Thứ Sáu, 7 tháng 3, 2014

NHTM đối với sự ra đời và hoạt động của TTCK VN

5. Tiền gửi trong các ngân hàng khác
6. Sử dụng vốn khác
+ Vay chiết khấu ở NHTƯ
4. Vốn tự có
5.Nguồn vốn khác
Các ngân hàng thu nhận vốn bằng cách phát hành (bán) những tài sản
rồi vốn này có thể đợc dùng để mua những tài sản có mang lại thu nhập.
a. Nghiệp vụ nợ:
Nghiệp vụ này hình thành nên tài sản nợ của NHTM
+ Tiền gửi không kỳ hạn (tiền gửi có khả năng phát hành séc): Đây là đối t-
ợng kinh doanh chính của NHTM do lãi suất thấp. Nhng sự biến động của
nguồn tiền này rất phức tạp do khách hàng đợc hởng các giao dịch, dịch vụ
ngân hàng bất cứ lúc nào.
+ Tiền gửi tiết kiệm: Loại này chiếm tỉ trọng tơng đối lớn trong tổng nguồn
vốn của NHTM. Nó có số d tơng đối ổn định vì ngời gửi chỉ rút một phần hay
toàn bộ vào thời điểm nhất định.
+ Các khoản tiền đi vay: Sau khi đã sử dụng hết vốn, nhng vẫn cha đáp ứng
đợc nhu cầu vay vốn của khách hàng hoặc phải đáp ứng nhu cầu thanh toán
và chi của khách hàng các NHTM có thể đi vay từ dân c thông qua phát hành
trái phiếu, kỳ phiếu ngân hàng với lãi suất thấp hơn các khoản vay khác hoặc
có thể vay từ các NHTM khác và sau cùng mới là vay chiết khấu NHTƯ do
lãi suất chiết khấu cao. Vốn đi vay chỉ chiếm một tỉ trọng có thể chấp nhận
đợc trong kết cấu nguồn vốn, nhng nó rất cần thiết và có một vị trí quan trọng
để đảm bảo cho ngân hàng hoạt động kinh doanh một cách bình thờng.
+ Vốn tự có: Nguồn vốn này chiếm tỷ trọng nhỏ (5%-7%) nhng có tính chất
vận động ổn định nhất.
+Nguồn vốn khác: Đây là nguồn vốn không thờng xuyên, không chắc chắn
có ở NHTM, nó chỉ có trong những trờng hợp cụ thể đặc biệt ví dụ nh tiền
thừa kế giữ hộ
b. Nghiệp vụ có:
Đây là nghiệp vụ mà ngân hàng sử dụng nguồn vốn của mình để kinh
doanh thu lợi nhuận
+ Nghiệp vụ dự trữ tiền mặt: nghiệp vụ này nhằm duy trì khả năng thanh
toán của ngân hàng để đáp ứng nhu cầu rút tiền và thanh toán thờng xuyên
của khách hàng. Các khoản dự trữ tiền mặt của ngân hàng không sinh lãi nh-
ng nó bảo hiểm cho ngân hàng tránh sự thiệt hại lớn nhất - vỡ nợ ngân hàng.
Các khoản tiền dự trữ bao gồm dự trữ bắt buộc và dự trữ vợt quá. Ngoài ra
còn có tiền mặt trong quá trình thu, tiền gửi của các NHTM khác.
+ Hoạt động cho vay: là việc NHTM nhờng quyền sử dụng vốn của mình
cho ngời khác trong một thời gian nhất định. Và kết thúc thời gian đó NHTM
sẽ đợc hoàn trả cả vốn và lãi.
Ta có thể phân loại các khoản cho vay của NHTM theo các tiêu thức khác
nhau .
- 5 -
- Căn cứ vào thời gian, có: tín dụng ngắn hạn ( từ 12 tháng trở xuống ), tín
dụng trung hạn ( từ 1 đến 5 năm ) và tín dụng dài hạn ( từ 5 năm trở lên ).
- Căn cứ vào tài sản thế chấp, gồm: cho vay có tài sản thế chấp ( cho vay
cầm cố, cho vay chiết khấu và cho vay thế chấp ) và cho vay không có tài sản
thế chấp ( cho vay tín chấp và cho vay bảo lãnh )
- Căn cứ vào quy mô của vốn vay, gồm: cho vay trong hạn mức, ngoài hạn
mức và cho vay quá ngạch
+ Đầu t: NHTM dùng nguồn vốn của mình tham gia vào hoạt động sản xuất
kinh doanh với t cách là ngời góp vốn nhằm mục đích kiếm lợi nhuận, nâng
cao khả năng thanh khoản, đa dang hoá các dịch vụ thanh toán nhằm phân
tán rủi ro; thâm nhập, thao túng nền kinh tế. Thông qua đó NHTM nắm đợc
những thông tin hoàn hảo, đồng thời củng cố va nâng cao đợc uy tín của
mình.
+ Sử dụng vốn khác: đây là những khoản tiền không thờng xuyên ổn định .
c. Ngiệp vụ trung gian
NHTM cung cấp các dịch vụ cho khách hàng
- Thực hiện dịch vụ chuyển tiền cho khách hàng
- Thanh toán không dùng tiền mặt cho khách hàng dới các hình thức: uỷ
nhiệm thu, uỷ nhiệm chi, các loại séc, thẻ tín dụng
- Thực hiện mua bán hộ tài sản( nh vàng bạc , đá quý) và bảo quản tài sản
- NHTM thực hiện việc thanh toán các chứng khoán
- NHTM tham gia tích cực vào việc định giá chứng khoán
- 6 -
II. Nghiệp vụ của NHTM trên TTCK
1. Chức năng của TTCK
1.1 TTCK và đối tợng giao dịch của nó
Chứng khoán ( CK ) là những giấy tờ có giá mang lại cho ngời chủ sở
hữu quyền đợc hởng những khoản thu nhập quyền hoặc tham gia sở hữu hoặc
đòi nợ và bao gồm những điều khoản chuyển nhợng.
TTCK là nơi giao dịch mua bán CK nghĩa là ở đâu có giao dịch CK thì ở
đó có hoạt động của TTCK. Đây là loại thị trờng có tính tự do cao nhất trong
các loại thị trờng, giá mua bán hoàn toàn do quan hệ cung cầu trên thị trờng
xác định.
TTCK là một bộ phận của thị trờng tài chính mà tại đó diễn ra việc mua
bán các công cụ tài chính trung và dài hạn theo nguyên tắc thị trờng.
Đối tợng giao dịch của TTCK là các CK. CK gồm 3 loại: CK vốn (cổ
phiếu ), CK nợ ( trái phiếu ), các chứng từ tài chính có nguồn gốc CK (kỳ
phiếu, các giấy nhận nợ, hợp đồng tơng lai )
Cổ phiếu là loại chứng chỉ xác nhận việc góp vốn của một ngời vào công
ty cổ phần. Cổ phiếu xác nhận quyền sở hữu của ngời này đối với công ty cổ
phần. Ngời sở hữu đợc gọi là cổ đông. Cổ đông có các quyền hạn và trách
nhiệm đối với công ty cổ phần, đợc chia lời (cổ tức) theo kết quả hoạt động
kinh doanh của công ty cổ phần, đợc quyền bầu cử, ứng cử vào ban quản lý,
ban kiểm soát. Cổ phiếu có thể đợc phát hành vào lúc thành lập công ty, hoặc
lúc công ty cần thêm vốn để mở rộng, hiện đại hoá sản xuất kinh doanh.
Một đặc điểm của cổ phiếu là cổ đông đợc chia cổ tức theo kết quả hoạt
động sản xuất kinh doanh của công ty. Cổ đông có thể đợc hởng lợi nhuận
nhiều hơn giá trị của cổ phiếu và cũng có thể bị mất trắng khi công ty làm ăn
thua lỗ. Cổ đông không đợc quyền đòi lại số vốn mà ngời đó đã đóng góp vào
công ty cổ phần họ chỉ có thể thu hồi lại tiền bằng cách bán cổ phiếu đó ra
trên TTCK.
Trái phiếu là chứng chỉ xác nhận quyền làm chủ một mốn nợ của chủ sở
hữu trái phiếu đối với đơn vị phát hành. Trái phiếu là loại CK mà lãi suất vay
nợ đã đợc xác định rõ ngay khi phát hành, do đó nó có lợi tức cố định và chỉ
đợc hoàn trả khi đến hạn thanh toán ghi trên trái phiếu mà ngời phát hành
phải thực hiện
Các chứng từ tài chính có nguồn gốc CK:
Kỳ phiếu là chứng chỉ của Nhà nớc phát hành với mục đích vay vốn
của các tổ chức kinh tế xã hội, các tầng lớp dân c để bù đắp thâm hụt NSNN.
Trong vài năm trở lại đây, kho bạc Nhà nớc phát hành kỳ phiếu rộng rãi trong
cả nớc.
Các hợp đồng tơng lai là loại hợp đồng trong đó ngời bán cam kết
giao một số hàng hoá hay CK và ngời mua sẽ trả tiền khi nhận hàng hoá hay
CK với giá nhất định, tại một ngày nhất định trong tơng lai đợc xác định trớc
ở hiện tại tại thời điểm ký kết hợp đồng.
- 7 -
Các quyền lựa chọn là một kiểu hợp đồng trong đó một bên cho bên
kia đợc mua hoặc bán một khối lợng CK nào đó với giá xác định trong một
thời hạn nhất định.
Giấy bảo đảm quyền mua cổ phiếu gồm chứng quyền và chứng
khế. Chứng quyền là quyền u đãi mà công ty cổ phần cho cổ đong đợc hởng
dể mua cổ phiếu mới tỷ lệ với số cổ phiếu mà họ đang nắm giữ. Chứng khế đ-
ợc phát hành với một loại CK khác, cho phép ngời sở hữu nó đợc quyền mua
cổ phiếu thờng theo giá định trớc gọi là giá đặt mua trong thời hạn nhất định.
1.2 Chức năng của TTCK
a. Huy động vốn đầu t cho nền kinh tế
Khi các nhà đầu t mua CK do các công ty phát hành, số tiền nhàn rỗi
của họ đựơc đa vào hoạt động sản xuất kinh doanh và qua đó góp phần mở
rộng sản xuất xă hội. Bằng cách hỗ trợ các hoạt động đầu t cho công ty,
TTCK đã có những tác động quan trọng đối với sự phát triển của nền kinh tế
quốc dân. Thông qua TTCK, chính phủ và chính quyền ở các địa phơng cũng
huy động đợc các nguồn vốn cho mục đích sử dụng và đầu t phát triển hạ
tầng kinh tế, phục vụ các nhu cầu chung của xã hội
b.Cung cấp môi trờng đầu t cho công chứng
TTCK cung cấp cho công chúng một môi trờng đầu t lành mạnh với
các cơ hội lựa chọn phong phú. Các loại CK trên thị trờng rất khác nhau về
tính chất, thời hạn, độ rủi ro, cho phép các nhà đầu t có thể lựa chọn cho loại
hàng hoá phù hợp với khả năng mục tiêu và sở thích của mình. Vì vậy TTCK
góp phần đáng kể làm tăng mức tiết kiệm quốc gia.
c.Tạo tính thanh khoán cho các CK
Nhờ có CK các nhà đầu t có thể chuyển đổi CK họ sở hữu thành tiền
mặt hoặc các loại CK khác khi họ muốn. Khả năng thanh khoản (khả năng
chuyển đổi thành tiền) là một trong những đặc tính hấp dẫn của CK đối với
ngời đầu t. TTCK hoạt động càng năng động và có hiệu qủa thì càng có khả
năng nâng cao tính thanh khoản của các loại CK giao dịch trên thị trờng.
d. Đánh giá hoạt động của doanh nghiệp
Thông qua CK hoạt động của các doanh nghiệp đợc phản ánh một
các tổng hợp và chính xác giúp cho viêc đánh giá và so sánh hoạt động của
các doanh nghiệp đợc nhanh chóng và thuận tiện, từ đó cũng tạo ra một môi
trờng cạnh tranh lành mạnh nhằm năng cao hiệu quả sử dụng vốn, kích thích
áp dụng công nghệ mới, cải tiến sản phẩm.
e.Tạo môi trờng giúp chính phủ thực hiện các chính sách kinh tế vĩ mô.
Các chỉ bảo của TTCK phản ánh động thái của nền kinh tế một cách nhạy
bén và chính xác. Giá các CK tăng lên cho thấy đầu t đang mở rộng, nền kinh
tế tăng trởng và ngợc lại giá CK giảm sẽ thấy dấu hiệu tiêu cực của nền kinh
tế. Vì thế TTCK đợc gọi là phong vũ biểu của nền kinh tế và là một công cụ
quan trọng giúp chính phủ thực hiện các chính sách kinh tế vĩ mô. Thông qua
TTCK, chính phủ có thể mua và bán trái phiếu để tạo ra nguồn thu bù đắp
thâm hụt ngân sách và quản lý lạm phát. Ngoài ra chính phủ cũng có thể sử
- 8 -
dụng một số chính sách, biện pháp tác động vào TTCK nhằm định hớng đầu
t đảm bảo cho sự phát triển cân đối của nền kinh tế.
2. Mối quan hệ giữa NH với TTCK
TTCK và hệ thống NH có mối quan hệ chặt chẽ và gắn bó hữu cơ với
nhau. Rõ ràng TTCK chỉ có thể phát triển vững chắc trên cơ sở một hệ thống
NH phát triển lành mạnh và ddợc kiểm soát tốt. Mối quan hệ giữa NH với
TTCK đợc thể hiện trên các mặt sau:
a) TTCK chỉ có thể ra đời và phát triển trên cơ sở hệ thống tiền tệ ổn
định. Đặc biệt là chỉ số lạm phát, tỷ giá và vấn đề lãi suất có ảnh hởng rất
lớn đến giá cả CK. Kinh nghiệm của Hong Kong cho thấy khi các nhà chức
trách Hong Kong nâng lãi suất lên 200-300% để duy trì tỉ giá đã ảnh hởng
ngay đén TTCK làm cho giá CK bị giảm ghê gớm vào ngày 23/10/1997.
b) TTCK có quan hệ chặt chẽ với hệ thống các thị trờng vốn ngắn hạn
nh thị trờng vốn tín dụng, thị trờng hối đoái và thị trờng tiền tệ. Các thị trờng
ngắn hạn này là địa bàn hoạt động và quản lý của các NH. Mối quan hệ giữa
TTCK và thị trờng ngắn hạn là mối quan hệ giữa vốn ngắn hạn và vốn dài
hạn. Rõ ràng thị trờng ngắn hạn hoạt động ổn định và không ngừng phát triển
sẽ là tiền đề quan trọng cho sự phát triển của TTCK. Bởi vậy bất kỳ chính
sách tiền tệ nào của NHTƯ sẽ tác động đến thị trờng ngắn hạn và có ảnh h-
ởng đến thi trờng vốn dài hạn.
c) Các NHTM là những tổ chức đóng vai trò tích cực trong hoạt động
kinh doanh CK dới hình thức trực tiếp hay gián tiếp tuỳ theo từng nớc. Bởi
vậy hệ thống các NHTM hoạt động lành mạnh và đợc NHTƯ kiểm soát và
giám sát chặt chẽ sẽ có ảnh hởng lớn đến tính lành mạnh của TTCK.
d) Hoạt động giao dịch mua bán trên thị trờng tài chính cuối cùng đi đến
việc thanh toán chuyển giao chứng khoán và tiền tệ. Quá trình thanh toán chỉ
có thể thực hiện đợc thông qua hệ thống thanh toán của NHTM và cả NHNN.
3. Các nghiệp vụ của NHTM trên TTCK
NHTM có vai trò rất quan trọng trong việc hình thành và phát triển
TTCK cả đối với thị trờng sơ cấp và thị trờng thứ cấp. Bởi vì, NHTM vốn là
yếu tố quan trọng nhất trên thị trờng tài chính, nó giữ vai trò trung gian huy
động và cung ứng toàn bộ vốn cho nền kinh tế.
NHTM với khả năng chuyên môn và quan hệ chặt chẽ với các doanh
nghiệp cho nên chính NHTM là ngời hiểu rõ nhất thực trạng kinh tế tài
chính, dự đoán các xu hớng phát triển kinh tế. Do đó, NHTM là ngời t vấn
đầu t tài chính tốt nhất trên TTCK. Bên cạnh đó với nguồn vốn dồi dào,
NHTM sẽ đóng vai trò quan trọng trong việc bảo lãnh phát hành CK đối với
cả ngời phát hành và ngời kinh doanh CK. Ngoài ra, với mạng lới rộng khắp
NHTM sẽ giúp cho việc giao dịch CK đợc dễ dàng, thuận tiện, tiết kiệm, tiếp
cận đợc với đông đảo khách hàng.
Cùng với hệ thống trang thiết bị kỹ thuật, NHTM có thể đảm bảo các
thông tin kịp thời về TTCK đảm bảo việc thanh toán, lu giữ CK và các quyền
- 9 -
lợi khác cho các nhà đầu t. Mặt khác, với uy tín hoạt động nhiều năm trên
lĩnh vực đầu t tài chính, NHTM đã thu hút đợc sự tín nhiệm của đông đảo
khách hàng. Các doanh nghiệp và ngời dân đến với ngân hàng không còn bỡ
ngỡ nghi ngại, mặc dù giao dịch CK là một nghiệp vụ mới của ngân hàng.
Với vai trò vô cùng quan trọng trong việc hình thành và phát triển TTCK
nh trên, NHTM có thể tham gia tích cực vào hoạt động của TTCK với các
nghiệp vụ sau:
3.1.NHTM là ng ời trợ giúp đắc lực trong việc cung cấp hàng hoá cho
TTCK.
Hàng hoá của TTCK là các CK. Các CK tồn tại dới hình thức nh trái
phiếu Chính phủ, trái phiếu NHTM, cổ phiếu của các công ty cổ phần, cổ
phiếu của các doanh ngiệp Nhà nớc cổ phần hoá
Nh vậy để tạo ra hàng hoá cho TTCK, việc đầu tiên là ngân hàng thúc
đẩy quá trình cổ phần hoá các DNNN và hình thành các công ty cổ phần.
NHTM mua cổ phiếu với một tỉ giá đáng kể và trực tiếp tham gia quản lý
kinh doanh, t vấn hoạt động tài chính của công ty. Đặc biệt NHTM còn tham
gia hỗ trợ cho công ty lúc gặp khó khăn. Trong trờng hợp này , tín dụng đợc
chuyển thành cổ phần để duy trì hoạt động của công ty.
NHTM thực hiện bảo lãnh phát hành CK trên thị trờng sơ cấp. Các công
ty gặp khó khăn khi tự mình phát hành CK do hạn chế về kinh nghiệm, trình
độ và mạng lới giao dịch. Vì thế họ dựa vào dịch vụ bảo lãnh phát hành của
NHTM - ngời vốn có đủ uy tín kinh nghiệm. Khi thực hiện vai trò này,
NHTM có thể giúp cho công ty lựa chọn loại CK phát hành, t vấn về các vấn
đề khác. Trong những trờng hợp đậc biệt nh số phát hành khá lớn, các
NHTM có thể cùng nhau chia sẻ việc dự định số phát hành này nhằm giảm
thiểu rủi ro. Bên cạnh đó, NHTM còn thực hiện chiết khấu các loại CK cho
khách hành. Nhờ đó nâng cao tính thanh khoản của hàng hoá CK, hấp dẫn
các cá nhân và tổ chức sẵn sàng mua KC trên thị trờng sơ cấp và thị trờng thứ
cấp.
3.2. NHTM là ng ời môi giới có nhiều u thế nhất trên TTCK
Ngời môi giới là thành viên quan trọng của TTCK. Xuất phát từ chức
năng làm thủ quỹ cho các doanh nghiệp, các NHTM luôn là ngời am hiểu t-
ờng tận, nắm đợc thông tin đầy đủ chính xác về các công ty phát hành CK.
Hơn nữa, NHTM có đội ngũ cán bộ, nhân viên ngân hàng có nghiệp vụ
chuyên môn liên quan chặt chẽ với nghiệp vụ KC, có sẵn những phơng tiện
vật chất kỹ thuật cần thiết và phù hợp với ngời môi giới.
Với u thế đó NHTM giúp khách hàng lựa chọn đợc những cơ hội đâu t có
lợi, tiết kiệm đợc chi phí giao dịch, xác định đợc thời điểm mua CK tốt nhất.
Nh thế nó mang lại lợi ích cho cả ngời mua và ngời bán CK, thúc đẩy TTCK
hoạt động sôi động hơn, hiệu quả hơn.
3.3. NHTM cung cấp dịch vụ l u trữ và quản lý chứng khoán
Dịch vụ này đợc thực hiện theo hai cách : ngân hàng có thể giữ các CK đ-
ợc sử dụng nh vật thế chấp cho khoản vay của khách hàng. Hay những cá
- 10 -
nhân tổ chức có thể nhờ ngân hàng quản lý sinh lời tài sản của họ và giao các
chứng khoán cho ngân hàng quản lý .
Ngân hàng có thể bảo quản những CK này dới nhiều hình thức khác
nhau. Đồng thời, khách hàng cũng có thể yêu cầu NHTM thực hiện những
dịch vụ liên quan đến CK nh thu hồi vốn các CK đáo hạn, thu lãi cổ tức và
ghi có vào tài khoản của họ
Vai trò này xuất phát từ chức năng trung gian tài chính của NHTM .
Cũng nh vai trò của ngời môi giới, việc thực hiện vai trò này đem lại cho
NHTM nguồn thu đáng kể đồng thời giúp cho ngời mua bán CK giảm khoản
chi phí, thời gian, tăng độ an toàn và đợc hởng những lợi nhuận cao hơn nhờ
vào kinh nghiệm và chuyên môn của NHTM
3.4. NHTM thực việc thanh toán các chứng khoán
Đây là nhiệm vụ thanh toán tiếp nối dịch vụ quản lý CK của NHTM.
Ngân hàng có thể mở tài khoản cho khách hàng của mình để theo dõi việc
mua bán, chuyển nhợng CK của khách hàng bao gồm cả việc thu lãi thu cổ
tức.
Nh vậy, NHTM đã góp phần làm cho hoạt động trên TTCK đợc dễ dàng
thuận lợi hơn, Bởi các đối tợng tham gia TTCK (ngời mua bán, môi giới) sẽ
không phải quan tâm đến lu trữ và theo dõi mua bán một số lợng cổ phiếu,
trái phiếu rất lớn hàng ngày. Các NHTM đã đảm đơng công việc này cho họ .
3.5. NHTM tham gia tích cực vào việc định giá hàng hoá trên TTCK.
ở thị trờng chính thức ( sở giao dịch chứng khoán) và thị trờng bán tập
trung thì mọi việc mua, bán CK đều đợc thực hiện qua ngời môi giới. Còn thị
trờng vô hình chỉ là bộ phận nhỏ. Do vậy có thể nói giá CK trên thị trờng là
do nhà môi giới quyết định qua các cuộc đấu giá hay thơng lợng. Kết quả đấu
giá hay thợng lợng này tuỳ thuộc vào từng thời điểm, cung cầu các loại CK
đó trên thị trờng và kinh nghiệm, thực lực của các nhà môi giới, mà NHTM là
ngời môi giới có uy tín nhất trên thị trờng. Do đó NHTM trực tiếp tham gia
và có ảnh hởng tới việc định giá CK trên TTCK.
Trên đây ta đã thấy rõ vai trò của NHTM đối với sự hình thành và phát
triển TTCK ở những nớc có nền kinh tế thị trờng. Đồng thời TTCK cũng tạo
điều kiện để NHTM phát triển các dịch vụ của mình , đáp ứng nhu cầu ngày
càng lớn đa dạng của nền kinh tế. Sụ tham gia của NHTM vào TTCK đã làm
mờ đi ranh giới giữa hệ thống ngân hàng chuyên doanh và hệ thống ngân
hàng đa năng.
3.6.NHTM thực hiện nghiệp vụ đầu t trên TTCK.
NHTM đã huy động đợc vốn thì phải cho vay kiếm lời. Đây là hoạt động
mang lại nguồn lợi nhuận chủ yếu cho ngân hàng, nhng cũng có rất nhiều rủi
ro (ngân hàng có thể bị mất vốn hoặc thu hồi vốn không đầy đủ, có khách
hàng không có ý thức trả nợ, hoặc không có khả năng trả nợ ). Chính vì vậy,
với mục đích phân tán rủi ro ngân hàng có thể dùng vốn của mình để đầu t
CK ở những công ty có triển vọng thu lợi nhuận cao. Vì ngân hàng có đợc
những thông tin chính xác về tình hình làm ăn của công ty, kết hợp với sự
- 11 -
phân tích và tài phán đoán về triển vọng của công ty trong tơng lai sẽ giúp
cho ngân hàng có đợc sự lựa chọn đúng đắn mua CK cho chính mình.
II. NHTM với sự ra đời và hoạt động của TTCK việt
nam
1. Tính tất yếu của việc hình thành và phát triển TTCK ở Việt
Nam
Sau hơn 10 năm đổi mới nền kinh tế nớc ta đã có sự thay đổi căn bản, từ
nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung sang nền kinh tế hàng hoá nhiều thành
phần vận hành theo cơ chế của nhà nớc. Nền kinh tế đã đạt đợc những thành
tựu nhất định, đời sống nhân dân từng bớc đợc cải thiện .
Hiện nay, chúng ta đang tập trung mọi nguồn lực để thực hiện công cuộc
công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nớc. Nhu cầu vốn lúc này rất lớn và cấp
bách. Nhng vấn đề đặt ra là có thể huy động vốn từ những nguồn nào?
Có thể trông chờ vào vốn vay từ nớc ngoài ( vốn ODA, vốn vay thơng
mại ) vốn đầu t trực tiếp từ nớc ngoài ( FDI ). Nhng huy động vốn từ những
nguồn này còn nhiều hạn chế nh phụ thuộc nặng nề vào kinh tế thế giới và
gánh nặng nợ nớc ngoài, sử dụng vốn FDI cũng chỉ hớng vào một số lĩnh vực
và hạng mục công trình. Do đó để chủ động tạo ra nhiều vốn đầu t thì vẫn
phải từ nội bộ nền kinh tế là chủ yếu. Nhng không trông chờ nhiều từ nguồn
ngân sách nhà nớc vì ngân sách nhà nớc thờng xuyên bị thâm hụt. Việc phát
hành công trái không thành công do lãi suất thấp, do dân chúng cha quen.
Phát hành trái phiếu kho bạc, trái phiếu công trình ( nh đờng dây 500KV) và
trái phiếu của các ngân hàng quốc doanh tuy lãi suất cao nhng bị hạn chế bởi
khả năng luân chuyển. Do đó ngời dân vẫn còn ngần ngại trong đầu t. Hơn
nữa hệ thống ngân hàng tuy đã đợc đổi mới nhng tính độc quyền còn cao,
cạnh tranh kém, dịch vụ nghèo nàn cha thực hiện hết các chức năng của mình
nên cha đủ khả năng thu hút vốn nhàn rỗi trong các cá nhân, tổ chức. Ngoài
ra, xuất phát từ một nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu, bị chiến tranh tàn phá,
để thực hiện CNH-HĐH thì rất cần vốn trung và dài hạn để đầu t xây dựng
vật chất kỹ thuật, đầu t cho phát triển công nghệ.
Những vấn đề trên đặt ra nhu cầu cấp thiết tiến tới hình thành TTCK ở n-
ớc ta hiện nay. TTCK sẽ là một kênh huy động vốn trung và dài hạn hữu hiệu
tận dụng nguồn vốn nhàn rỗi trong dân c. TTCK ra đời nó sẽ tạo điều kiện
cho việc phát hành công trái, trái phiếu kho bạc nhà nớc, trái phiếu ngân
hàng Đồng thời là cửa ngõ thu hút vốn đầu t nớc ngoài, điều chỉnh cơ cấu
kinh tế
Mặt khác, sau khi chấp nhận nền kinh tế nhiều thành phần, khu vực t
doanh đợc mở rộng, luật công ty đã đợc ban hành ( năm 1990 ). Theo luật
này, công ty cổ phần đợc phát hành cổ phiếu và trái phiếu - là những mặt
hàng cung cấp cho TTCK. Nếu có đợc một TTCK thì việc mua bán chứng
khoán sẽ dễ dàng hơn, sẽ đa vốn vào đầu t sản xuất tốt hơn.
Hơn nữa, việc phát triển TTCK ở Việt Nam gắn liền với việc cổ phần hoá
các doanh nghiệp nhà nớc. Chính phủ đã có chủ trơng ban hành nghị định
- 12 -
44/1998- NĐ-CP ngày 29/6/1998 về việc cổ phần hoá các doanh nghiệp Nhà
nớc để tăng hiệu quả kinh tế. Nhng tiến độ cổ phần hoá diễn ra rất chậm. Đến
hết năm 1999 chúng ta dự kiến cổ phần hoá 400 DNNN, và trong chỉ thị số
20/1998/CT-TTG qui định đến hết năm 2000 sẽ chuyển khoảng 20% tổng số
DNNN tức là khoảng 1200 đơn vị thành công ty cổ phần. Đến nay chúng ta
mới thực hiện đợc 370 doanh nghiệp. Do đó việc thành lập TTCK sẽ giúp đẩy
nhanh tiến độ cổ phần hoá. Và ngợc lại cổ phần hoá các doanh nghiệp nhà n-
ớc sẽ tạo hàng hoá cho TTCK.
Bên cạnh đó, còn có một số yếu tố thuận lợi giúp đẩy nhanh quá trình
hình thành và phát triển TTCK Việt Nam. Đó là các yếu tố nh:
Nớc ta có chế độ chính trị - xã hội ổn định. Nền kinh tế từ khi đổi mới có
nhiều chuyển biến và đạt đợc một số thành tựu to lớn, đời sống nhân dân từng
bớc đợc cải thiện, có điều kiện nâng cao tích luỹ, lạm phát giảm và giữ ở mức
một con số trong những năm gần đây. Đây là những điều kiện thuận lợi cho
việc phát triển TTCK. Hơn nữa, nớc ta là nớc đi sau nên có thể tiếp thu khoa
học tiên tiến của thế giới, có thời cơ và điều kiện để rút kinh nghiệm bổ sung
những khiếm khuyết từ mô hình TTCK của các nớc.
Chúng ta đang từng bớc xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật: đã
ban hành luật công ty, Luật doanh nghiệp t nhân, Luật đầu t nớc ngoài có bổ
sung, hoàn thiện, bớc đầu đã có sức hấp dẫn và thu hút đầu t trong và ngoài
nớc.
Từ 1988, nhất là từ khi hai pháp lệnh ngân hàng ra đời năm 1990, hệ
thống ngân hàng Việt Nam đã có sự thay đổi về chất, từ hệ thống ngân hàng
một cấp thành hệ thống ngân hàng hai cấp với mạng lới rộng khắp. Các
NHTM bao gồm NHTM quốc doanh, Ngân hàng t nhân, ngân hàng cổ phần,
ngân hàng liên doanh. Ngoài ra còn có mạng lới các quỹ tín dụng đợc tổ chức
ở cấp xã, phờng. Thị trờng liên ngân hàng ra đời làm tăng khả năng huy động
vốn, tăng khả năng cạnh tranh của các NHTM. Các NHTM phải tự chủ tài
chính, phát triển các nghiệp vụ kinh doanh và ngày càng có nhiều kinh
nghiệm hoạt động và kinh doanh tiền tệ trong nền kinh tế thị trờng. Bên cạnh
đó các NHTM cũng đã phát hành một số loại kỳ phiếu ngân hàng với các kỳ
hạn và lãi suất khác nhau tức là đã tạo ra hàng hoá cho thị trờng chứng
khoán.
Cùng với các NHTM, hệ thống kho bạc nhà nớc cũng đã đợc củng cố
về mạng lới và nghiệp vụ. Những năm gần đây, kho bạc nhà nớc đã tiến hành
phát hành nhiều đợt tín phiếu kho bạc. Nhờ những kinh nghiệm thu đợc, kho
bạc sẽ là ngời phát hành một khối lợng lớn công trái - một bộ phận quan
trọng trong thị truờng trái phiếu.
Cũng do đổi mới, nền kinh tế nớc ta là nền kinh tế hàng hoá nhiều
thành phần với sự đa dạng hoá các hình thức sở hữu, các loại hình kinh
doanh. Điều đó cho phép giải phóng mọi năng lực sản xuất kinh doanh, huy
động tối đa và có hiệu quả nguồn lực cho công cuộc xây dựng đất nớc. Nhiều
công ty cổ phần và liên doanh đã ra đời với việc đẩy mạnh tiến trình cổ phần
hoá DNNN. Điều này cho phép tạo ra ngày càng nhiều hàng hoá cho TTCK (
cổ phiếu và trái phiếu công ty ).
- 13 -
Nh vậy , xuất phát từ kinh nghiệm của các nớc có nền kinh tế thị trờng
phát triển và nhu cầu thực tiễn ở nớc ta, việc hình thành TTCK không những
thúc đẩy tiết kiệm trong nớc, điều chỉnh cơ cấu kinh tế, thúc đẩy cổ phần hoá
DNNN mà còn thúc đẩy vốn đầu t nớc ngoài. Dó đó TTCK Việt Nam ra đời
là một tất yếu khách quan.
2. Hoạt động của các NHTM Việt Nam nhằm thúc đẩy sự hình
thành và phát triển TTCK.
TTCK Việt Nam ra đời là một tất yếu khách quan, đáp ứng nhu cầu đổi
mới CNH-HĐH đất nớc trong điều kiện hiện nay. Trên cơ sở lý thuyết và
kinh nghiệm thực tiễn của các nớc cho thấy vai trò đắc lực bậc nhất của các
NHTM trong quá trình hình thành và phát triển TTCK, NHTM Việt Nam đã
và đang có những đóng góp gì trong việc hình thành và phát triển TTCK ở
Việt Nam? Đứng trớc yêu cầu cấp thiết đó các NHTM Việt Nam đã và đang
tích cực đổi mới về mọi mặt. NHTM đã sử dụng vốn huy động của mình mua
công trái quốc gia với số lợng lớn ( 2550 tỷ đồng trong đợt phát hành vừa qua
) và tham gia đấu thầu mua trái phiếu kho bạc ( trong 8 tháng đầu năm 1999
mua trên 2000 tỷ đồng). Qua đó chúng ta nhận thấy NHTM đã tham gia tích
cực vào TTCK với t cách là ngời mua.
Bên cạnh đó, các NHTM chính phủ, ngân hàng liên doanh đã phát hành
cổ phiếu để gọi vốn cổ phần từ các cổ đông trong và ngoài nớc với mục đích
tạo vốn điều lệ. Điển hình là NHTMCP A Châu, ngân hàng First Vina Bank.
Đặc biệt ngân hàng đã ban hành quyết định 529 TC- QĐ/TCDN có hiệu lực
từ 16/8/1997 cho phép phát hành loạt tờ cổ phiếu thống nhất trên toàn quốc.
Điều này làm tăng tính hấp dẫn của cổ phiếu, tạo hàng hoá cho TTCK. Theo
mô hình TTCK mà Uỷ ban chứng khoán Nhà nớc quy định trong Nghị định
48/1998/CP ngày 11/7/1998 thì hạt nhân cơ bản của Trung tâm giao dịch
chứng khoán là các công ty CK. Công ty chứng khoán là một loại định chế
tài chính đặc biệt gắn liền với hoạt động CK trên TTCK. Công ty chứng
khoán vừa là cầu nối giữa ngời đầu t và ngời phát hành, vừa cung cấp một số
hoặc tất cả các nghiệp vụ chứng khoán nh môi giới t doanh, bảo lãnh phát
hành tuỳ theo khả năng tài chính của mình. Trớc yêu cầu đó, với t cách là
cơ quan quản lý Nhà nớc đối với các NHTM, NHNN có vai trò quan trọng
đối với sự ra đời của các công ty chứng khoán, thể hiện trớc hết ở việc ban
hành các điều kiện thành lập các công ty chứng khoán của NHTM. Điều kiện
đầu tiên là số vốn điều lệ tính đến ngày nộp hồ sơ xin phép thành lập công ty
chứng khoán của NHTM, với điều kiện này có rất nhiều NHTM trong tổng số
>50 NHTM có đủ điều kiện. Điều kiện thứ hai rất quan trọng là tỷ lệ nợ quá
hạn trung bình phải dới 5% tổng d nợ. Điều kiện thứ ba là tỷ lệ an toàn vốn
đạt trên 5% hoặc lãi trớc thuế trên vốn điều lệ từ 20% trở lên. Cho đến nay,
UBCKNN đã chính thức cấp giấy phép cho ba công ty chứng khoán thuộc
NHTM trên tổng số sáu công ty đó là: Công ty chứng khoán NHĐT&PT Việt
Nam ( vốn điều lệ là 55 tỷ đồng ), đợc phép thực hiện cả năm nghiệp vụ: Môi
- 14 -

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét