LINK DOWNLOAD MIỄN PHÍ TÀI LIỆU "“Thực trạng phát triển du lịch sinh thái ở Việt Nam": http://123doc.vn/document/546864-thuc-trang-phat-trien-du-lich-sinh-thai-o-viet-nam.htm
Hoa Lan Anh
mạnh sang loại hình du lịch sinh thái phù hợp với điều kiện của sự phát triển du
lịch.
Từ những năm 1985-1990, đặc biệt là sau năm 1990 khoa học sinh thái
đợc chấp nhận khá rộng rãi trên thế giới và cũng từ khoa học sinh thái trở thành
một lĩnh vực khoa học có giá trị hơn nhiều nên ngành kinh tế-xã hội có ý thức
vận dụng những lý thuyết cơ bản của sinh thái học. Ngành du lịch thế giới từ
sau cuộc Hội nghị về Trái đất ở Rio đe Janeiro năm 1992 đã thực sự vận dụng
sinh thái học dới nhiều mục tiêu sự phát triển bền vững.
Việc tổ chức và điều hành loại hình du lịch sinh thái nh thế nào để có thể:
- Bảo tồn môi trờng tự nhiên mà du lịch đang sử dụng.
- Nâng cao ý thức của du khách để họ nhận rõ đặc điểm của môi trờng tự
nhiên trong khi du lịch đang hoà mình vào đó.
- Động viên trách nhiệm của dân c địa phơng tại khu du lịch, điểm du
lịch có trách nhiệm quản lý bảo vệ và phát triển du lịch nhằm bảo đảm sự phát
triển bền vững của môi trờng du lịch và thiết thực tạo đợc lợi ích lâu dài.
Nói chung du lịch sinh thái là loại hình du lịch dựa vào những hình thức
truyền thống sẵn có, nhng có sự hoà nhập vào môi trờng tự nhiên với văn hoá
bản địa, du khách có thêm những nhận thức về đặc điểm của môi trờng tự
nhiên, về những nét đặc thù vốn có của văn hoá từng điểm, từng vùng, khu du
lịch và có phần trách nhiệm tự giác để không xảy ra những tổn thất, xâm hại đối
với môi trờng tự nhiên và nền văn hoá sở tại. Còn về quy mô của loại hình du
lịch sinh thái thì tuỳ thuộc vào khả năng, điều kiện, biện pháp tổ chức của nhà
quản lý hoạt động du lịch, có thể dần dần từ quy mô khiêm tốn để phát triển
rộng rãi.
ở nớc ta trên phơng tiện thông tin đại chúng cũng đã đa ra nhiều khái
niệm và định nghĩa cho loại hình du lịch này : Du lịch sinh thái là du lịch đến
với thiên nhiên hoang sơ, thôn dã ; Du lịch sinh thái là du lịch đến vối các
khu bảo tồn thiên nhiên ; Du lịch sinh thái là du lịch thám hiểm , hoặc mạo
hiểm trên các cái mới, cái lạ của thiên nhiên
Với Việt nam, một nớc mới phát triển về du lịch và loại hình du lịch sinh
thái hầu nh còn rất mới, cha tích luỹ đợc nhiều kinh nghiệm . Vấn đề đạt ra
mang tính cấp bách là cần phải quan tâm đến cả hai phơng diện:
5
Bài tiểu luận năm thứ nhất
Hoa Lan Anh
Một là: Thống nhất về bản chất và khái niệm của loại hình du lịch sinh thái.
Hai là: Tiếp cận với xu thế và nhu cầu thị trờng du lịch sinh thái trong n-
ớc và quốc tế, tiến hành xây dựng những định hớng và hoạnh định chiến lợc
phát triển cho loại hình du lịch sinh thái ở Việt nam.
Với đặc trng khác biệt về nguồn gốc của sản phẩm du lịch sinh thái và
tính chất bền vững của nó, trong những năm qua ở lĩnh vực hoạt động du lịch
sinh thái trên phạm vi toàn thế giới, ngời ta đã rút ra nhiều bài học rất có giá trị
đóng góp vào lý luận và hoạt động của loại hình du lịch sinh thái.
Theo đó du lịch sinh thái là loại hình du lịch đặc biệt tổng hợp các mối
quan tâm cảm giác nhiều đến môi trờng thiên nhiên và tìm đến những vùng
thiên nhiên nhiều tiềm năng về môi trờng sinh thái để cải thiện kinh tế, phúc lợi
xã hội, sức khoẻ và hởng thụ, khám phá những cái mới, cái lạ, cái đẹp và sự
trong lành của thế giới tự nhiên, tạo ra mối quan hệ hữu cơ, hoà đồng giữa con
ngời với thiên nhiên, môi trờng đồng thời hành động có ý thức trách nhiệm làm
cho thiên nhiên môi trờng bền vững, phong phú phục vụ trở lại lợi ích của con
ngời cả ở hiện tại và tơng lai.
1.2. Những yêu cầu cơ bản để phát triển du lịch sinh thái
Yêu cầu đầu tiên để có thể tổ chức đợc du lịch sinh thái là sự tồn tại của
các hệ sinh thái tự nhiên điển hình với tính đa dạng sinh thái cao. Sinh thái tự
nhiên đợc hiểu là sự cộng sinh của các điều kiện địa lý, khí hậu và động thực
vật, bao gồm: sinh thái tự nhiên (natural ecology), sinh thái động vật (animal
ecology), sinh thái thực vật (plant ecology), sinh thái nông nghiệp (agri-cultural
ecology), sinh thái khí hậu (ecoclimate) và sinh thái nhân văn (human ecology).
Đa dạng sinh thái là một bộ phận và là một dạng thứ cấp của đa dạng
sinh học, ngoài thứ cấp của đa dạng di truyền và đa dạng loài. Đa dạng sinh thái
thể hiện ở sự khác nhau của các kiểu cộng sinh tạo nên các cơ thể sống, mối
liên hệ giữa chúng với nhau và với các yếu tố vô sinh có ảnh hởng trực tiếp hay
gián tiếp lên sự sống nh : đất, nớc, địa hình, khí hậu đó là các hệ sinh thái
(eco-systems) và các nơi trú ngụ, sinh sống của một hoặc nhiều loài sinh vật
(habitats) (Theo công ớc đa dạng sinh học đợc thông qua tại Hộ nghị thợng đỉnh
Rio de Jannero về môi trờng).
Nh vậy có thể nói du lịch sinh thái là một loại hình du lịch dựa vào thiên
nhiên (natural - based tourism) (gọi tắt là du lịch thiên nhiên), chỉ có thể tồn tại
6
Bài tiểu luận năm thứ nhất
Hoa Lan Anh
và phát triển ở những nơi có các hệ sinh thái điển hình với tính đa dạng sinh thái
cao nói riêng và tính đa dạng sinh học cao nói chung. Điều này giải thích tại sao
hoạt động du lịch sinh thái thờng chỉ phát triển ở các khu bảo tồn thiên nhiên,
đặc biệt ở các vờn quốc gia, nơi còn tồn tại những khu rừng với tính đa dạng
sinh học cao và cuộc sống hoang dã. tuy nhiên điều này không phủ nhận sự tồn
tại của một số loại hình du lịch sinh thái phát triển ở những vùng nông thôn
hoặc các trang trại điển hình.
Yêu cầu thứ hai có liên quan đến những nguyên tắc cơ bản của du lịch
sinh thái ở 2 điểm:
- Để đảm bảo tính giáo dục, nâng cao đợc sự hiểu biết cho khách du lịch
sinh thái, ngời hớng dẫn ngoài kiến thức ngoại ngữ tốt còn phải là ngời am hiểu
cac đặc điểm sinh thái tự nhiên và văn hoá cộng đồng địa phơng. Điều này rất
quan trọng và có ảnh hởng rất lớn đến hiệu quả của hoạt động du lịch sinh thái,
khác với những loại hình du lịch tự nhiên khác khi du khách có thể tự mình tìm
hiểu hoặc yêu cầu không cao về sự hiểu biết này ở ngời hớng dẫn viên.Trong
nhiều trờng hợp, cần thiết phải cộng tác với ngời dân địa phơng để có đợc
những hiểu biết tốt nhất, lúc đó ngời hớng dẫn viên chỉ đóng vai trò là một ngời
phiên dịch giỏi.
- Hoạt động du lịch sinh thái đòi hỏi phải có đợc ngời điều hành có
nguyên tắc. Các nhà điều hành du lịch truyền thống tờng chỉ quan tâm đến lợi
nhuận và không có cam kết gì đối với việc bảo tồn hoặc quản lý các khu tự
nhiên, họ chỉ đơn giản tạo cho khách du lịch một cơ hội để biết đợc những giá
trị tự nhiên và văn hoá trớc khi những cơ hội này thay đổi hoặc vĩnh viễn mất đi.
Ngợc lại, các nhà điều hành du lịch sinh thái phải có đợc sự cộng tác với các
nhà quản lý các khu bảo tồn thiên nhiên và cộng đồng địa phơng nhằm mục
đích đóng góp vào việc bảo vệ một cách lâu dai các giá trị tự nhiên và văn hoá
khu vực, cải thiện cuộc sống, nâng cao sự hiểu biết chung giữa ngời dân địa ph-
ơng và du khách.
Yêu cầu thứ ba nhằm hạn chế tới mức tối đa các tác động có thể của hoạt
động du lịch sinh thái đến tự nhiên và môi trờng, theo đó du lịch sinh thái cần
đợc tổ chức với sự tuân thủ chặt chẽ các quy định về sức chứa. Khái niệm
sức chứa đợc hiểu từ bốn khía cạnh: vật lý, sinh học, tâm lý và xã hội. Tất cả
7
Bài tiểu luận năm thứ nhất
Hoa Lan Anh
những khía cạnh này có liên quan tới lợng khách đến một địa điểm vào cùng
một thời điểm.
Đứng trên góc độ vật lý, sức chứa ở đây đợc hiểu là số lợng tối đa khách
du lịch mà khu vực có thể tiếp nhận. Điều này liên quan đến những tiêu chuẩn
về không gian đối với mỗi du khách cũng nh nhu cầu sinh hoạt của họ.
Đứng ở góc độ xã hội, sức chứa là giới hạn về lợng du khách mà tại đó
bắt đầu xuất hiện những tác động tiêu cực của các hoạt động du lịch đến đời
sống văn hoá-xã hội, kinh tế-xã hội của khu vực. Cuộc sống bình thờng của
cộng đồng địa phơng có cảm giác bị phá vỡ, xâm nhập.
Đứng ở góc độ quản lý, sức chứa đợc hiểu là lợng khách tối đa mà khu du
lịch có khả năng phục vụ. Nếu lợng khách vợt quá giói hạn này thì năng lực
quản lý ( lực lợng nhân viên, trình độ và phơng tiện quản lý ) của khu du lịch
sẽ không đáp ứng đợc yêu cầu của khách, làm mất khả năng quản lý và kiểm
soát hoạt động của khách, kết quả là sẽ làm ảnh hởng đến môi trờng và xã hội.
Do khái niệm sức chứa bao gồm cả định tính và định lợng, vì vậy khó có
thể xác định một con số chính xác cho mỗi khu vực. Mặt khác, mỗi khu vực
khác nhau sẽ có chỉ số sức chứa khác nhau. Các chỉ số này chỉ có thể xác định
một cách tơng đối bằng phơng pháp thực nghiệm.
Một điểm cần phải lu ý trong quá trình xác định sức chứa là quan ni
m về sự đông đúc của các nhà nghiên cứu có sự khác nhau, đặc biệt trong
những điều kiện phát triển xã hội khác nhau (ví dụ giữa các nớc Châu và châu
Âu, giữa các nớc phát triển và đang phát triển ). Rõ ràng để đáp ứng yêu cầu
này, cần phải tiến hành nghiên cứu sức chứa của các địa điểm cụ thể để căn cứ
vào đó mà có các quyết định về quản lý. Điều này cần đợc tiến hành đối với các
nhóm đối tợng khách/thị trờng khác nhau, phù hợp tâm lý và quan niệm của họ.
Du lịch sinh thái không thể đáp ứng đợc các nhu cầu của tất cả cũng nh mọi loại
khách.
Yêu cầu thứ t là thoả mãn nhu cầu nâng cao kiến thức và hiểu biết của
khách du lịch. Việc thoả mãn mong muốn này của khách du lịch sinh thái về
những kinh nghiệm, hiểu biết mới đối với tự nhiên, văn hoá bản địa thờng là rất
khó khăn, song lại là yêu cầu cần thiết đối với sự tồn tại lâu dài của ngành du
lịch sinh thái. Vì vậy, những dịch vụ để làm hài lòng du khách có vị trí quan
trọng chỉ đứng sau công tác bảo tồn những gì mà họ quan tâm.
8
Bài tiểu luận năm thứ nhất
Hoa Lan Anh
Du lịch sinh thái bền vững đóng góp tích cực cho sự phát triển bền vững.
Điều đó không có nghĩa là luôn có sự tăng trởng liên tục về du lịch. Đây là
điểm khác biệt cần nhấn mạnh trong thời điểm mà Việt nam bắt đầu lo lắng về
tốc độ tăng trởng của du lịch .
Từ những yêu cầu trên đây của du lịch sinh thái ta rút ra những nguyên
tắc cơ bản để phát triển du lịch sinh thái:
- Phải phù hợp với những nguyên tắc tích cực về môi trờng, tăng cờng và
khuyến khích trách nhiêm đạo đức đối với môi trờng tự nhiên.
- Không đợc làm tổn hại đến tài nguyên, môi trờng, những nguyên tắc về
môi trờng không những chỉ áp dụng cho những nguồn tài nguyên bên ngoài (tự
nhiên và văn hoá) nhằm thu hút khách mà còn bên trong của nó.
- Tập trung vào các giá trị bên trong hơn là các giá trị bên ngoài và thúc
đẩy sự công nhận các giá trị này .
- Các nguyên tắc về môi trờng và sinh thái cần phải đặt lên hàng đầu do
đó mỗi ngời khách du lịch sinh thái sẽ phải chấp nhận tự nhiên theo đúng nghĩa
của nó và chấp nhận sự hạn chế của nó hơn là làm biến đổi môi trờng cho sự
thuận tiện cá nhân.
- Phải đảm bảo lợi ích lâu dài đối với tài nguyên, đối với địa phơng và đối
với ngành (lợi ích về bảo tồn hoặc lợi ích về kinh tế, văn hoá, xã hội hay khoa
học).
- Phải đa ra những kinh nghiệm đầu tay khi tiếp xúc với môi trờng tự
nhiên, đó là những kinh nghiệm đợc hoà đồng làm tăng sự hiểu biết hơn là đi
tìm cái lạ cảm giác mạnh hay mục đích tăng cờng thể trạng cơ thể.
- ở đây những kinh nghiệm có tác động lớn và có nhận thức cao nên đòi
hỏi sự chuẩn bị kỹ càng của cả ngời hớng dẫn và các thành viên tham gia .
- Cần có sự đào tạo đối với tất cả các ban nghành chức năng: địa phơng,
chính quyền, tổ chức đoàn thể, hãng lữ hành và các khách du lịch (trớc, trong và
sau chuyến đi).
- Thành công đó phải dựa vào sự tham gia của địa phơng, tăng cờng sự
hiểu biết và sự phối hợp với các ban ngành chức năng.
9
Bài tiểu luận năm thứ nhất
Hoa Lan Anh
- Các nguyên tắc về đạo đức, cách ứng sử và nguyên tắc thực hiện là rất
quan trọng. Nó đòi hỏi cơ quan giám sát của ngành phải đa ra các nguyên tắc và
các tiêu chuẩn đợc chấp nhận và giám sát toàn bộ các hoạt động.
- Là một hoạt động mang tính chất quốc tế, cần phải thiết lập một khuôn
khổ quốc tế cho ngành.
1.3. Tính tất yếu phát triển du lịch sinh thái tại Việt Nam
Vit Nam, ngnh du lch phỏt trin tng i mun. Hot ng du
lch ch thc s din ra sụi ni t sau nm 1990 gn lin vi chớnh sỏch m
ca ca ng v Nh nc. Theo s liu thng kờ t nm 1990 n 2002
lng khỏch quc t tng 10,5 ln (t 250.000 n 2.620.000) khỏch ni a
tng 13 ln (t 1000.000 tng lờn 13.000.000). Thu nhp xó hi cng tng
ỏng k, nm 1991 l 2.240 t ng n nm 2002 l 23.000 t ng, trong
ú hot ng du lch sinh thỏi trong cỏc khu bo tn v vn quc gia v du
lch bin úng gúp mt t trng ln. Cỏc s liu thng kờ mt s vn quc
gia nh Cỳc Phng, Cỏt B, Cụn o, Bch Mó cỏc khu bo tn thiờn
nhiờn nh Phong Nha- K bng, H k g bỡnh quõn mi nm tng 50%
khỏch ni a v 30 % khỏch quc t. Trong giai on t 1995 1998 du lch
sinh thỏi t tng trng 16,5%.
Vì vậy hiện nay phát triển du lịch sinh thái là một xu thế tất yếu. Du lịch
sinh thái phát triển nhằm thoả mãn nhu cầu ngày một tăng của khách du lịch,
của cộng đồng. Nhu cầu này liên quan chặt chẽ đến sự phát triển không ngừng
của xã hội, đảm bảo về tổng thể một tơng lai phát triển lâu dài của hệ sinh thái,
với t cách là một ngành kinh tế. Bên cạnh xu thế phát triển du lịch sinh thái do
nhu cầu khách quan, xu thế này còn không nằm ngoài xu thế chung về phát
triển xã hội của loài ngời khi các giá trị tài nguyên ngày càng bị suy thoái, khai
thác cạn kiệt.
Việt Nam là một đất nớc nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa,
nằm hoàn toàn trong vòng đai nhiệt đới của nửa cầu bắc, thiên về chí tuyến
hơn là phía xích đạo. Vị trí đó đã tạo nên một nền nhiệt độ cao, độ ẩm không
khí cao, ma nhiều. Việt Nam có đờng bờ biển dài hơn 3000km, lng dựa vào
dãy Trờng Sơn. Chính các điều kiện đó đã mang lại cho Việt Nam một hệ
động thực vật vô cùng phong phú, đa dạng và độc đáo. Kết hợp vào đó có rất
10
Bài tiểu luận năm thứ nhất
Hoa Lan Anh
nhiều nét văn hoá dân tộc đặc sắc, đậm đà. Những yếu tố đó đã tạo nên cho
Việt Nam một lợi thế to lớn trong việc phát triển loại hình du lịch sinh thái.
Cùng với việc nỗ lực bảo tồn, khai thác phát huy các giá trị tài nguyên thiên
nhiên và văn hoá phục vụ phát triển kinh tế thông qua du lịch sinh thái là một
xu thế tất yếu. Với t cách là một ngành kinh tế mũi nhọn - Du lịch trong đó có
du lịnh sinh thái ngày càng khẳng định vị thế của mình đối với sự phát triển
kinh tế xã hội của đất nớc.
Du lch sinh thỏi Vit nam cng ó cú nhng úng gúp ln cho s
phỏt trin cng ng, bo v ti nguyờn mụi trng. Nh phỏt trin du lch
sinh thỏi m ng bo mt s dõn tc, c dõn sinh sng trong vựng m cỏc
vn quc gia, khu bo tn cú c vic lm, nõng cao mc sng, cỏc l hi,
tp tc, ngnh ngh th cụng c bo tn v phỏt trin.
11
Bài tiểu luận năm thứ nhất
Hoa Lan Anh
Chơng 2
Thực tế phát triển du lịch sinh thái ở Việt Nam
2.1 Điều kiện để phát triển du lịch sinh thái ở Việt Nam
Vit Nam l quc gia nm trong vựng khớ hu nhit I giú mựa. ắ
din tớch t nc bao ph bI cỏc dóy nỳi, I v cỏc cao nguyờn. B bin
Vit Nam trI di trờn 3200 km. Vit Nam l ni c trỳ ca 12000 loi thc
vt, 7000 loi ng vt trong s ú cú rt nhiu loi c lit vo Sỏch
ca th gii. c bit l trong nhng nm 80 ca th k trc, ó cú 5 loi
ng vt dng ln ó c phỏt hin Vit Nam. Do iu kin a lý nh vy
nờn Vit Nam rt thớch hp phỏt trin du lch sinh thỏi.
Hệ sinh thái ở Việt Nam bao gồm 12 loại điển hình:
1. Hệ sinh thái rừng nhiệt đới.
2. Hệ sinh thái rừng rậm gió mùa ẩm thờng xanh trên núi đá vôi
3. Hệ sinh thái rừng khô hạn.
4. Hệ sinh thái núi cao.
5. Hệ sinh thái đất ngập nớc.
6. Hệ sinh thái ngập mặn ven biển.
7. Hệ sinh thái đầm lầy.
8. Hệ sinh thái đầm phá.
9. Hệ sinh thái san hô.
10. Hệ sinh thái biển - đảo.
11. Hệ sinh thái cát ven biển.
12. Hệ sinh thái nông nghiệp.
Việt Nam có 350 loài san hô, trong đó có 95 loài ở vùng biển phía Bắc và
225 loài ở vùng biển phía Nam. Bên cạnh 60 vạn ha đất cát ven biển, trong đó
có 77.000 ha hệ sinh thái cát đỏ tập trung tại Bình Thuận, Ninh Thuận và các
tỉnh duyên hải Trung bộ, Việt Nam còn có thêm 10 triệu ha đất ngập mặn ẩn
chứa nhiều hệ sinh thái điển hình có giá trị cao về khoa học và du lịch tại Đồng
Tháp Mời là vùng ngập nớc tiêu biểu cho khu vực Đông Nam á. Hệ thống rừng
12
Bài tiểu luận năm thứ nhất
Hoa Lan Anh
đặc dụng và rừng ngập mặn Việt Nam thuộc loại rừng giàu có về tính đa dạng
sinh học với 12.000 loài thực vật ( 1.200 loài đặc hữu). 15.575 loài động vật
(172 loài đặc hữu). Với tiềm năng phong phú và đa dạng, nên ngay từ thời gian
đầu của quá trình đổi mới đất nớc, việc phát triển du lịch sinh thái ở Việt Nam
đã đợc coi trọng. Nếu nh năm 1994 mới chỉ có 320 ngàn lợt khách quốc tế đến
các vùng tự nhiên ở Việt Nam thì đến năm 1999 con số tơng ứng đã lên đến 620
ngàn và dự tính 1triệu lợt khách cho cả năm 2000. Bên cạnh đó hàng năm cũng
có thêm 3.5 đến 5 triệu lợt khách du lịch nội địa ghé các vùng tự nhiên. Nhờ
vậy doanh thu của hoạt động du lịch sinh thái tại các khu bảo tồn thiên nhiên
cũng nh vùng đệm hiện chiếm khoảng 25-30% trong tổng số doanh thu hàng
năm của ngành du lịch.
Hiện nay ngành du lịch Việt Nam đang gấp rút hoàn thiện công tác điều
tra cơ bản quy hoạch những vùng tiềm năng nh Ba Bể, Cát Bà, Cúc Phơng, Nam
Cát Tiên, Yok-Đôn, Côn Đảo, Bình Châu-Phớc Bửu
Tổ chức không gian hoạt động du lịch sinh thái trong các khu bảo tồn ở
Việt Nam sẽ đợc phân thành 7 cụm vùng tiêu biểu. Không gian du lịch sinh thái
vùng núi và ven biển Đông Bắc bao gồm một phần các tỉnh Lạng Sơn, Cao
Bằng, Bắc Cạn, Bắc Thái. Các hệ sinh thái điển hình và có giá trị cao đợc chọn
khu vực này là khu bảo tồn thiên nhiên Bắc Sơn, Hữu Liên ( Lạng Sơn), rừng
văn hoá lịch sử Pắc Bó, Trùng Khánh( Cao Bằng), Vờn quốc gia Ba Bể ( Bắc
Cạn). Hồ núi Cốc( Bắc Thái) và hệ sinh thái rừng ngập mặn Quảng Ninh, Hải
Phòng.
Không gian hoạt động của du lịch sinh thái vùng núi Tây Bắc và Hoàng
Liên Sơn chủ yếu phần phía Tây của 2 tỉnh Lào Cai và Lai Châu với vùng sinh
thái núi cao Sapa-Phanxiphăng và Khu bảo tồn Mờng Nhé- nơi đang tồn tại 38 loài
động vật quý hiếm cần đợc bảo vệ nh Voi, Bò tót, Gấu chó, Hổ, Sói đỏ
Du lịch sinh thái Đồng Bằng Sông Hồng với không gian chủ yếu thuộc
các tỉnh Hà Tây, Vĩnh Phúc, Hà Nam, Nam Định, Thái Bình và Thanh Hoá. Các
khu bảo tồn thiên nhiên điển hình đợc chọn cho vùng này là Tam Đảo, Cúc Ph-
ơng, Ba Vì, Xuân Thuỷ (khu bảo vệ vùng đất ngập nớc (Ramsa) đầu tiên ở Việt
Nam)
Không gian du lịch sinh thái vùng Bắc Trung Bộ bao gồm phần phía Tây
Nam Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Nam, Đà Nẵng và phía Đông
13
Bài tiểu luận năm thứ nhất
Hoa Lan Anh
Nam Thừa Thiên Huế. So với các nớc trong khu vực Đông Nam á, đây là địa
bàn đợc đánh giá cao nhất về tính đa dạng sinh học với Khu bảo tồn thiên nhiên
Phong Nha-Kẻ Bàng đợc xếp vào loại lớn trên thế giới và nhiều khu rừng
nguyên sinh có giá trị
Phía Tây của Tây Nguyên, một phần Bắc Lâm Đồng kéo dài đến tỉnh
Khánh Hoà thuộc không gian du lịch sinh thái vùng Nam Trung Bộ và Tây
Nguyên. các hệ sinh thái điển hình của vùng nay bao gồm rừng khu rừng ở Yok
đôn, đất ngập nớc Hồ Lắc, hệ sinh thái Ngọc Linh, Biodup-Núi Bà; hệ sinh thái
san hô Nha Trang.
Vùng chuyển tiếp từ cao nguyên Tây Nguyên cực Nam Trung Bộ với
không gian du lịch sinh thái bao trùm khu vực Vờn quốc gia Nam Cát Tiên
(Lâm Đồng-Bình Dơng, Đồng Nai), Côn Đảo, Bình Châu-Phớc Bửu( Bà Rịa-
Vũng Tàu), Biển Lạc-Núi Ông( Bình Thuận)
Dựa vào hai hệ sinh thái là đất ngập mặn và rừng ngập mặn thuộc các tỉnh
dọc sông Mê Kông đến Bạc Liêu, Cà Mau, Kiên Giang, không gian du lịch vùng
này sẽ tập trung chủ yếu vào rừng ngập mặn Cà Mau, Tràm chim Đồng Tháp, Cù
lao sông Tiền, sông Hậu và Khu bảo tồn thiên nhiên Phú Quốc.
2.2 Một số điểm du lịch sinh thái điển hình ở Việt Nam
Trong vùng du lịch phía Bắc vằ Bắc Trung Bộ có điều kiện hình thành
tuyến du lịch sinh thái phía Đông Bắc từ thành phố Hà Nội-Bắc Ninh-Bắc Cạn-
Lạng Sơn-Cao Bằng phong phú và đa dạng về yếu tố sinh thái vốn có của đất n-
ớc. Chiều dài của tuyến du lịch khá thuận tiện về đờng bộ, những năm gần đây
nhiều đờng xá đã đợc nâng cấp hoàn chỉnh nh đờng quốc lộ mới, đờng 32 v.v
Về mặt lu trú của du khách cũng có các khách sạn với tiện nghi hiện đại. Nhiều
tổ chức lữ hành , phục vụ thông tin liên lạc, quảng bá v.v các Sở Du lịch, các
công ty kinh doanh du lịch về các làng bản, nhân dân địa phơng trên tuyến điểm
du lịch đã có kinh nghiệm tốt đảm bảo niềm tin gây cảm tình đối với du khách.
Tuyến du lịch có thể tổ chức dài từ 4-5 ngày đối với toàn tuyến, cố nhiên có thể
tuỳ theo yêu cầu của du khách mà có thể phân thành một tuyến nhất định.
Điều đáng mừng là những năm gần đây nhiều tỉnh, thành trong cả nớc đã
hởng ứng tích cực loại hình du lịch sinh thái. Loại hình du lịch này bớc đầu đã
đợc chú ý đầu t để thu hút nhiều khách tham quan, đồng thời hình thành và phát
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét