Thứ Sáu, 18 tháng 4, 2014

Tài liệu LUẬN VĂN:PHÁT TRIỂN SẢN PHẨM BAO THANH TOÁN TẠI NHTMCP KỸ THƯƠNG VIỆT NAM doc


LINK DOWNLOAD MIỄN PHÍ TÀI LIỆU "Tài liệu LUẬN VĂN:PHÁT TRIỂN SẢN PHẨM BAO THANH TOÁN TẠI NHTMCP KỸ THƯƠNG VIỆT NAM doc": http://123doc.vn/document/1054511-tai-lieu-luan-van-phat-trien-san-pham-bao-thanh-toan-tai-nhtmcp-ky-thuong-viet-nam-doc.htm




Trang 5
2.3.3.2.2 Những khó khăn thực hiện BTT tại TCB 58
Kết luận chương 2: 61
CHƯƠNG III: GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN SẢN PHẨM BAO
THANH TOÁN TẠI NHTM CP KỸ THƯƠNG VN
62
3.1 ĐỊNH HƯỚNG XUẤT KHẨU CỦA NỀN KINH TẾ VIỆT NAM TRONG
THỜI GIAN TỚI …………………………………… 62
3.2. TIỀM NĂNG PHÁT TRIỂN HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA TCB 63
3.3 GIẢI PHÁP ĐỂ PHÁT TRIỂN NGHIỆP VỤ BTT TẠI NGÂN HÀNG
THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN KỸ THƯƠNG VIỆT NAM: 64
3.3.1. Giải pháp mang tính vi mô: 64
3.3.1.1. Về sản phẩm: 64
3.3.1.2. Về ngân hàng: 70
3.3.1.2.1. Đào tạo và bồi dưỡng cán bộ thực hiện nghiệp vụ: 70
3.3.1.2.2. Tạo văn hóa kinh doanh trong nghiệp vụ BTT: 71
3.3.1.2.3. Quản lý rủi ro trong BTT 72
3.3.1.2.4 Xây dựng các quy định về an toàn trong hoạt động
BTT:………………………………………………… 75
3.3.2. Giải pháp vĩ mô 75
3.2.2.1. Hoàn thiện cơ sở pháp lý: 75
3.3.2.2. Phát triển mạng lưới NH: 78
3.3.2.3. Thiết lập và hoàn chỉnh hệ thống thông tin khách
hàng: 79
3.3.2.4. Quy định về quản lý rủi ro trong nghiệp vụ BTT: 80

KẾT LUẬN 81

TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC


Trang 6

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT

XNK Xuất nhập khẩu
NK Nhập khẩu
XK Xuất khẩu
BTT Bao thanh toán
NH Ngân hàng
NHTM Ngân hàng thương mại
TCB Ngân hàng TMCP Kỹ Thương Việt Nam - Techcombank
KPT Khoản phải thu
TTTM tài trợ thương mại
DN Doanh nghiệp
TTQT Thanh toán quốc tế


Trang 7

DANH
DANH MỤC BẢNG VÀ BIỂU ĐỒ

Bảng 1: Bảng cân đối tài sản trước khi bao thanh toán.
Bảng 2: Bảng cân đối tài sản sau khi bao thanh toán.
Bảng 2.1 : Bảng tổng hợp chỉ tiêu họat động của TCB.
Bảng 2.2 : Doanh số TTQT của TCB 2004- 2006.
Bảng 2.3 : Dư nợ tài trợ xuất khẩu thông qua phương thức L/C.
Bảng 2.4 : Dư nợ vay đối với DN được tài trợ dựa trên hợp đồng XK .
Bảng 2.5 : Doanh số thanh tóan hàng nhập khẩu của TCB 2005-2006 .
Bảng 2.6 : Dư nợ tài trợ nhập khẩu thông qua phương thức nhờ thu và T/T.
Bảng 2.7 : Tỷ trọng tài trợ thương mại và XNK của TCB 2004-2006.
Bảng 2.8 : Dư nợ bao thanh tóan trong nước của TCB qua các năm.
Bảng 2.9 : Bảng cơ cấu các ngành BTT trong nước
Bảng 3.1 : Dự báo tăng trưởng kinh tế Việt Nam giai đọan 2005-2010

DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ VÀ ĐỒ THỊ

Biểu đồ 2.1 : Biểu đồ tỷ trọng dư nợ của TCB năm 2006
Biểu đồ 2.2 : Biểu đồ dư nợ Doanh nghiệp (2004-2006)
Biểu đồ 2.3 : Doanh số thanh tóan quốc tế của TCB qua các năm








Trang 8

LỜI MỞ ĐẦU


1. Tính cấp thiết của đề tài:
Việt Nam đã là thành viên của WTO từ cuối năm 2006, Điều đó đang đặt ra
cho các chủ thể kinh doanh của nền kinh tế phải đối mặt với những thách thức mới.
Đó là làm thế nào để có thể tồn tại, đứng vững và phát triển trong điều kiện cạnh
tranh gay gắt của hội nhập quốc tế. Trong bối cảnh như vậy, hoạt động tín dụng
ngân hàng nổi lên như một mắt xích trọng yếu trong hoạt động của nền kinh tế hiện
đại, tín dụng ngân hàng có một vai trò cực kỳ quan trọng, với vị trí là trung gian tài
chính của nền kinh tế, thông qua các nguồn lực xã hội được phân bổ sử dụng một
cách hợp lý và có hiệu quả. Thông qua việc cung ứng nguồn vốn, tín dụng ngân
hàng có tác động rất lớn tới quá trình hoạt động của doanh nghiệp. Sự vững mạnh
của từng doanh nghiệp trong nền kinh tế ngược lại sẽ tác động hữu hiệu lại hệ
thống NHTM. Như vậy sẽ tạo ra một nền kinh tế vững mạnh.
Xuất nhập khẩu là một trong những lĩnh vực quan trọng trong việc phát triển
kinh tế. Kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam trong những vừa qua gia không
ngừng gia tăng, đóng góp rất lớn vào việc gia tăng tốc độ phát triển kinh tế. Số
lượng các doanh nghiệp tham gia vào lĩnh vực xuất nhập khẩu ngày một tăng, sản
phẩm xuất khẩu cũng ngày một đổi mới về chủng loại cũng như về chất lượng để
gia tăng cạnh tranh. Theo nhận định của các chuyên gia kinh tế và căn cứ vào tình
hình phát triển hoạt động xuất nhập khẩu trong thời gian qua, tiềm năng của lĩnh
vực ngoại thương này là rất lớn.
Khi nền kinh tế mở cửa, chúng ta tham gia vào thị trường quốc gia khác,
ngược lại các quốc gia khác cũng sẽ tham gia vào thị trường nước ta. Vì vậy, các
doanh nghiệp sẽ đối diện với tình hình cạnh tranh không chỉ trên thị trường nước
khác mà cả trên thị trường của chính mình. Để có thể gia tăng khả năng cạnh tranh
và đứng vững trên thị trường, các doanh nghiệp không còn sự lựa chọn nào khác


Trang 9
ngoài việc cải tiến công nghệ, giảm giá thành sản phẩm, nâng cao năng lực cạnh
tranh. Tất cả những điều đó cần phải có nguồn vốn để hỗ trợ. Chính điều này làm
phát sinh nhu cầu cần có công cụ tài trợ hiệu quả và linh hoạt.
Hình thức tài trợ ngân hàng tài trợ cho doanh nghiệp phổ biến là hình thức
cho vay, thanh toán L/C, tài trợ thực hiện XK… Thông qua hình thức tài trợ, ngân
hàng cung ứng vốn cho doanh nghiệp hoạt động. Tuy nhiên, số lượng các doanh
nghiệp tiếp cận với nguồn vốn này không nhiều do những hạn chế về quy định tài
trợ. Các hình thức tài trợ đang áp dụng dần xuất hiện những hạn chế và chưa thể
đáp ứng được nhu cầu vốn đang gia tăng của các doanh nghiệp.
Trước những cơ hội kinh doanh to lớn do quá trình hội nhập kinh tế mang
lại, các NHTM nói chung và TCB nói riêng sẽ có nhiều cơ hội tìm kiếm lợi nhuận
và mở rộng hoạt động kinh doanh. Một trong những nghiệp vụ chiếm vị trí quan
trọng trong kinh doanh ngân hàng nhằm giúp các doanh nghiệp giải quyết vấn đề về
vốn trong kinh doanh đó là các hình thức tài trợ của ngân hàng. TCB là một trong
những ngân hàng cung cấp dịch vụ tài trợ cho các doanh nghiệp với doanh số tài trợ
tương đối cao. Định hướng phát triển của TCB trong những năm tới là chú trọng
đến việc gia tăng tài trợ cho các doanh nghiệp về doanh số cũng như về đa dạng
hóa hình thức tài trợ sao cho đáp ứng được nhu cầu vốn cho các khách hàng của
mình. Chính vì tính cấp thiết đó, tôi chọn đề tài “Phát triển sản phẩm bao thanh toán
tại Ngân Hàng Thương Mại CP Kỹ Thương Việt Nam” để nghiên cứu và thực hiện
luận văn tốt nghiệp.
Đây là một lĩnh vực mới và chưa được áp dụng rộng rãi, do đó, kinh nghiệm
về việc thực hiện nghiệp vụ này chưa có. Chính vì vậy, đề tài không thể không có
những thiếu sót. Em hy vọng sẽ nhận được những đóng góp quý báu từ phía Hội
đồng để em hoàn thiện vấn đề nghiên cứu.
2. Mục đích nghiên cứu:
Luận văn tập trung nghiên cứu, phân tích, đánh giá hoạt động của tài trợ
XNK và nghiệp vụ bao thanh toán của NHTM CP Kỹ Thương Việt Nam. Qua đó,


Trang 10
đưa ra một số giải pháp để phát triển sản phẩm bao thanh toán tại NHTM CP Kỹ
Thương Việt Nam
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
Đề tài liên quan đến nhiều lĩnh vực như tài chính, quản trị, pháp luật… trên
phạm vi Ngân hàng riêng lẻ trong tổng thể ngành ngân hàng. Đối tượng nghiên cứu
của luận văn là NHTM CP Kỹ Thương Việt Nam, hoạt động tài trợ XNK của và
hoạt động bao thanh toán NHTM CP Kỹ Thương Việt Nam.
4. Phương pháp nghiên cứu:
Trong suốt quá trình nghiên cứu luận văn sử dụng phương pháp tổng hợp,
thống kê, phân tích các tài liệu về xuất nhập khẩu và tài liệu liên quan đến hoạt
động tài trợ của ngân hàng đã được công bố. Bên cạnh các phương pháp đó, luận
văn còn chú trọng đến việc kết hợp với việc quan sát các hoạt động thực tiễn. Công
trình nghiên cứu còn được thực hiện từ việc phân tích các vấn đề chưa hoàn thiện,
từ đó làm tiền đề phát triển nghiệp vụ mới.
5. Kết cấu của luận văn:
Luận văn được chia thành 3 chương như sau:
- Chương 1: Tổng quan tài trợ XNK và nghiệp vụ bao thanh toán.
- Chương 2: Thực trạng hoạt động Bao thanh toán tại NHTM CP Kỹ
Thương Việt Nam
- Chương 3: Giải pháp phát triển sản phẩm bao thanh toán tại ngân
hàng thương mại CP Kỹ Thương Việt Nam.


Trang 11
CHƯƠNG I
TỔNG QUAN VỀ TÀI TRỢ XNK VÀ NGHIỆP VỤ BAO THANH TOÁN

1.1.TỔNG QUAN VỀ TÀI TRỢ XNK .
1.1.1. Sự cần thiết khách quan của hoạt động XNK trong nền kinh tế
Kể từ khi nền kinh tế có sự phân công lao động sản xuất, đồng thời cũng hình
thành quá trình trao đổi hàng hoá để đáp ứng nhu cầu sản xuất và tiêu dùng. Bất cứ
quốc gia nào muốn phát triển kinh tế không chỉ dựa vào sản xuất trong nước mà còn
phải giao dịch hàng hoá với các quốc gia khác. Mỗi quốc gia có lợi thế so sánh về một
loại sản phẩm nào đó mà quốc gia khác không có hoặc sản xuất kém hiệu quả. Nếu
chỉ dựa vào sản xuất trong nước không thể đáp ứng được nhu cầu hàng hoá, dịch vụ
tiêu dùng và sản xuất của nền kinh tế. Để phục vụ nhu cầu sản xuất và tiêu dùng trong
nước, chúng ta cần phải nhập khẩu những mặc hàng cần thiết như máy móc thiết bị,
nguyên liệu, vật tư,…
Hoạt động xuất nhập khẩu còn là yếu tố quan trọng nhằm phát huy mọi nguồn
nội lực, tạo thêm vốn đầu tư để đổi mới công nghệ, tăng thêm việc làm, thúc đẩy
nhanh quá trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước.
Thông qua hoạt động XK, một số mặt hàng vốn là thế mạnh của Quốc Gia sẽ
tiếp cận với thị trường thế giới và giúp cho Quốc Gia phát huy lợi thế vốn có của
mình đó nhằm khai thác tối đa tiềm năng và nâng cao hiệu quả mặt hàng XK. Ngoài
ra, hoạt động xuất khẩu sẽ mang lại lượng ngoại tệ cần thiết cho nền kinh tế và phục
vụ nhu cầu chi trả chi các hoạt động nhập khẩu.
Việt Nam hiện đang trong quá trình đổi mới đất nước, nhu cầu đầu tư MMTB,
nâng cao năng lực sản xuất và đổi mới công nghệ là rất cao, đòi hỏi Việt Nam phải
nhập khẩu những thiết bị đó để phục vụ, ngòai ra Việt Nam còn nhập các nguyên vật
liệu phục vụ cho SX mà Việt nam không sản xuất hoặc không có lợi thế sản xuất.
Thông qua hoạt động nhập khẩu giúp cho bộ máy kinh tế vận hành tốt hơn, hiệu quả
hơn


Trang 12
Chúng ta có thể kết luận rằng: do nhu cầu và lợi ích kinh tế của quốc gia mà
hoạt động XNK hình thành và là một hoạt động tất yếu trong nền kinh tế.
1.1.2. Mối quan hệ giữa hoạt động XNK và NHTM trong nền kinh tế
Hoạt động XNK trong nền kinh tế xét ở khía cạnh nào đó sẽ tác động đến
hoạt động của ngân hàng và ngược lại thông qua hoạt động của ngân hàng sẽ thúc
đẩy hoạt động XNK phát triển.
Mối quan hệ tác động giữa hoạt động XNK với hoạt động của ngân hàng:
Thông qua hoạt động XNK, ngân hàng cung cấp dịch vụ thu chi hộ, nghiệp
vụ kinh doanh đối ngoại của NH được hình thành, phát triển và hoàn thiện nghiệp
vụ TTQT, tăng cường việc tài trợ vốn và đặc biệt là gia tăng nguồn ngoại tệ cho
NH. Đồng thời mang thu nhập từ hoạt động TTQT thông qua thu việc thu phí dịch
vụ và thu lãi từ hoạt động tài trợ vốn.
Ngược lại, thông qua hoạt động của ngân hàng, hoạt động XNK phát triển vì
chính ngân hàng sẽ cung cấp công cụ TTQT một cách hữu hiệu cho hoạt động
XNK. Việc thanh toán hợp đồng ngoại thương giữa các quốc gia được thực hiện
thông qua NH. NH trở thành trung gian, điều kiện đảm bảo an toàn cho các bên
tham gia hoạt động XNK. NHTM tham gia vào hoạt động XNK còn mang ý nghĩa
tài trợ cho các DN phát triển ngoại thương. Việc tài trợ của NHTM bao hàm sự
chuẩn bị sẳn sàng các phương tiện tài chính và cấp tín dụng cho các DN hoàn tất
nghĩa vụ thanh toán, nhằm đảm bảo cho quá trình sản xuất và lưu thông hàng hoá
được thông suốt. NH hoạt động kinh doanh quốc tế và kinh doanh ngoại hối đem lại
sự trợ giúp đa dạng cho khách hàng, tư vấn khách hàng và giúp khách hàng đảm bảo
lợi nhuận và hạn chế rủi ro.
Tóm lại: hoạt động XNK sẽ tác động rất lớn đến hoạt động của NHTM vì
thông qua đó ngân hàng có thể đa dạng hóa hoạt động và nâng thu nhập. Ngược lại,
hoạt động của NHTM sẽ tác động tích cực trở lại hoạt động XNK thông qua việc cung
cấp phương tiện thanh toán hữu hiệu và an tòan cho các DN hoạt động XNK




Trang 13
1.1.3. Sự cần thiết tài trợ vốn trong DN kinh doanh:
Vòng quay vốn kinh doanh của một DN được tính từ khi DN bắt đầu bỏ vốn
ra mua nguyên vật liệu sản xuất kinh doanh cho đến khi thu tiền về. Khoảng thời
gian này nhanh hay chậm phụ thuộc vào chu kỳ kinh doanh của DN. Vòng quay
vốn kinh doanh của DN được mô tả như sau:






Quá trình chu chuyển vốn trong một DN thường tuân theo quy luật: DN sử
dụng nguồn vốn kinh doanh của mình để đầu tư vào các yếu tố phục vụ sản xuất
bao gồm: máy móc thiết bị, nguyên vật liệu, tiền lương… và nhiều yếu tố đầu vào
khác. Hàng hoá sau khi được sản xuất và mang ra thị trường tiêu thụ, khi đó DN sẽ
thu hồi được nguồn vốn bỏ ra ban đầu của mình.
Thu mua
NVL và các
yếu tố đầu
vào chuẩn bị
SX
Tồn kho
Đưa vào
SX
Thành
phẩm
Bán hàng Thu tiền
Đặc biệt trong hoàn cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, sự cạnh tranh khốc liệt
trong hoạt động kinh doanh đã làm cho những khoản tín dụng trong thương mại cho
các đối tác kinh doanh tăng thêm về khối lượng và thời gian. Chính khoản nợ này
đã làm cho nguồn vốn kinh doanh của DN bị hạn chế không thể sử dụng để phục vụ
nhu cầu tái sản xuất. Do đó, DN sẽ rơi vào tình trạng thiếu vốn là một tất yếu, dẫn
đến giảm khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp. Vì thế, đáp ứng nhu cầu vốn để
đảm bảo tính liên tục của quá trình kinh doanh là một vấn đề bức thiết của DN và
cần được tài trợ đầy đủ, kịp thời. Vậy thì nguồn tài chính nào có thể tài trợ cho hoạt
động của DN? Ngoài nguồn vốn tín dụng từ ngân hàng, DN có thể sử dụng nguốn
tín dụng thương mại thông qua nhà cung cấp. Tuy nhiên, đối với nguồn tín dụng
thương mại xét về chi phí cũng chưa hẳn đã thấp hơn lãi suất vay vốn trên thị
trường tín dụng. Bởi vì, DN cấp khoản tín dụng thương mại này cũng phải tính đến
chi phí cơ hội sử dụng vốn, và ít nhất bằng chi phí mà doanh nghiệp cung cấp tín


Trang 14
dụng thương mại vay trên thị trường nhưng nguồn vốn tín dụng này chưa hẳn đã
hiệu quả cho các DN.
Vì vậy, nhu cầu vay vốn tín dụng từ NHTM sẽ thật sự cần thiết, khoản tín
dụng từ ngân hàng sẽ rẻ hơn, ngoài ra NH sẽ cung cấp nhiều tiện ích khác cho DN
giúp cho hoạt động kinh động kinh doanh thuận lợi hơn và hiệu quả hơn.
1.1.4. Tài trợ xuất nhập khẩu của NHTM
1.1.4.1. Khái niệm về tài trợ xuất nhập khẩu của NHTM
Tài trợ xuất nhập khẩu của NHTM về bản chất là khoản tín dụng cho các
hoạt động XNK của DN được cấp bởi NHTM.
Tài trợ là thuật ngữ phản ánh việc NH đáp ứng nhu cầu đa dạng của các DN
về phát triển kinh doanh, phòng chống rủi ro, và gia tăng khả năng cạnh tranh. Việc
tài trợ mang lại nhiều lợi ích cho DN đồng thời cũng mang lại nguồn thu nhập cho
NH từ các khoản lãi và phí dịch vụ.
1.1.4.2. Tầm quan trọng của tài trợ xuất nhập khẩu.
Trong thời gian qua, nền thương mại quốc tế đã và đang phát triển mạnh mẽ
đã làm gia tăng về các mối quan hệ thương mại song phương, đa phương. Thêm vào
đó, tiến trình tự do hoá tài chính và hội nhập toàn cầu ngày một tăng cao đã dần dần
xóa bỏ hàng rào thương mại giữa các quốc gia. Tất cả điều này làm cho nhu cầu về
thương mại gia tăng, kéo theo đó là sự gia tăng nhu cầu về các dịch vụ tài chính.
NH với việc thực hiện tài trợ sẽ cung cấp cho DN một khối lượng vốn lớn
nhằm đáp ứng nhu cầu mở rộng và phát triển kinh doanh. Thông qua sự tài trợ của
NH, các DN sẽ tăng thêm sự cạnh tranh đối với các đối thủ khác để dành ưu thế.
Bên cạnh đó, qua hoạt động tài trợ NH còn giúp cho các DN giảm được những khó
khăn trong hoạt động kinh doanh quốc tế. Vì thế, chúng ta có thể nói rằng hoạt động
tài trợ XNK của các NH chiếm vị trí rất quan trọng trong việc thúc đẩy các DN phát
triển nói riêng và phát triển XNK của Việt Nam nói chung. Thể hiện ở các mặt :
- Góp phần làm giảm áp lực thiếu vốn cho DN, giúp DN có thể cạnh tranh và
phát triển trong thương trường, mở rộng được khả năng sản xuất kinh doanh

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét