Thứ Sáu, 18 tháng 4, 2014

vận dụng phương pháp thống kê phân tích hiệu quả sản xuất kinh doanh của xí nghiệp may xuất khẩu thanh trì năm 2003-2004


LINK DOWNLOAD MIỄN PHÍ TÀI LIỆU "vận dụng phương pháp thống kê phân tích hiệu quả sản xuất kinh doanh của xí nghiệp may xuất khẩu thanh trì năm 2003-2004": http://123doc.vn/document/1053389-van-dung-phuong-phap-thong-ke-phan-tich-hieu-qua-san-xuat-kinh-doanh-cua-xi-nghiep-may-xuat-khau-thanh-tri-nam-2003-2004.htm


CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP
Nếu kết quả là mục tiêu của quá trình sản xuất thì hiệu quả là phương tiện để có
thể đạt được các mục tiêu đó. Trong nền kinh tế, hiệu quả không phải là mục
tiêu cuối cùng mà là mục tiêu phương tiện xuyên xuất trong mọi hoạt động kinh
tế. Ở đây chúng ta cần phân biệt giữa hiệu quả và vai trò của nó. Hiệu quả nói
chung hay hiệu quả sản xuất kinh doanh nói riêng có ý nghĩa rất lớn trong việc
nâng cao mức sống nhân dân, nó là phương tiện để đi đến thoả mãn các mục tiêu
cao hơn là không ngừng thoả mãn nhu cầu ngày càng tăng và sự phát triển của
mọi thành viên trong xã hội, bản thân hiệu quả không phải là mục tiêu mà chỉ là
phương tiện, phải xác định nó ở dạng công cụ chứ không phải tác dụng cuối
cùng của nó.
Hiệu quả sản xuất kinh doanh là sự tăng trưởng kinh tế được phản ánh qua
nhịp độ tăng trưởng của các chỉ tiêu kinh tế. Cách hiểu này chỉ đứng trên
phương diện biến động theo thời gian. Hiệu quả sẽ cao khi có nhịp độ tăng các
chỉ tiêu đó cao. Tức là một đơn vị sản xuất kinh doanh đạt hiệu quả kinh tế khi
các chỉ tiêu phản ánh kết quả sản xuất kinh doanh tăng theo thời gian, ví dụ Lợi
nhuận của doanh nghiệp năm 2005 so với năm 2003 tăng 1.2 lần, tức là doanh
nghiệp đó đã sản xuất kinh doanh có hiệu quả. Tuy nhiên quan điểm này không
tính đến việc nếu chi phí sản xuất hoặc các nguồn lực được huy động tăng nhanh
hơn thì sao? Hơn nữa điều kiện sản xuất năm hiện tại khác năm trước, các yếu tố
bên trong và bên ngoài của nền kinh tế có ảnh hưởng khác nhau, việc năm gốc
so sánh cũng có ảnh hưởng lớn đến kết quả so sánh. Nếu năm gốc bị mất mùa,
thiên tai, cấm vận… kết quả kinh tế đạt được thấp thì năm nghiên cứu có hiệu
quả cao, với mỗi năm gốc khác nhau chúng ta có các mức hiệu quả khác nhau
của cùng một năm nghiên cứu.
Hiệu quả sản xuất kinh doanh là các chỉ tiêu được xác định bằng tỉ lệ so sánh
giữa kết quả và chi phí, định nghĩa này chỉ đưa ra cách xác lập các chỉ tiêu hiệu
quả chứ không toát lên bản chất của vấn đề. Nếu tỉ lệ so sánh giữa kết quả và chi
phí mà kết quả lớn lớn hơn chi phí tức là doanh nghiệp sản xuất kinh doanh có
hiệu quả.
Hiệu quả sản xuất kinh doanh là mức độ tiết kiệm chi phí và mức độ tăng kết
quả kinh tế, đây là cách hiểu theo biểu hiện của bản chất chứ không phải là khái
niệm về hiệu quả kinh tế và cũng là mục tiêu phấn đấu của tất cả các đơn vị sản
xuất kinh doanh là giảm chi phí sản xuất, nâng cao kết quả
Hiệu quả sản xuất kinh doanh là mức tăng của kết quả sản xuất kinh doanh
trên mỗi lao động hay mức doanh lợi của vốn sản xuất kinh doanh, theo cách
hiểu này hiệu quả sản xuất kinh doanh được quy về một chỉ tiêu tổng hợp cụ thể
nào đó, hay đây chính là hiệu quả cận biên của mỗi đơn vị chi phí ra.
Hiệu quả sản xuất kinh doanh là hiệu quả tài chính của doanh nghiệp: coi
hiệu quả sản xuất kinh doanh là hiệu quả tài chính của doanh nghiệp tức là muốn
đề cập đến mối quan hệ giữa lợi ích kinh tế mà doanh nghiệp nhận được và chi
phí mà doanh nghiệp bỏ ra để có được lợi ích kinh tế đó. Quan điểm này đúng
với các nhà đầu tư khi xét hiệu quả các dự án đầu tư nhưng không đúng với các
doanh nghiệp đang sản xuất kinh doanh. Vì hiệu quả tài chính chỉ liên quan đến
Trần Thị Chinh Thống Kê 44A
5
CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP
thu chi có liên quan trực tiếp các nhà đầu tư trong chi phí khai thác hàng năm
không xét đến các yếu tố khấu hao tài sản vì giá trị của nó được thể hiện ở chi
phí đầu tư, còn đối với doanh nghiệp sản xuất kinh doanh, chi phí khấu hao là
một yếu tố chi phí.
Theo P. Samueleson và W.Nordaus cho rằng: “Hiệu quả là 1 mối quan tâm
của kinh tế học - có lẽ là mối quan tâm trung tâm duy nhất” Hiệu quả nghĩa là
không lãng phí, hiệu quả sản xuất kinh doanh diễn ra khi xã hội không thể tăng
sản lượng một hàng hoá nào mà không cắt giảm sản lượng hàng hoá khác. Một
nền kinh tế có hiệu quả trên giới hạn khả năng sản xuất của nó. Thực chất của
quan điểm này đề cập đến khía cạnh phân bổ có hiệu quả các nguồn lực sản xuất
xã hội. Trong cách hiểu này, rõ ràng phân bổ các nguồn lực kinh tế sao cho đạt
được việc sử dụng mọi nguồn lực trên đường giới hạn khả năng sản xuất sẽ làm
cho nền kinh tế có hiệu quả và rõ ràng xét trên phương diện lý thuyết thì đây là
mức hiệu quả kinh tế cao nhất mà mỗi nền kinh tế có thể đạt được. Xét trên giác
độ lý thuyết hiệu quả sản xuất kinh doanh chỉ có thể đạt được trên đường giới
hạn năng lực sản xuất của doanh nghiệp. Tuy nhiên để đạt mức hiệu quả sản
xuất kinh doanh còn rất nhiều điều kiện, trong đó còn đòi hỏi phải dự báo và
quyết định sản xuất theo quy mô phù hợp với cầu thị trường.
Giới hạn khả năng sản xuất được đặc trưng bởi chỉ tiêu tổng sản lượng tiềm
năng, là mức sản lượng cao nhất có thể đạt được trong một điều kiện công nghệ
và lao động nhất định, đôi khi còn gọi là “ sản lượng trong điều kiện có nhiều
công ăn việc làm” Tỷ lệ giữa tổng sản lượng thực tế và tổng sẩn lượng tiềm
năng là chỉ tiêu hiệu quả. Chỉ tiêu tuyệt đối chênh lệch giữa sản lượng tiềm năng
và sản lượng thực tế là phần sản phẩm tiềm năng mà xã hội không sử dụng
được, bị lãng phí. Theo quan điểm này hiệu quả thể hiện sự so sánh mức thực tế
và mức tối đa về sản lượng, tỷ lệ so sánh đó càng gần 1 càng có hiệu quả, bằng 1
khi 2 mức độ bằng nhau.
Hiệu quả sản xuất còn được xác định theo chỉ tiêu hiệu quả tuyệt đối tức là:
Hiệu quả sản xuất = Kết quả - chi phí
Quan điểm này ít được thừa nhận do người ta cho rằng quan điểm này nhầm
lẫn giữa phạm trù hiệu quả sản xuất kinh doanh với mô tả sự chêng lệch kết quả
và hao phí nguồn lực. Chênh lệch kết quả - chi phí luôn là số tuyệt đối phản ánh
mức độ đạt được một mặt nào đó nên cũng mang bản chất là kết quả quá trình
sản xuất kinh doanh và không bao giờ phản ánh đượ trình độ lợi dụng các nguồn
lực.
Hiệu quả sản xuất kinh doanh luôn là một yếu tố có ảnh hưởng rất lớn đến
nền kinh tế, vì vậy cần có một khái niệm bao quát tất cả các mặt và biểu hiện
của nó:
Hiệu quả sản xuất kinh doanh là một phạm trù kinh tế, phản ánh trình độ
khai thác các nguồn lực trong quá trình tái sản xuất nhằm thực hiện mục tiêu
kinh doanh của doanh nghiệp, nó là chỉ tiêu tương đối biểu hiện quan hệ so sánh
giữa kết quả sản xuất kinh doanh với chi phí sản xuất kinh doanh ( hiệu quả
dạng thuận), hoặc ngược lại là quan hệ so sánh giữa chi phí sản xuất kinh doanh
Trần Thị Chinh Thống Kê 44A
6
CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP
với kết quả sản xuất kinh doanh (hiệu quả dạng nghịch). Các chỉ tiêu hiệu quả
sản xuất kinh doanh dạng thuận còn có thể được gọi là các chỉ tiêu năng suất,
dạng nghịch có thể được gọi là suất tiêu hao. Hiệu quả sản xuất kinh doanh biểu
hiện sự tập trung của sự phát triển kinh tế theo chiều sâu, phản ánh trình độ khai
thác các nguồn lực và trình độ chi phí các nguồn lực đó trong quá trình tái sản
xuất nhằm thực hiện mục tiêu kinh doanh. Phát triển kinh tế theo chiều rộng là
huy động mọi nguồn lực vào sản xuất kinh doanh, tăng thêm vốn, bổ xung lao
động và kỹ thuật, mở mang nghành nghề, xây dựng thêm nhiều xí nghiệp, tạo ra
nhiều mặt hàng mới. Phát triển kinh tế theo chiều sâu là đẩy mạnh cách mạng
khoa học kỹ thuật và công nghệ sản xuất, tiến nhanh lên hiện đại hoá nâng cao
trình độ sử dụng các nguồn lực, trú trọng chất lượng sản phẩm và dịch vụ, phát
triển kinh tế theo chiều sâu nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế. Như vậy hiệu quả
sản xuất kinh doanh là thước đo ngày càng trở nên quan trọng của sự tăng
trưởng kinh tế và là chỗ dựa cơ bản để đánh giá việc thực hiện mục tiêu kinh tế
của doanh nghiệp trong từng thời kỳ.
1.3. Phân biệt hiệu quả sản xuất kinh doanh và hiệu quả kinh tế
Từ các khái niệm trên cho thấy: hiệu quả kinh tế có nội dung rộng hơn, nó
không chỉ về kết quả kinh tế mà mà cả kết quả xã hội đạt được tức là hiệu quả
kinh tế nền sản xuất xã hội bao gồm hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã hội. Trong
khi đó hiệu quả sản xuất kinh doanh là phạm trù kinh tế chỉ phản ánh trình độ
khai thác nguồn lực trong quá trình tái sản xuất nhằm thực hiện mục tiêu kinh
doanh của doanh nghiệp, nói cách khác hiệu quả sản xuất kinh doanh chỉ là một
bộ phận của hiệu quả kinh tế.
Hiệu quả sản xuất kinh doanh là mối quan tâm hàng đầu của các doanh
nghiệp hoặc các nhà đầu tư, hiệu quả kinh tế là mối quan tâm của toàn xã hội.
Hiệu quả sản xuất kinh doanh được xem xét trên quan điểm doanh nghiệp.
hiệu quả kinh tế được xem xét theo quan điểm xã hội.
Hiệu quả sản xuất kinh doanh được xem xét theo quan điểm bộ phận, hiệu
quả kinh tế đưcợ xem xét trên quan, điểm tổng thể. Quan hệ giữa hiệu quả sản
xuất kinh doanh và hiệu quả kinh tế là quan hệ giữa lợi ích bộ phận và lợi ích
tổng thể. Một mối quan hệ thống nhất có mâu thuẫn.
2. Phân loại hiệu quả sản xuất kinh doanh
2.1. Theo tác dụng của hiệu quả sản xuất kinh doanh.
-Hiệu quả kinh tế: phản ánh trình độ lợi dụng các nguồn lực để đạt các mục
tiêu kinh tế của các thời kỳ và biểu hiện qua các chỉ tiêu phản ánh kết quả sản
xuất kinh doanh của doanh nghiệp như: lợi nhuận, giá trị gia tăng…
-Hiệu quả xã hội : phản ánh trình độ lợi dụng các nguồn lực sản xuất xã hội
nhằm đạt được các mục tiêu xã hội nhất định, biểu hiện qua số lao động được
giải quyết việc làm, nâng cao phúc lợi xã hội, cải thiện điều kiện lao động, vệ
sinh môi trường…
Trần Thị Chinh Thống Kê 44A
7
CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP
-Hiệu quả an ninh, quốc phòng: sức mạnh kinh tế của một quốc gia góp phần
vào làm tăng thêm sức mạnh an ninh quốc phòng.
-Hiệu quả đầu tư: biểu hiện qua các dự án đầu tư hay thu hút vốn đầu tư
nước ngoài, ngoài ra là các kết quả thu được từ các dự án đầu tư, dự án đầu tư
tăng thêm…
-Hiệu quả môi trường: các doanh nghiệp khi sản xuất kinh doanh có thể gây
ra các tác dụng ảnh hưởng đến môi trường, các ảnh hưởng này có thể là tích cực
hay tiêu cực, tuy nhiên nói đến hiệu quả môi trường thường là nhắc đến các ảnh
hưởng tích cực của các hoạt động sản xuất kinh doanh, ví dụ như các doanh
nghiệp khi sản xuất kinh doanh áp dụng các công nghệ sạch…
2.2. Theo nội dung tính toán:
-Hiệu quả dạng thuận:
Kết quả đầu ra
Hiệu quả kinh tế =
Chi phí đầu vào
-Hiệu quả dạng nghịch:
Chi phí đầu vào
Hiệu quả kinh tế =
Kết quả đầu ra
2.3. Theo phạm vi tính: có thể chia thành
-Hiệu quả toàn phần (hay hiệu quả đầy đủ): tính chung cho toàn bộ kết quả
và toàn bộ chi phí của từng yếu tố hoặc tính chung cho tổng nguồn lực
-Hiệu quả đầu tư tăng thêm( hay cận biên): chỉ tính cho phần đầu tư tăng
thêm và kết quả tăng thêm của thời kỳ tính toán.
2.4. Theo hình thái biểu hiện:
-Hiệu quả ẩn: góp phần thực hiện các mục tiêu xã hội
-Hiệu quả hiện: thể hiện qua các chỉ tiêu về kết quả sản xuất kinh doanh
Hiện nay các doanh nghiệp thường mới chỉ tính hiệu quả sản xuất kinh
doanh dưới dạng hiện
3. Quan điểm và tiêu chuẩn đánh giá về hiệu quả
Phương diện khái quát, theo quan điểm triết học, tiêu chuẩn là căn cứ cơ bản
và chủ yếu để nhận rõ thực tế khách quan, đảm bảo nhận thức chính xác sự vật
hoặc hiện tượng nghiên cứu và phân biệt đúng sai. Chúng thường là một chỉ tiêu
hoặc một tiêu thức để đánh giá một hệ thống có hoạt động phù hợp với mục tiêu
hay không. Tiêu chuẩn theo nghĩa khái quát là tiêu thức (tínhchất, nét đặc
trưng) đặc biệt để đánh giá một tiêu thức khác phù hợp với những điều kiện nhất
định, hay nó là cái “ngưỡng” là mức căn cứ để kết luận có hiệu quả hay không
về một chỉ tiêu hiệu quả đang xét. Ở phương diện kinh tế việc xác định các cột
mốc, mức ấy là rất phức tạp, tuỳ thuộc ở phương diện xem xét và quan điểm
nhìn nhận của người nghiên cứu, mục đích, bản chất cảu hệ thống kinh tế được
Trần Thị Chinh Thống Kê 44A
8
CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP
xem xét. Trong lĩnh vực kinh tế tiêu chuẩn mang tính chất tương đối, nó co dãn,
linh hoạt theo hoàn cảnh khách quan và chủ quan nhất định. Điều đó lý giải cho
việc vì sao người ta ít nói đến những con số của tiêu chuẩn hiệu quả lằmcn cứ
đánh giá các hoạt động kinh tế. Vì nó mang tính chất định tính nhiều hơn là định
lượng. Hiện nay còn tồn tại nhiều quan điểm khác nhau về tiêu chuẩn đánh giá
hiệu quả.
3.1. Bản chất và tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả kinh tế
a. Bản chất của hiệu quả kinh tế - xã hội là nâng cao hiệu quả kinh tế nền sản
xuất xã hội, là thực hiện yêu cầu của quy luật tiết kiệm thời gian, biểu hiện trình
độ sử dụng các nguồn lực của xã hội. Nó có ý nghĩa quan trọng đối với yêu cầu
tăng trưởng và phát triển kinh tế nói riêng và sự phát triển của xã hội loài người
nói chung. C. Mark đã cho rằng: hiệu quả hay quy luật tiết kiệm thời gian là một
quy luật có tầm quan trọng đặc biệt, tồn tại trong nhiều phương thức sản xuất,
mọi hoạt động của con người đều tuân theo quy luật đó, nó quyết định động lực
phát triển của lực lượng sản xuất, tạo điều kiện phát triển văn minh của xã hội và
nâng cao đời sống của loài người qua mọi thời đại. Nâng cao hiệu quả kinh tế -
xã hội là một trong những yêu cầu khách quan của tất cả các hình thái kinh tế.
Để đảm bảo hiệu quả kinh tế nền sản xuất xã hội cần đảm bảo sự tồn tại hữu
cơ cảu ba loại lợi ích: lợi ích cá nhân, lợi ích tập thể và lợi ích xã hội. Xã hội
quan tâm đến GO, GDP vì vậy tăng GO và GDP là cơ sở để xác định hiệu quả
theo quan điểm xã hội. Ngoài ra chúng ta có thể phân tích hiệu quả kinh tế - xã
hội thông qua các chỉ tiêu:
Tăng thu ngân sách: mọi doanh nghiệp khi tiến hành các hoạt động sản xuất
kinh doanh đều phải có nhiệm vụ nộp thuế cho ngân sách nhà nước dưới nhiều
hình thức, nộp thuế là quyền lợi và cũng là nghĩa vụ của mỗi người, mỗi doanh
nghiệp: thuế doanh thu, thuế lợi tức, thuế đất, thuế VAT… Nhà nước sử dụng
những khoản thu này để chi cho các hoạt động phát triển của nền kinh tế quốc
dân và các lĩnh vực phi sản xuất, phân phối lại thu nhập…
Tạo công ăn việc làm và nâng cao mức sống cho người lao động: ngoài tạo
việc làm cho người lao động, các doanh nghiệp làm ăn có hiệu quả góp phần
nâng cao mức sống cho người lao động. Xét trên giác độ kinh tế việc nâng cao
mức sống cho người dân được thể hiện qua các chỉ tiêu như: tăng thu nhập bình
quân đầu người, tăng đầu tư sản xuất, tăng phúc lợi xã hội…
Tái phân phối phúc lợi xã hội: sự phát triển không đồng đều về mặt kinh tế
giữa các vùng lãnh thổ và tầng lớp dân cư do các yếu tố chủ quan và khách quan
như: địa lý kinh tế, nguồn lực, tài nguyên… là khá phổ biến, hiệu quả kinh tế
góp phần xoá bỏ các cách biệt này, phân phối lại lợi ích xã hội
b. Một số nhà kinh tế cho rằng tiêu chuẩn hiệu quả là nội hàm của phạm trù
hiệu quả, là biểu hiện bản chất của phạm trù hiệu quả kinh tế. Nói cách khác họ
quan niệm tiêu chuẩn hiệu quả đồng nghĩa với nội dung hiệu quả. Tiêu chuẩn
hiệu quả kinh tế phản ánh ở dạng chung nhất phạm trù hiệu quả kinh tế. Tiêu
chuẩn hiệu quả kinh tế được biểu hiện gián tiếp thông qua một hệ thống chỉ tiêu.
Trần Thị Chinh Thống Kê 44A
9
CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP
Nếu tiêu chuẩn biểu hiện mặt lượng của hiệu quả kinh tế thì hệ thống chỉ tiêu
biểu hiện đặc trưng số lượng của hiệu quả kinh tế. Dưới chủ nghĩa xã hội, tiêu
chuẩn của hiệu quả kinh tế nền sản xuất xã hội là tiết kiệm lao động xã hội hay
nói khác đi là tăng năng suất lao động xã hội. Theo sự giải thích của Mark: “ Sự
tăng lên của sức sản xuất xã hội hay năng suất lao động chúng ta hiểu nói chung
là sự thay đổi trong cách thức lao động, một sự thay đổi làm rút ngắn thời gian
lao động xã hội cần thiết để sản xuất ra một hàng hoá sao cho một số lượng lao
động ít hơn mà lại có được một sức sản xuất ra nhiều giá trị sử dụng hơn”.
Người còn chỉ rõ: “ năng suất lao động tăng lên biểu hiện ở chỗ phần lao động
sống giảm bớt còn phần lao động quá khứ thì tăng lên, nhưng tăng lên như thế
nào để cho tổng số lao động chứa trong hàng hoá ấy giảm đi hay nói cách khác
lao động sống giảm bớt nhiều hơn là lao động quá khứ tăng lên”
Có quan điểm cho rằng: tiêu chuẩn hiệu quả là hiệu quả tối ưu được xác định
bằng phương pháp tối ưu, tức là mức kỳ vọng hướng tới mức tối đa kết quả có
thể, tiêu chuẩn hiệu quả là sự chỉ dẫn về tư tưởng trong hoạt động kinh tế, Max
về hiệu quả, Min về chi phí mà không chỉ rõ phải là bao nhiêu mới được coi là
hiệu quả. Tiêu chuẩn hiệu quả là cái mà người ta mong đợi.
Ở cấp vi mô, các nhà kinh tế tư bản chủ nghĩa và một số nhà kinh tế khác ở
các nước chủ nghĩa xã hội coi tiêu chuẩn hiệu quả là tiêu chuẩn lợi nhuận, có
lợi nhuận là có hiệu quả, thua lỗ là không có hiệu quả, lợi nhuận càng nhiều hiệu
quả càng cao.
Có ý kiến cho rằng tiêu chuẩn hiệu quả là biểu hiện biến đổi phù hợp của
động thái các chỉ tiêu kết quả, phải so sánh với năm trước các chỉ tiêu hiệu quả
tăng giảm như thế nào, các chỉ tiêu như năng suất lao động, mức tăng kết quả
trên 1 đồng chi phí… tăng hơn so với kỳ trước mới là hiệu quả, các chỉ tiêu
thuận (sự tăng lên của chúng là hợp quy luật) thì tiêu chuẩn hiệu quả alf xu
hướng tăng; các chỉ tiêu nghịch (theo nghĩa sự giảm đi của chúng theo thời gian
là hợp quy luật) thì tiêu chuẩn hiệu quả là xu hướng giảm.
Ví dụ:
Chỉ tiêu hiệu quả Tiêu chuẩn hiệu
quả
Mức năng suất lao động bình quân (W)
W → Max
Hiệu năng của vốn sản xuất (H
NV
)
H
NV
→ Max
Mức tiền lương cho 1 đơn vị sản phẩm (TL)
TL → Min
Tiêu hao vật chất cho 1 đơn vị sản phẩm (NVN)
NVN→ Min
Giá thành 1 đơn vị sản phẩm (Z)
Z → Min
Những xu hướng động thái làm tiêu chuẩn cho các chỉ tiêu hiệu quả cũng chỉ
mang tính chất định tính Max hay Min mà không chỉ rõ được mức độ của xu
hướng đó, cần có tăng lên là được, còn cụ thể tăng bao nhiêu phần trăm thì
không định trước được. Xu hướng là Min nhưng giảm bao nhiêu thì không cần
biết, đó là chưa kể sự xác đĩnhu hướng Max, Min cần có ở trên chưa dựa vào cơ
sở phân tích khoa học các quy luật tác động nội tại quá trình sản xuất. Quan
Trần Thị Chinh Thống Kê 44A
10
CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP
điểm về hiệu quả nêu trên sẽ có ích trong việc nhận biết và phân tích hiệu quả
nếu tiêu chuẩn hiệu quả đề ra cho từng chỉ tiêu cụ thể có cơ sở khoa học. Nắm
được động thái các chỉ tiêu là điều rất quan trọng trong quản lý kinh tế, diễn
biến trong quá khứ và hiện tại sẽ giúp ích nhiều cho tương lai
Quan điểm phổ biến trong các nhà kinh tế Đông Âu và Liên Xô cũ cho rằng:
Tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả nền kinh tế do quy luật kinh tế cơ bản quyết định,
tiêu chuẩn hiệu quả phải gắn liền với mục tiêu của phương thức sản xuất.
Trong tất cả các quan điểm đã trình bầy trên thì quan điểm cuối cùng được
thừa nhận rộng rãi hơn cả, theo đó tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả kinh tế nền sản
xuất xã hội là đạt được kết quả kinh tế cao nhất. Hiệu quả kinh tế của nền sản
xuất xã hội cần được tính ở tất cả các phạm vi của hệ thống kinh tế nói chung
(xã hội, ngành,doanh nghiệp), hơn thế nữa xã hội còn tồn tại 3 lợi ích (nhà nước,
tập thể, người lao động) có mối quan hệ hữu cơ với nhau nên tiêu chuẩn đánh
gái hiệu quả kinh tế có niểu hiện khác nhau ở các đối tượng xem xét. Phạm vi xã
hội: tăng thu nhập quốc dân và tổng sản phẩm xã hội; phạm vi ngành: tăng tổng
sản lượng và sản lượng thuần tuý; phạm vi doanh nghiệp: tăng lợi nhuận và sản
lượng thuần tuý, hai chỉ tiêu này vừa đảm bảo lợi ích doanh nghiệp vừa đảm bảo
lợi ích chung.
Đáp ứng yêu cầu theo các lĩnh vực nghiên cứu khác nhau ở các phạm vi
khác nhau, ta có thể chia thành các trường hợp:
Ở kinh tế vi mô, tiêu chuẩn hiệu quả kinh tế là mức bình quân tính cho toàn
nền kinh tế hoặc ngành về sản lượng kết quả kinh tế thu được ở kết quả đầu ra
tính trên 1 đơn vị chi phí đầu vào (chi phí hoặc nguồn)
Trong lĩnh vực kế hoạch, tiêu chuẩn hiệu quả kinh tế để lựa chọn phương án
sản xuất hoặc đầu tư là hệ số hiệu quả định mức, thường được xác định bằng
mức trung bình hoặc mức trung bình tiên tiến hiện tại đã đạt được. Nếu có nhiều
phương án vượt hiệu quả định mức thì tiêu chuẩn hiệu quả kinh tế là phương án
tốt nhất, tối ưu theo mục tiêu đã xác định.
Ở kinh tế vĩ mô, tiêu chuẩn hiệu quả kinh tế là mức sản phẩm cuối cùng bình
quân đầu người tăng lên. Mục tiêu của nền sản xuất xã hội là không ngừng thoả
mãn nhu cầu vật chất và tinh thần thường xuyên tăng lên và sự phát triển tàon
diện của mọi thành viên trongxh trên cơ sở phát triển sản xuất. Để đạt mục tiêu
đó sản xuất không chỉ tăng lên nói chung mà phải tăng lên tính theo đầu người
Tiêu chuẩn hiệu quả xác định phải vừa có thể định lượng rõ ràng vừa phù
hợp với từng lĩnh vực, đối tượng nghiên cứu. Trong kinh tế vi mô, việc xác định
tiêu chuẩn hiệu quả là mức trung bình toàn bộ hoặc từng ngành là tuỳ điều kiện,
giữa các ngành có sự khác biệt lớn về trình độ phát triển thì tiêu chuẩn hiệu quả
xác định riêng cho từng ngành để đánh giá các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất sẽ
phù hợp hơn
3.2. Bản chất và tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả sản xuất kinh doanh
a. Bản chất của hiệu quả sản xuất kinh doanh là nâng cao năng suất lao động
xã hội và tiết kiệm lao động lao động xã hội. Đây là hai mặt có mối liên hệ mật
Trần Thị Chinh Thống Kê 44A
11
CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP
thiết của vấn đề hiệu quả. Chính việc khan hiếm nguồn lực và sử dụng chúng có
tính chất cạnh tranh nhằm thoả mãn nhu cầu ngày càng tăng của xã hội, đặt ra
vấn đề phải khai thác tận dụng triệt để và tiết kiệm các nguồn lực. Để đạt được
mục tiêu kinh doanh các doanh nghiệp buộc phải trú trọng các điều kiện nội tại,
phát huy nguồn lực của các nhân tố sản xuất và tiết kiệm mọi chi phí. Yêu cầu
của nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh là phải đạt hiệu quả tối đa với chi phí
tối thiểu hay chính xác hơn là hiệu quả tối đa với chi phí nhất định, hoặc kết quả
nhất định với chi phí tối thiểu. Chi phí ở đây được hiểu theo nghĩa rộng là chi
phí tạo ra nguồn lực đồng thời cũng phải tính đến cả chi phí cơ hội - là chi phí
cho giá trị của việc lựa chọn tốt nhất bị bỏ qua hay giá trị của của việc hi sinh
công việc kinh doanh khác để thực hiện công việc kinh doanh này. Chi phí cơ
hội phải được hạch toán vào chi phí kế toán, và loại ra khỏi lợi nhuận kế toán để
thấy được lợi ích thực sự. Cách tính như vậy sẽ khó khăn cho các nhà kinh
doanh lựa chọn phương án tốt nhất, các mặt hàng sản xuất có hiệu quả hơn.
Phản ánh một cách toàn diện các khoản chi phí.
Biểu hiện của hiệu quả sản xuất kinh doanh là lợi ích mà thước đo cơ bản
của nó là tiền cụ thể hơn là phần lợi nhuận của doanh nghiệp. Đây là mục tiêu cơ
bản, số một chi phối toàn bộ quá trình sản xuất kinh doanh.
b. Tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả sản xuất kinh doanh: để đánh giá hiệu quả
sản xuất kinh doanh chúng ta có thể đánh giá dưới hai giác độ: đánh giá ở trạng
thái tĩnh và đánh giá ở trạng thái động. Tiêu chuẩn đánh gía ở trạng thái động là
phương pháp so sánh trị số của các chỉ tiêu hiệu quả tính được theo thời gian.
Các ma trận hiệu quả có thể được tính toán trên cơ sở tài liệu Thống Kê về kết
quả và chi phí của hai thời kỳ (kỳ báo cáo và kỳ gốc). Từ các ma trận hiệu quả
này ta có thể tiến hành lập bảng so sánh trị số của các chỉ tiêu theo từng nhóm
(các chỉ tiêu hiệu quả toàn phần, hiệu quả cận biên dạng thuận hoặc dạng
nghịch). Nếu kết quả so sánh cho thấy tốc độ phát triển của các chỉ tiêu dạng
thuận lớn hơn 100%, còn tốc độ phát triển của các chỉ tiêu dạng nghịch nhỏ hơn
100% phản ánh hiệu quả tăng, còn ngược lại nếu tốc độ phát triển của các chỉ
tiêu dạng nghịch lớn hơn 100%, của dạng thuận nhỏ hơn 100% thì hiệu quả
giảm. Nguyên nhân cảu hiệu quả tăng (hoặc giảm) là do tốc độ phát triển của
các chỉ tiêu kết quả lớn hơn ( hoặc nhỏ hơn) tốc độ phát triển của các chỉ tiêu kết
quả hoặc nguồn lực. Ngoài tiêu chuẩn đánh giá theo trạng thái động, chúng ta
còn có thể đánh giá theo trạng thái tĩnh. Tiêu chuẩn đánh gía theo trạng thái tĩnh
là hệ thống các chỉ tiêu được đặt ra sẵn (các mức nào đó về hiệu quả) dựa vào đó
có thể kết luận rằng sản xuất kinh doanh có đạt hiệu quả hay không. Gần đây
Chính phủ đã đưa ra 6 tiêu chí đánh giá hiệu quả:
Bảo toàn và phát triển được vốn sản xuất, trích khấu hao TSCĐ theo đúng
quy định của chế độ hiện hành’
Kinh doanh có lãi, nộp đủ tiền thu sử dụng vốn và lập đủ các quỹ doanh
nghiệp như: quỹ dự phòng tài chính, trợ cấp mất việc làm cho người lao động,
đầu tư phát triển, quỹ khen thưởng…
Trả đầy đủ các khoản nợ đến hạn ( tức không có nợ quá hạn)
Trần Thị Chinh Thống Kê 44A
12
CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP
Nộp đủ tiền BHXH, BHYT cho người lao động theo quy định
Nộp đủ các khoản thuế theo luật định
Trả lương cho người lao động tối thiểu phải bằng mức bình quân của các
doanh nghiệp trên cùng địa bàn
Chỉ khi nào đạt được 6 tiêu chuẩn trên thì chỉ tiêu hiệu quả sản xuất kinh
doanh mới có vai trò nổi bật là mức doanh lợi hay tỷ suất lợi nhuận trên vốn
mới là chỉ tiêu thực và không tồn tại tình trạng lãi giả lỗ thật. Các doanh nghiệp
hoạt động không hiệu quả khi làm ăn thua lỗ từ 2 năm liên tục trở lên mà tổng số
luỹ kế nợ khó đòi, các khoản giảm giá tài sản đã chiếm trên 3/4 vốn sản xuất
kinh doanh và không có thị trường tiêu thụ ổn định. Như vậy nếu tiêu chuẩn
đánh giá dạng động đánh giá hiệu quả thông qua so sánh kết quả và chi phí của
hai kỳ khác nhau thì tiêu chuẩn đánh giá dạng tĩnh tức là đánh giá tại một thời
điểm nhưng có phạm vi thời gian và không gian rộng hơn, các chỉ tiêu đánh giá
không phải là của 1 năm mà phải qua một số năm kinh doanh. Tiêu chuẩn đánh
giá dạng tĩnh thể hiện không chỉ mối quan hệ nội bộ ngành mà cả với bên ngoài
tức là với Ngân hàng, Tín dụng, Bảo hiểm…
3.3. Quan điểm đánh giá về hiệu quả kinh tế và hiệu quả sản xuất kinh doanh
3.3.1. Hiệu quả kinh tế.
Hiệu quả kinh tế nói chung và hiệu quả sản xuất kinh doanh nói riêng là một
chỉ tiêu tương đối, thời kỳ. Đó là một chỉ tiêu kinh tế tổng hợp vì vậy có nhiều
quan điểm đánh giá về nó:
-Quan điểm 1: là biểu hiện của lượng sản xuất ra hay chính là biểu hiện của
kết quả sản xuất: Sản lượng sản phẩm (q) có thể là sản phẩm hiện vật hoặc sản
phẩm hiện vật quy chuẩn, Giá trị sản xuất (GO), Giá trị gia tăng (VA), Giá trị
gia tăng thuần (NVA), Tổng sản phẩm sản xuất (GDP), Lợi nhuận (M)
-Quan điểm 2: là đại lượng so sánh giữa kết quả đạt được so với chi phí đã
bỏ ra để đạt được kết quả sản xuất kinh doanh đó, nói một cách tổng quát hiệu
quả sản xuất kinh doanh là một đại lượng so sánh giữa kết quả của đầu ra so với
chi phí của đầu vào. Nó được biểu hiện dưới hai dạng, dạng so sánh tương đối
(dạng phân số)
Kết quả đầu ra
Hiệu quả kinh tế = ≥ 1 hay
Chi phí đầu vào
Chi phí đầu vào
Hiệu quả kinh tế = ≤ 1
Kết quả đầu ra
Thì hoạt động sản xuất kinh doanh là có hiệu quả
Dạng so sánh tuyệt đối ( dạng hiệu số):
Hiệu quả kinh tế = Kết quả đầu ra – Chi phí đầu vào ≥ 0
Trần Thị Chinh Thống Kê 44A
13
CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP
-Quan điểm 3: Hiệu quả kinh tế sản xuất kinh doanh là quan hệ tỉ lệ giữa
phần tăng thêm của kết quả và phần tăng thêm của chi phí
∆ kết quả đầu ra ∆chi phí đầu vào
Hiệu quả kinh tế = =
∆chi phí đầu vào ∆kết quả đầu ra
Hiệu quả kinh tế nếu được hiểu theo quan điểm 2 sẽ tăng trong 5 trường
hợp:
Khi kết quả đầu ra tăng, chi phí đầu vào giảm: đổi mới quy trình công nghệ,
đào tạo lại tay nghề lao động và làm tốt công tác quản lý…
Khi kết quả đầu ra tăng, chi phí đầu vào không đổi: làm tốt công tác quản lý
doanh nghiệp…
Khi kết quả đầu ra tăng, chi phí đầu vào tăng nhưng tốc độ tăng chi phí
chậm hơn tốc độ tăng kết quả
Khi kết quả đầu ra không đổi, chi phí đầu vào giảm
Khi kết quả đầu ra giảm, chi phí đầu vào giảm, nhưng tốc độ giảm của kết
quả nhỏ hơn tốc độ giảm của chi phí
3.3.2. Hiệu quả xã hội
-Năng suất lao động xã hội: dạng thuận hoặc dạng nghịch
Giá trị gia tăng (VA)
Năng suất lao động xã hội =
Lao động bình quân
Lao động bình quân
Năng suất lao động xã hội =
Giá trị gia tăng (VA)
-Hiệu suất đồng vốn: Chỉ tiêu được tính cho tổng số vốn nói chung và riêng
cho vốn cố định đã bỏ ra để có được kết quả sản xuất kinh doanh
Kết quả ( GDP,VA, M)
Hiệu suất đồng vốn =
Tổng vốn
Kết quả ( GDP,VA, M)
=
Vốn cố định ( vốn lưu động)
Trần Thị Chinh Thống Kê 44A
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét