗi người công nhân, sự tham
gia đóng góp tích cực cảu người sử dụng lao động; trong đó, sự lãnh đạo của Đảng và
quản lý Nhà nước có vai trò quyết định, Công đoàn có vai trò quan trọng trực tiếp.
Câu hỏi 5: Đồng chí hãy cho biết chiến lược xây dựng giai cấp công nhân của tổ
chức Công đoàn trong giai đoạn hiện nay? Liên hệ thực tiễn tại Công đoàn cơ sở nơi
đồng chí sinh hoạt, công tác?
Trả lời:
Ngày 28/1, Tổng bí thư Nông Đức Mạnh đã ký ban hành nghị quyết hội nghị lần
thứ sáu Ban chấp hành Trung ương khóa X về tiếp tục xây dựng giai cấp công nhân VN
thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
11
§iªu Quang L©m – TiÓu häc HiÒn §a
Nghị quyết này nêu rõ: "Giai cấp công nhân VN là một lực lượng xã hội to lớn,
đang phát triển, bao gồm những người lao động chân tay và trí óc, làm công hưởng
lương trong các loại hình sản xuất kinh doanh và dịch vụ công nghiệp, hoặc sản xuất
kinh doanh và dịch vụ có tính chất công nghiệp".
Sau khi đánh giá tình hình giai cấp công nhân VN trong những năm đổi mới, nghị quyết
khẳng định giữ vững quan điểm chỉ đạo của Đảng: giai cấp công nhân có sứ mệnh lịch
sử to lớn là giai cấp lãnh đạo cách mạng thông qua đội tiền phong là Đảng Cộng sản
Việt Nam.
Việc xây dựng giai cấp công nhân lớn mạnh phải gắn kết hữu cơ với xây dựng,
phát huy sức mạnh của liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí
thức cũng như các tầng lớp xã hội khác trong khối đại đoàn kết toàn dân tộc.
Để đạt được mục tiêu xây dựng giai cấp công nhân trong giai đoạn hiện nay. Tổng Liên
đoàn lao động Việt Nam đã đề ra chương trình hành động:
I. Mục tiêu Chương trình hành động của Tổng Liên đoàn lao động Việt Nam thực
hiện Nghị quyết Trung ương 6 là:
Nâng cao nhận thức của cán bộ, đoàn viên, công nhân, viên chức, lao động cả
nước về vị trí, vai trò của giai cấp công nhân Việt Nam trong thời kỳ đẩy mạnh công
nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
Góp phần cải thiện và nâng cao đời sống vật chất, tinh thần, sức khoẻ của công
nhân; nâng cao giác ngộ giai cấp, bản lĩnh chính trị, ý thức tổ chức kỷ luật, tác phong
công nghiệp và kỷ luật lao động, trình độ học vấn, chuyên môn nghề nghiệp cho công
nhân; xây dựng giai cấp công nhân lớn mạnh.
Tiếp tục đổi mới nội dung và phương thức hoạt động, xây dựng tổ chức Công đoàn vững
mạnh đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ mới; nâng cao tinh thần trách nhiệm, chất lượng và
hiệu quả thực hiện nhiệm vụ xây dựng giai cấp công nhân của tổ chức Công đoàn.
II- Một số chỉ tiêu phấn đấu đến hết năm 2013:
1- Hàng năm có 100% cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp nhà nước tổ chức Hội nghị
cán bộ, công chức; có 90% trở lên số doanh nghiệp nhà nước tổ chức Đại hội công nhân,
viên chức; trên 50% số công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn tổ chức Hội nghị
người lao động.
2- Có 70% trở lên số công đoàn cơ sở doanh nghiệp tổ chức thương lượng với người sử
dụng lao động, xây dựng, ký kết và tổ chức thực hiện Thỏa ước lao động tập thể, nhất là
những nơi đông công nhân, lao động. Phấn đấu xây dựng và ký kết Thỏa ước lao động
tập thể cấp ngành.
3- Tham gia cùng với cơ quan quản lý nhà nước đào tạo đội ngũ công nhân để có 70%
trở lên số công nhân được đào tạo chuyên môn, nghề nghiệp; phấn đấu giảm số vụ tai
nạn lao động nghiêm trọng chết người và bệnh nghề nghiệp; 65% trở lên số công nhân
được tham gia bảo hiểm xã hội.
4- Giới thiệu mỗi năm ít nhất 90.000 công nhân ưu tú để cấp ủy Đảng bồi dưỡng, xem
xét, kết nạp vào Đảng.
12
§iªu Quang L©m – TiÓu häc HiÒn §a
5- Kết nạp mới ít nhất 1,5 triệu đoàn viên. Đến hết năm 2013, có 70% số doanh nghiệp
đủ điều kiện theo quy định của Điều lệ Công đoàn Việt Nam thành lập được công đoàn
cơ sở và tập hợp được từ 60% trở lên số công nhân, viên chức, lao động trong doanh
nghiệp gia nhập công đoàn.
6- 100% cán bộ công đoàn các cấp được đào tạo, bồi dưỡng, tập huấn về lý luận, nghiệp
vụ công đoàn.
7- Phấn đấu tỷ lệ cán bộ nữ tham gia Ban Chấp hành công đoàn các cấp đạt 30% trở lên.
Các công đoàn cơ sở và cấp trên trực tiếp cơ sở có từ 50% lao động nữ trở lên, nhất thiết
phải có cán bộ lãnh đạo chủ chốt là nữ.
8- Hàng năm có trên 80% số công đoàn cơ sở ở các cơ quan hành chính, đơn vị sự
nghiệp và doanh nghiệp thuộc khu vực nhà nước và 40% số công đoàn cơ sở ở khu vực
ngoài nhà nước và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đạt tiêu chuẩn Công đoàn cơ
sở vững mạnh, trong đó có 10% đạt tiêu chuẩn Công đoàn cơ sở vững mạnh xuất sắc”.
III- Nhiệm vụ và giải pháp chủ yếu
1- Đại diện, chăm lo bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của đoàn viên, công
nhân, viên chức, lao động
- Chủ động tham gia xây dựng và kiểm tra, giám sát việc thực hiện chính sách, pháp luật
liên quan trực tiếp đến công nhân, viên chức, lao động. Trước mắt là chính sách về nhà
ở, đặc biệt là nhà ở cho công nhân các khu công nghiệp và công nhân, viên chức, lao
động có thu nhập thấp; chính sách đảm bảo việc làm, tiền lương, thu nhập, bảo hiểm xã
hội, bảo hiểm y tế, xây dựng nhà trẻ, mẫu giáo và các thiết chế văn hoá phục vụ công
nhân lao động.
Nghiên cứu, kiến nghị và tham gia sửa đổi, bổ sung Bộ luật Lao động, Luật Công đoàn,
Luật Bảo hiểm xã hội; qui định pháp luật về thực hiện qui chế dân chủ trong các doanh
nghiệp ngoài nhà nước và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài; chính sách, pháp luật
về bảo hộ lao động, an toàn lao động, vệ sinh lao động, bảo vệ môi trường; chính sách
đối với lao động nữ; chính sách đào tạo, đào tạo lại nghề cho công nhân; chính sách
khuyến khích công nhân tự học tập nâng cao trình độ học vấn, tay nghề, chuyên môn
nghiệp vụ, ngoại ngữ; chính sách đãi ngộ đặc biệt đối với công nhân có sáng kiến, có tay
nghề cao.
- Phối hợp chặt chẽ với người sử dụng lao động tổ chức thực hiện tốt Quy chế dân chủ ở
cơ sở, tổ chức Đại hội công nhân, viên chức, Hội nghị cán bộ, công chức, Hội nghị
người lao động bảo đảm thiết thực, hiệu quả. Hướng dẫn, giúp đỡ công nhân, lao động
giao kết Hợp đồng lao động.
- Đại diện tập thể người lao động đối thoại, thương lượng, ký kết và tổ chức thực hiện
Thoả ước lao động tập thể với nội dung quy định có lợi hơn cho người lao động; đẩy
mạnh việc ký Thoả ước lao động tập thể cấp tổng công ty, tiến tới thực hiện ký Thoả
ước lao động tập thể cấp ngành nghề toàn quốc.
- Chủ động tham gia sắp xếp, đổi mới và nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp
nhà nước, đảm bảo việc làm cho người lao động và thực hiện đầy đủ chính sách đối với
13
§iªu Quang L©m – TiÓu häc HiÒn §a
lao động dôi dư theo qui định của Nhà nước. Hỗ trợ, hướng dẫn, giúp đỡ công đoàn cơ
sở tham gia với người sử dụng lao động xây dựng thang bảng lương, định mức lao động;
vận động công nhân mua và giữ cổ phần trong các doanh nghiệp cổ phần hoá.
- Tham gia có hiệu quả trong hoạt động của Uỷ ban quan hệ lao động nhằm thực hiện tốt
vai trò đại diện, bảo vệ đoàn viên, công nhân, viên chức, lao động. Tổ chức thực hiện tốt
việc thông tin, đối thoại, thương lượng thường xuyên ở các cấp, đặc biệt là đối thoại tại
nơi làm việc giữa người lao động với công đoàn và người sử dụng lao động.
- Phối hợp với các cơ quan, tổ chức hữu quan nghiên cứu, tổ chức thực hiện các biện
pháp xây dựng quan hệ lao động hài hoà, ổn định, tiến bộ, phòng ngừa tranh chấp lao
động, đình công tự phát tại doanh nghiệp; hướng dẫn, chỉ đạo công đoàn cơ sở hoặc đại
diện tập thể lao động thực hiện quyền tổ chức, lãnh đạo đình công theo thủ tục, trình tự
pháp luật; tổ chức thực hiện có hiệu quả việc tham gia tố tụng các vụ án lao động nhằm
bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của công nhân, lao động.
Phát triển tổ chức, nâng cao chất lượng hoạt động tư vấn pháp luật của công đoàn nhằm
thực hiện tốt quyền được tư vấn miễn phí của đoàn viên, công nhân, viên chức, lao động
về pháp luật lao động và Luật Công đoàn.
- Tích cực tham gia thực hiện Chương trình Quốc gia về an toàn lao động, vệ sinh lao
động, góp phần thúc đẩy doanh nghiệp thực hiện tốt các qui định về bảo hộ lao động.
Tiếp tục kiện toàn tổ chức, nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ làm công tác bảo hộ lao
động của công đoàn các cấp. Đổi mới tổ chức, nâng cao năng lực nghiên cứu và ứng
dụng của Viện Nghiên cứu Khoa học kỹ thuật Bảo hộ lao động. Tăng cường chỉ đạo,
thực hiện công tác bảo hộ lao động ở những ngành nghề, địa phương trọng điểm, doanh
nghiệp có đông công nhân, lao động thường xuyên phải làm việc ở nơi có nguy cơ cao
xảy ra tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp.
- Tham gia giải quyết việc làm, chăm lo đời sống cho công nhân, viên chức, lao động
thông qua hoạt động vay vốn từ Quĩ Quốc gia giải quyết việc làm và từ các nguồn khác.
Nhân rộng mô hình Quĩ trợ vốn cho người nghèo (CEP) ở một số địa phương. Đẩy mạnh
các hoạt động đền ơn, đáp nghĩa; các hoạt động xã hội, tương thân, tương ái trong công
nhân, viên chức, lao động thông qua các chương trình Mái ấm công đoàn, Quĩ “Vì công
nhân, viên chức, lao động nghèo, Quĩ “Tấm lòng vàng nhằm góp phần xoá đói, giảm
nghèo trong công nhân, viên chức, lao động và trong xã hội.
2- Tuyên truyền, giáo dục công nhân, viên chức, lao động góp phần xây dựng giai cấp
công nhân lớn mạnh. Triển khai thực hiện có hiệu quả Chương trình hành động của Tổng
Liên đoàn thực hiện Nghị quyết hội nghị lần thứ 6 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng
khoá X “Về tiếp tục xây dựng giai cấp công nhân Việt Nam thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp
hoá, hiện đại hoá đất nước.
- Tham gia xây dựng và triển khai thực hiện chiến lược xây dựng giai cấp công nhân lớn
mạnh gắn với chiến lược phát triển kinh tế- xã hội, công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất
nước và hội nhập kinh tế quốc tế. Thực hiện tốt công tác tham mưu cho Đảng xây dựng
chính sách về giai cấp công nhân.
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét