Thứ Sáu, 18 tháng 4, 2014

một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác kiểm soát lạm phát ở việt nam


LINK DOWNLOAD MIỄN PHÍ TÀI LIỆU "một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác kiểm soát lạm phát ở việt nam": http://123doc.vn/document/1053642-mot-so-giai-phap-nham-nang-cao-hieu-qua-cong-tac-kiem-soat-lam-phat-o-viet-nam.htm



- 5 -
đều tăng giá mà có thể có một số mặt hàng không thay đổi giá hay giảm giá
so với trước. Do đó, khi nói đến lạm phát là nói đến sự tăng giá cả hàng hoá
trên diện rộng và kéo dài chứ không phải là sự tăng giá của các hàng hoá
riêng lẻ, nhất thời. Hơn nữa, giá cả là biểu hiện bằng tiền giá trò của hàng
hoá, hay nói cách khác, tiền tệ là thước đo giá trò của hàng hoá, cho nên giá
trò của đồng tiền thay đổi cũng làm thay đổi giá cả hàng hoá, chính vì vậy,
lạm phát xảy ra suy cho cùng ít nhiều đều liên quan đến chính sách tiền tệ
và tài chính quốc gia.
1.1.2. Mục tiêu và tầm quan trọng của công tác kiểm soát lạm phát
1.1.2.1 Tác động của lạm phát đối với nền kinh tế
Về cơ bản, nền kinh tế lạm phát là một tín hiệu không tốt. Duy trì lạm
phát sẽ làm giảm dần lợi tức thực của những người có thu nhập thấp, những
người hoàn lương hưu và dẫn đến sai lệch trong việc phân phối của cải của
xã hội. Tuy nhiên, lòch sử lạm phát đã cho thấy rằng không phải bất cứ lúc
nào lạm phát xảy ra cũng là xấu, và cũng không phải ai cũng bò thiệt hại khi
nền kinh tế bò lạm phát. Cũng như đa số các hiện tượng kinh tế khác, lạm
phát cũng có tính hai mặt của nó là mang lại lợi ích cũng như gây ra thiệt hại
đối với nền kinh tế.
1.1.2.1.1 Tác động tích cực của lạm phát
Theo lý thuyết kinh tế vó mô, khi nền kinh tế chưa đạt đến mức toàn
dụng, hay nói cách khác, khi các yếu tố sản xuất như đất đai, lao động, vốn,
công nghệ chưa được khai thác hết thì khi mức giá chung tăng lên sẽ có tác
dụng kích thích các doanh nghiệp gia tăng đầu tư để tăng sản lượng hàng hoá
cung ứng trên thò trường, làm cho sản xuất được mở rộng. Sản xuất mở rộng
sẽ tạo ra được nhiều công ăn việc làm, giảm tỷ lệ thất nghiệp và tăng thu
nhập của người dân. Đầu tư cho sản xuất tăng, thu nhập của người dân tăng
sẽ góp phần làm tăng tổng cầu. Tổng cầu tăng lại tạo điều kiện cho sản xuất
phát triển. Sản xuất và tiêu dùng liên tục phát triển, mở rộng sẽ góp phần
duy trì sự tăng trưởng ổn đònh của nền kinh tế. Trên giác độ này, lạm phát
được xem là một nhân tố kích thích kinh tế phát triển.
Giá cả chung tăng tạo điều kiện cho sản xuất phát triển, nhưng không
phải tất cả các ngành trong nền kinh tế đều phát triển. Giá cả tăng sẽ làm
cho các yếu tố sản xuất đầu vào tăng giá, làm tăng chi phí sản xuất. Vì thế,
những ngành nào tăng được giá bán thì sẽ tồn tại và phát triển, còn những
ngành nào mà giá bán không tăng được, hay thậm chí còn giảm xuống, thì có
thể bò thu hẹp dần. Kết quả là vốn đầu tư sẽ chuyển dòch, các ngành kinh tế
phát triển được thì sẽ thu hút được nhiều vốn đầu tư, còn các ngành không


- 6 -
phát triển được sẽ thu hút được ít vốn đầu tư, hơn nữa vốn đầu tư còn bò rút
dần để đầu tư vào những lónh vực, ngành nghề khác Điều này sẽ góp phần
làm biến đổi cơ cấu nền kinh tế theo hướng có lợi và hiệu quả hơn.
Giá cả tăng không những góp phần làm thay đổi cơ cấu kinh tế mà còn
tạo ra một áp lực cạnh tranh rất lớn trong nền kinh tế ở hầu hết các ngành
nghề. Đối với các ngành tăng được giá bán thì áp lực lớn nhất đối với các
doanh nghiệp là làm sao để duy trì và phát triển thò phần của mình. Còn
những ngành không tăng giá được thì các doanh nghiệp phải chòu áp lực lớn
hơn vì vừa phải duy trì thò phần vừa phải cố gắng hạ thấp chi phí để đảm bảo
có lợi nhuận. Trong bối cảnh đó, để tồn tại và phát triển buộc các doanh
nghiệp phải không ngừng cải tiến kỹ thuật, nâng cao năng suất lao động,
năng lực quản lý, cải tiến chất lượng sản phẩm và hạ giá thành sản phẩm.
Theo quan niệm của các nhà đầu tư tài chính, lạm phát cũng được xem
như là một nhân tố rủi ro tiềm ẩn và là một động cơ cần thiết để đầu tư sinh
lợi. Rủi ro này thể hiện ở sự không chắc chắn về giá trò của đồng tiền trong
tương lai. Nếu lạm phát tăng thì một đồng ngày hôm nay sẽ có giá trò nhiều
hơn một đồng trong lương lai, tức giá trò đồng tiền giảm đi. Giá trò đồng tiền
giảm đi theo thời gian như là một thứ thuế đánh trên những người nắm giữ
tiền. Điều này sẽ khuyến khích những người nắm giữ tiền sử dụng tiền của
mình để đầu tư sinh lợi, chẳng hạn như gửi tiết kiệm, mua chứng khoán, góp
vốn kinh doanh… nhằm bảo tồn được giá trò thực của tiền và có thể mang lại
một giá trò tiền tệ lớn hơn. Kết quả là làm tăng hiệu quả sử dụng vốn trong
nền kinh tế.
Giá cả tăng lên, đồng tiền bò mất giá, điều này sẽ có lợi cho một số bộ
phận trong xã hội dó là: chính phủ, các doanh nghiệp và người vay nợ.
- Chính phủ là người hưởng lợi trước tiên từ lạm phát. Giá cả tăng sẽ
làm tăng thu nhập của nhà sản xuất, và vì thế mức lương của người lao động
cũng tăng theo. Khi thu nhập của xã hội tăng thì thuế trả cho Nhà nước cũng
tăng. Trong khi đó các khoản chi trả lương, trợ cấp hưu trí… của Nhà nước
thường mang tính ổn đònh trong một thời gian dài, hoặc nếu thay đổi cũng
không bằng nguồn thu tăng thêm vào ngân sách do tăng giá, cho nên Nhà
nước vẫn được lợi từ lạm phát. Hơn nữa, chính phủ thường là chủ nợ lớn nhất
trong xã hội dưới dạng các tài sản tài chính như trái phiếu chính phủ, lạm
phát sẽ làm cho phần lãi suất thực mà chính phủ chi trả cho các khoản nợ
bằng tiền trong nước sẽ giảm đi. Và nếu lạm phát xảy ra là do phát hành tiền
thì chính phủ càng được lợi hơn nữa, vì năng lực mua sắm của những đồng
tiền hiện có sẽ bò sụt giảm và chuyển dòch vào những đồng tiền phát hành
mới. Như vậy, rõ ràng chính phủ sẽ rất có lợi vì chỉ cần bỏ ra một ít chi phí


- 7 -
để in tiền là có thể dùng để mua sắm một khối lượng hàng hoá lớn hơn trên
thò trường. Cũng chính vì những mối lợi này mà đa số các chính phủ đều cố
gắng duy trì lạm phát trong nền kinh tế.
- Các doanh nghiệp cũng có lợi từ lạm phát đứng trên giác độ tăng giá
bán so với sự thay đổi tiền lương của người lao động. Thông thường, khi lạm
phát xảy ra các doanh nghiệp thường sẽ tăng giá bán trước khi có những
quyết đònh để thay đổi tiền lương cho người lao động. Sự thay đổi lương này
thông thường được thực hiện vào thời điểm đầu năm, và nếu có tăng lương
thì mức tăng cũng không thể cao hơn mức tăng giá vì thế lợi nhuận của nhà
sản xuất thường cao hơn so với trước.
- Đối với những người đi vay, nếu lãi suất đi vay không gắn với sự thay
đổi lạm phát thì khi giá cả tăng, năng lực mua sắm của đồng tiền bò giảm
sút, vì thế giá trò đồng tiền khi họ vay sẽ cao hơn giá trò đồng tiền mà họ trả
lại nợ vay cho chủ nợ, do đó người đi vay cũng sẽ được hưởng lợi từ lạm
phát. Dó nhiên, nếu lãi suất vay gắn với sự biến động của lạm phát thì người
đi vay sẽ không có lợi gì. Như vậy, lạm phát xảy ra cũng có những tác động
tích cực nhất đònh đối với nền kinh tế như tăng trưởng, gia tăng việc làm,
kích thích cạnh tranh, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn Tuy nhiên, những tác
động tích cực trên chỉ có được thực sự khi lạm phát xảy ra là thấp và mang
tính ổn đònh trong một thời gian dài.
1.1.2.1.2 Tác động tiêu cực của lạm phát
Mặc dù trong một số trường hợp nào đó, lạm phát xảy ra là có lợi cho
nền kinh tế, nhưng nhìn chung, lạm phát xảy ra đều có những tác động tiêu
cực đối với nền kinh tế, thể hiện ở một số mặt như: phân bố nguồn lực, phân
phối thu nhập, phát triển kinh tế và lãng phí của xã hội.
-
Phân bố nguồn lực không hiệu quả: khi lạm phát xảy ra đồng tiền sẽ bò
mất giá, đặc biệt là trong thời kỳ lạm phát cao thì giá trò đồng tiền sẽ sụt
giảm nghiêm trọng, cho nên càng giữ nhiều tiền mặt trong tay thì càng trở
nên nghèo đi. Để đối phó với tình trạng này, người ta chuyển sang nắm giữ
các tài sản khác lâu bền hơn và giá trò ít bò biến động bởi lạm phát hơn như
bất động sản, vàng, đá quý và các loại ngoại tệ mạnh. Các khoản tiền gửi
tiết kiệm tại ngân hàng sẽ bò sụt giảm do người dân không thích gửi tiền vào
ngân hàng nữa, không những thế họ còn đổ xô đến ngân hàng để rút tiền ra.
Điều này làm cho nguồn vốn cho vay của các ngân hàng bò giảm sút nghiêm
trọng. Nguồn vốn ngân hàng giảm sẽ làm tăng lãi suất cho vay, dẫn đến vốn
đầu tư cho sản xuất cũng giảm. Kết quả là vốn đầu tư vào sản xuất sẽ giảm
đi, trong khi đó vốn đầu tư vào các tài sản ngoài sản xuất như bất động sản
sẽ tăng lên. Xét trên giác độ nền kinh tế, các tài sản ngoài sản xuất không


- 8 -
góp phần tạo ra sản phẩm cho xã hội vì thế việc đầu tư nhiều vào các tài sản
này sẽ làm giảm hiệu quả của nền kinh tế.
-
Phân bố thu nhập bò biến dạng: đứng trên giác độ phân phối thu nhập
trong xã hội thì lạm phát xảy ra sẽ có lợi cho người đi vay, nhà sản xuất và
người phát hành tiền, chính phủ, ngược lại, những người cho vay và những
người hưởng lương, trợ cấp sẽ bò thiệt hại.
+ Đối với người hưởng lương, trợ cấp thì khi lạm phát xảy ra, lương của
họ thường được điều chỉnh sau khi giá cả tăng lên, nhưng hầu như tốc độ
tăng lương không bằng với tốc độ tăng giá cả, vì thế lượng hàng hoá mà họ
tiêu dùng sẽ thấp hơn so với trước, kết quả là thu nhập thực sự của họ giảm
xuống, do đó mức sống sẽ ngày càng thấp nếu lạm phát ngày càng cao. Hơn
nữa, do tốc độ tăng lương chậm hơn tốc độ tăng giá sẽ làm cho lợi nhuận của
nhà sản xuất tăng lên, do đó một phần những khoản thiệt hại mà người lao
động phải chòu đã chuyển thành phần lợi mà nhà sản xuất được hưởng. Điều
này làm cho nhà sản xuất dường như ngày càng giàu hơn, trong khi đó người
lao động, hưu trí ngày càng nghèo đi.
+ Đối với những người cho vay, thường là họ cho vay dưới dạng lãi suất
cố đònh khi lạm phát xảy ra, những đồng tiền mà họ nhận được từ việc cho
vay sẽ có giá trò thấp hơn lúc cho vay, vì thế phần lãi suất thực mà họ được
hưởng sẽ giảm sút thậm chí còn bò âm nếu lạm phát quá cao. Trong số những
người cho vay, có thể nói dân chúng là người cho vay nhiều nhất dưới dạng
tiền gửi tiết kiệm và mua trái phiếu chính phủ, nên cũng là những người chòu
thiệt hại nhiều nhất.
-
Làm suy thoái kinh tế: lạm phát xảy ra làm cho nguồn lực phân bố
không hiệu quả, các khoản đầu tư không sản xuất gia tăng làm cho các
khoản đầu tư vào sản xuất sụt giảm, làm giảm cầu về các yếu tố sản xuất, do
đó làm giảm tổng cầu của nền kinh tế. Tổng cầu và sản xuất sụt giảm sẽ làm
giảm tăng trưởng kinh tế, tăng tình trạng thất nghiệp và dẫn đến suy thoái
kinh tế.
Lạm phát cao sẽ làm cho việc dự đoán giá cả và chi phí gặp khó khăn,
do đó các dự án đầu tư mới cũng sẽ khó được thực hiện. Giá cả tăng nên các
yếu tố sản xuất đầu vào cũng tăng, nhu cầu tiền vốn để thanh toán các giao
dòch mua bán cũng tăng làm cho lãi suất tăng cao. Lãi suất tăng lại làm tăng
chi phí sản xuất, giảm lợi nhuận cho nên sẽ không khuyến khích sản xuất
phát triển. Hơn nữa, chi phí tăng cao, lợi nhuận thấp sẽ không hấp dẫn các
nhà đầu tư bỏ tiền vào thò trường vốn. Kết quả là thò trường vốn trong nước
bò suy yếu và thu hẹp dần, các luồng vốn đầu tư quốc tế sẽ chạy qua các
nước khác có mức lạm phát thấp hơn và ổn đònh hơn.


- 9 -
Ngoài ra, nếu lạm phát trong nước cao hơn lạm phát ởû nước ngoài sẽ
làm cho giá cả của hàng hoá trong nước tăng lên làm giảm sức cạnh tranh
của hàng hoá xuất khẩu đồng thời kích thích nhập khẩu hàng hoá. Xuất khẩu
giảm, nhập khẩu tăng sẽ làm mất cân đối cán cân thanh toán quốc tế, làm
thu hẹp sản xuất trong nước.
-
Tốn kém chi phí của xã hội: do lạm phát gây ra những thiệt hại không
nhỏ cho nền kinh tế như đã kể trên, vì thế khi lạm phát xảy ra các bộ phận
trong nền kinh tế gồm chính phủ, doanh nghiệp và người dân phải mất chi
phí để tìm cách đối phó và kiểm soát lạm phát.
Lạm phát xảy ra, người dân mà nhất là người lao động, hưu trí là những
người chòu thiệt hại nhiều nhất. Để đối phó với tình trạng này họ phải mất
nhiều thời gian, công sức để tính toán, tìm kiếm và mua sắm những hàng hoá
có thể cất trữ giá trò tốt hơn. Tiền mặt càng nhiều, thiệt hại càng lớn vì thế
khối lượng giao dòch mua bán hàng hoá cũng tăng lên, người dân chỉ cất trữ
một số lượng rất ít tiền mặt trong thời kỳ lạm phát để phục vụ cho nhu cầu
chi tiêu tối thiểu hàng ngày. Hơn nữa, do tiền gửi tiết kiệm trong dân cũng
rất lớn, do đó, người dân cũng phải tốn nhiều thời gian, chi phí (chi phí mòn
giày) để đến các ngân hàng rút tiền và thanh toán các khoản nợ mua hàng
hoá, dòch vụ.
Khi lạm phát gia tăng, để có thể chủ động đối phó với các tình huống
xấu có thể xảy ra các doanh nghiệp phải tốn nhiều tiền hơn cho việc tổng
hợp, phân tích và dự báo thông tin kinh tế liên quan đến thò trường. Hơn nữa,
để tránh bò lỗ các doanh nghiệp cũng buộc phải thay đổi giá bán. Họ phải
mất thời gian và tốn kém chi phí để tính toán lại giá bán, in ấn lại bảng giá.
Đối với những hàng hoá mà giá in sẵn trên sản phẩm thì phải tốn thêm chi
phí để điều chỉnh lại giá. Các chi phí giao dòch với khách hàng cũng tăng lên
để thông báo, giải thích về việc thay đổi giá. Trong thời gian ngắn, sự sụt
giảm về khối lượng hàng hoá bán ra là không tránh khỏi do điều chỉnh tăng
giá.
Nhìn chung, lạm phát xảy ra ảnh hưởng đến nhiều mặt của đời sống xã
hội, trên giác độ là người quản lý kinh tế vó mô chính phủ cũng phải tìm các
biện pháp để kiểm soát lạm phát sao cho có lợi nhất cho nền kinh tế. Các
biện pháp này cũng đòi hỏi phải tốn thời gian, công sức và chi phí để thực
hiện. Chẳng hạn như để chống lại tình trạng lạm phát do một số loại nguyên
vật liệu nhập khẩu tăng đột biến làm mức giá chung tăng lên trên diện rộng,
chính phủ có thể áp dụng biện pháp giảm thuế nhập khẩu, chi bù lỗ cho các
doanh nghiệp kinh doanh các mặt hàng này… Điều này sẽ làm giảm nguồn
thu vào ngân sách Nhà nước và tăng chi tiêu của chính phủ.


- 10 -
1.1.2.2 Mục tiêu và tầm quan trọng của công tác kiểm soát lạm phát trong
nền kinh tế
Khi lạm phát xảy ra tất yếu sẽ có những tác động đến nền kinh tế, có
tác động tích cực và cũng có những tác động tiêu cực như đã đề cập bên
trên. Do vậy, tùy thuộc vào từng mục tiêu phát triển kinh tế của mỗi quốc
gia, để tránh những tổn thất do lạm phát gây ra hay những mong muốn lạm
phát mang lại, các nhà làm chính sách phải thực hiện công tác kiểm soát lạm
phát cho phù hợp.
Thông thường, trong chiến lược phát triển kinh tế của mình, mỗi quốc
gia bao giờ cũng đặt ra nhiều mục tiêu như đảm bảo tăng trưởng và phát
triển kinh tế cao, ổn đònh giá cả, tạo nhiều công việc làm, xóa bỏ nạn nghèo
đói, ổn đònh chính trò…, trong đó, mục tiêu ngày càng tăng trưởng và phát
triển kinh tế cao hơn luôn là mục tiêu hàng đầu nhằm mang lại sự giàu có,
thònh vượng cho đất nước, làm tiền đề cho việc đạt được các mục tiêu khác.
Một vấn đề đặt ra là cần phải làm gì để đạt tốc độ tăng trưởng và phát
triển như mong muốn. Điều này hoàn toàn phụ thuộc vào việc khai thác và
sử dụng một cách thật hiệu quả các nguồn lực trong nước cũng như từ nước
ngoài. Sở dó như vậy là vì các nguồn lực kinh tế như đất đai, tài nguyên, lao
động, vốn, công nghệ… đều là những yếu tố có hạn mà nhu cầu sử dụng của
con người là vô hạn. Đặc biệt, áp lực tăng trưởng kinh tế nhanh mạnh sẽ kéo
theo nhu cầu về các yếu tố sản xuất càng lớn, gây áp lực tăng giá lên các
yếu tố sản xuất. Khi các yếu tố sản xuất tăng giá sẽ làm tăng chi phí đầu
vào của quá trình sản xuất kinh doanh và làm cho giá cả hàng hóa tăng lên,
sự tăng lên giá cả của hàng hóa trong một thời gian dài sẽ làm gia tăng lạm
phát. Khi đó, với các tác động tiêu cực của mình, lạm phát sẽ ảnh hưởng đến
nhiều mặt của nền kinh tế. Vậy, mức lạm phát như thế nào là phù hợp đối
với nền kinh tế hay nói cách khác tỷ lệ lạm phát nào là cần được duy trì để
đảm bảo đạt được các mục tiêu đã đặt ra.
Việc duy trì một tỷ lệ lạm phát như mong muốn là rất cần thiết và quan
trọng nhằm đạt được mục tiêu quản lý kinh tế vó mô của quốc gia. Một chuỗi
các công việc liên quan đến việc duy trì một tỷ lệ lạm phát như mong muốn
đó gọi là công tác kiểm soát lạm phát. Khi lạm phát cao hơn hoặc thấp hơn
tỷ lệ lạm phát mong muốn, chính phủ sẽ tiến hành một số biện pháp, các
công cụ tác động đến thuế, lãi suất, mức cung tiền trong nền kinh tế… để duy
trì được tỷ lệ lạm phát như mong muốn này nhằm đạt được những mục tiêu
kinh tế xã hội đã đề ra.
Nói tóm lại, đối với nền kinh tế để phát triển ổn đònh và đảm bảo tăng
trưởng hiệu quả, chính phủ cần chú ý đến yếu tố lạm phát, phải xác đònh một


- 11 -
tỷ lệ lạm phát vừa phải phù hợp, lạm phát vừa phải gây thiệt hại vừa phải,
lạm phát cao sẽ gây thiệt hại cao hơn. Và để làm được điều này, công tác
kiểm soát lạm phát là một công việc quản lý vó mô không thể thiếu trong
công tác quản lý kinh tế của một quốc gia.
1.2. NỘI DUNG CỦA CÔNG TÁC KIỂM SOÁT LẠM PHÁT
1.2.1 Các chỉ tiêu, phương thức đo lường lạm phát
1.2.1.1 Các chỉ tiêu đo lường lạm phát
Hiện nay có nhiều phương pháp được dùng để đo lường lạm phát. Tùy
vào điều kiện cụ thể của mỗi quốc gia mà chính phủ lựa chọn phương pháp
phù hợp sao cho kết quả đo lường có thể phục vụ một cách đắc lực nhất cho
việc điều hành các chính sách kinh tế vó mô và kiểm soát lạm phát. Để tính
toán lạm phát, các phương pháp được lựa chọn thường dùng các chỉ số như
chỉ số giá sản xuất (PPI), chỉ số điều chỉnh GDP, chỉ số giá bán lẻ (RPI), chỉ
số giá tiêu dùng (CPI). Trong đó, hai chỉ số được sử dụng phổ biến nhất là
chỉ số giá tiêu dùng và chỉ số điều chỉnh GDP.
1.2.1.1.1 Chỉ số giá tiêu dùng (CPI – Consumption Price Index)
Để tính toán chỉ tiêu này, người ta bắt đầu bằng việc thu thập số liệu về
giá cả của hàng ngàn hàng hóa và dòch vụ. CPI chuyển giá cả của nhiều
hàng hoá và dòch vụ thành một chỉ số duy nhất phản ánh mức giá chung. Có
thể thực hiện bằng cách tính số bình quân của tất cả các loại giá cả, tuy
nhiên việc tính như vậy sẽ coi như tất cả hàng hóa và dòch vụ đều có tầm
quan trọng như nhau, điều này không đúng trong thực tế. Do vậy, người ta
dùng xác đònh quyền số cho các mặt hàng này bằng cách tính toán giá cả
của một giỏ hàng hóa và dòch vụ mà một người tiêu dùng đại diện mua. CPI
gán quyền số cố đònh (q
0
i
) cho giá cả của các hàng hóa khác nhau.
Vậy, CPI là giá của một giỏ hàng hóa và dòch vụ này so với giá của giỏ
hàng hóa và dòch vụ như thế trong một năm cơ sở (năm gốc) nào đó.
Đo lường chỉ số giá tiêu dùng CPI:
100
00
0
xCPI
qp
qp
ii
i
t
i


=
p
0
i
: giá bán lẻ của sản phẩm i ở thời điểm 0
p
t
i
: giá bán lẻ của sản phẩm i ở thời điểm t
q
0
i
: lượng sản phẩm i ởû thời điểm 0


- 12 -
Chỉ số tính được cho chúng ta biết rằng hiện giờ để mua một giỏ hàng
hóa và dòch vụ như vậy chúng ta bỏ ra số tiền bằng bao nhiêu lần nếu so với
số tiền phải bỏ ra để mua một giỏ hàng hóa và dòch vụ như thế vào năm cơ
sở.
Chỉ số giá tiêu dùng là một chỉ số được theo dõi chặt chẽ nhưng nó
không phải là chỉ số duy nhất thuộc loại này. Các chỉ số khác còn có thể
quan tâm như chỉ số giá bán buôn – phản ánh giá của một giỏ hàng hóa và
dòch vụ điển hình được doanh nghiệp mua.
Và tỷ lệ lạm phát được xác đònh:
Tỷ lệ lạm phát năm t = x 100
CPI
t
– CPI
t-1
CPI
t-1
1.2.1.1.2 Chỉ số điều chỉnh GDP
Chỉ số điều chỉnh GDP còn được gọi là chỉ số điều chỉnh giá ngầm đònh
của GDP. Đó chính là tỷ lệ giữa GDP danh nghóa và GDP thực tế.

GDP danh nghóa
GDP thực tế
Chỉ số điều chỉnh GDP =

Chỉ số điều chỉnh GDP phản ánh giá của một đơn vò sản lượng điển hình
so với giá của nó trong năm cơ sở.
Ta thấy rằng, chỉ số giá tiêu dùng được dùng để phản ánh mức giá trung
bình của một rổ hàng hoá, dòch vụ ở kỳ hiện hành so với kỳ gốc. Nhược
điểm chính của chỉ số này là sự giới hạn của rổ hàng hoá cũng như sử dụng
trọng số cố đònh trong tính toán. Do đó, chỉ số giá không phản ánh được sự
thay đổi chất lượng của hàng hoá, cơ cấu hàng hoá tiêu dùng và sự biến đổi
chi tiêu của người tiêu dùng cho những hàng hoá khác nhau theo thời gian.
Còn chỉ số điều chỉnh GDP được tính dựa vào toàn bộ khối lượng hàng hoá,
dòch vụ cuối cùng được sản xuất trong một năm và giá cả ở kỳ hiện hành so
với kỳ gốc. Về cơ bản thì chỉ số điều chỉnh GDP sẽ tính toán lạm phát chính
xác hơn chỉ số giá tiêu dùng theo đònh nghóa về lạm phát, vì nó thể hiện
được xu hướng tăng mức giá chung của hàng hoá. Tuy nhiên, chỉ số điều
chỉnh GDP chỉ tính được lạm phát của một năm sau khi đã có thông báo
chính thức về tổng sản phẩm quốc nội (GDP) của năm đó, còn chỉ số giá sẽ
có ưu điểm hơn là tính được lạm phát tại từng tháng, từng quý hay từng năm.
Như vậy, chỉ số giá tiêu dùng được sử dụng phổ biến để thông tin về
tình hình lạm phát ở các thời kỳ trong năm, lạm phát đó gọi là lạm phát chỉ
số giá tiêu dùng. Nhưng việc sử dụng chỉ số này làm mục tiêu điều hành
chính sách tiền tệ đã gây ra nhiều tranh cãi và không thống nhất ở mỗi quốc
gia. Đó là vì do xuất phát từ các nhược điểm chính như đã kể trên, chỉ số giá


- 13 -
tiêu dùng rất dễ bò tác động bởi các cú sốc tạm thời lên một số hàng hoá, đặc
biệt là những mặt hàng chiếm tỷ trọng lớn trong rổ hàng hoá. Chính vì dễ bò
tác động nên chỉ số giá tiêu dùng thường không ổn đònh, do đó sẽ dễ dẫn đến
sai lệch khi dùng nó để dự báo xu hướng lạm phát và có thể làm chệch
hướng chính sách tiền tệ. Khắc phục nhược điểm đó, các nước đã áp dụng
nhiều phương pháp để tìm ra một chỉ số giá khác mang tính ổn đònh hơn và ít
chòu sự tác động của những cú sốc tạm thời hơn. Chỉ số giá mới này được
tính toán trên cơ sở chỉ số giá tiêu dùng nhưng có loại trừ ảnh hưởng của các
hàng hoá có mức giá dao động mạnh như: giá lương thực thực phẩm, xăng
dầu, năng lượng. Do đó, lạm phát được đo lường từ chỉ số giá mới này, được
gọi là "lạm phát cơ bản" (core inflation), sẽ thể hiện chính xác hơn sự gia
tăng mức giá chung của nền kinh tế. Và đây là mục tiêu chính mà chính sách
tiền tệ cần tác động để kiểm soát lạm phát trong nền kinh tế.
1.2.1.2 Các phương thức kiểm soát lạm phát
Ở các nước phát triển, khi theo đuổi việc thực hiện một chính sách kinh
tế vó mô nào đó như giải quyết công ăn việc làm cho người lao động hay giải
quyết nạn thất nghiệp, thâm hụt ngân sách… thường phát sinh lạm phát.
Thông thường phương thức chống lạm phát được lựa chọn sử dụng sau khi
nghiên cứu nguyên nhân phát sinh lạm phát hay lạm phát xuất phát từ các
yếu tố nào, là lạm phát phí đẩy, lạm phát cầu kéo, lạm phát là hiện tượng
của tiền tệ… Việc lựa chọn phương thức chống chống lạm phát ở các quốc gia
không hoàn toàn giống nhau, ngay cả trong một nước, vào những thời kỳ
khác nhau người ta cũng thường áp dụng các phương thức khác nhau. Nhìn
chung có hai loại phương thức sau:
1.2.1.2.1 Phương thức “hạn chế tiền tệ”
Phương thức “hạn chế tiền tệ” – kiểm soát chặt chẽ lượng tiền cung ứng
hay còn gọi là phương thức đóng băng. Phương thức này xuất phát từ luận
điểm của M.Friedman cho rằng sự tăng trưởng kinh tế ổn đònh của một quốc
gia chỉ là kết quả của một chính sách tiền tệ ổn đònh. Chính sách tiền tệ ổn
đònh và có hiệu quả chỉ có thể dựa trên sự kiểm soát chặt chẽ khối lượng
tiền phát hành trong lưu thông nghóa là kiểm soát sự cung ứng tiền tệ kết hợp
với chính sách thuế nhằm kiềm chế lạm phát và thúc đẩy tăng trưởng dài
hạn. Đây chính là phương thức chủ yếu để ổn đònh tiền tệ, kiềm chế lạm
phát.
1.2.1.2.2 Phương thức “nới lỏng tiền tệ”
Phương thức “nới lỏng tiền tệ” – lấy lạm phát trừ lạm phát: phương thức
này xuất phát từ luận điểm của J.M.Keynes cho rằng một nền kinh tế tăng
trưởng và có hiệu quả là giải quyết đầy đủ công ăn việc làm, muốn vậy phải


- 14 -
kích thích mặt cầu bằng các chính sách vó mô của Nhà nước. Trong đó, việc
nới lỏng tiền tệ, mở rộng việc cung ứng tiền tệ sẽ kích thích mặt cầu, giải
quyết được nạn thất nghiệp nhờ đó thúc đẩy tăng trưởng kinh tế từ đó lạm
phát sẽ được kiểm soát. Theo quan điểm này, người ta coi lạm phát và chống
lạm phát như là một quá trình liên tục nghóa là vừa chống lạm phát lại vừa
thực hiện chính sách tiền tệ lạm phát.
1.2.2 Kinh nghiệm trong công tác kiểm soát lạm phát trên thế giới
1.2.2.1 Kinh nghiệm kiểm soát lạm phát của Mỹ
Đầu tiên, chúng ta xem xét kinh nghiệm của Mỹ – một quốc gia có
nhiều ảnh hưởng đến kinh tế thế giới trong việc tìm ta một giải pháp chính
sách tài khoá và tiền tệ hỗn hợp nhằm kiểm soát lạm phát nhưng vẫn đảm
bảo tăng trưởng bền vững và ổn đònh giá cả. Từ năm 1854 đến năm 1919,
nền kinh tế Mỹ bò thu hẹp trong khoảng thời gian gần bằng khoảng thời gian
mà nó tăng trưởng: sự tăng trưởng kinh tế trung bình (tính theo tăng trưởng
tổng sản lượng về hàng hóa và dòch vụ) kéo dài 27 tháng, trong khi đó sự trì
trệ kinh tế trung bình (giai đoạn suy giảm sản lượng) kéo dài 22 tháng. Từ
năm 1919 đến 1945, tình hình kinh tế được cải thiện và từ năm 1945 đến
1991, sự tăng trưởng kinh tế trung bình kéo dài 50 tháng và sự trì trệ kinh tế
trung bình chỉ kéo dài 11 tháng. Bên cạnh đó, lạm phát đã chứng tỏ là căn
bệnh nan giải hơn nhiều. Trước chiến tranh thế giới thứ hai, giá cả ổn đònh
một cách đặc biệt, nhưng 40 năm sau, năm 1980, mặt bằng giá tăng 400% so
với mặt bằng giá năm 1940. Tuy nhiên, năm 1979, chính phủ đã chú ý nhiều
đến lạm phát và số liệu về lạm phát đã được cải thiện đáng kể. Đến cuối
thập kỷ 1990, nền kinh tế quốc gia đã đạt được tình trạng tốt đẹp với sự kết
hợp tăng trưởng nhanh, tỷ lệ thất nghiệp và lạm phát thấp. Tất cả là do chính
sách kiểm soát lạm phát của Mỹ mang lại:
- Chính sách tài khoá – Ngân sách và thuế: sự phát triển của chính phủ
từ năm 1930 đi cùng với sự gia tăng chi tiêu liên tục. Năm 1930, chi tiêu của
chính phủ chỉ bằng 3,3%GDP, và con số này tăng lên gần 44%GDP năm
1944. Chi tiêu của chính phủ nói chung lại tăng lên trong những năm tiếp
theo và đạt 24% vào năm 1983 sau đó giảm đi chút ít. Năm 1999 tỷ lệ này
vào khoảng 21%. Xây dựng chính sách tài khoá là một quá trình công phu,
mỗi năm tổng thống đệ trình một kế hoạch chi tiêu cho Quốc hội, các nhà
lập pháp xem xét đề nghò này và quyết đònh một mức chung cho chi tiêu và
thuế. Sau đó họ phân chia số tiền chung này cho từng hạng mục riêng. Cuối
cùng, Quốc hội xem xét các dự luật chuẩn chi ngân sách riêng, xác đònh
chính xác mỗi hạng mục cần bao nhiêu tiền. Nguồn ngân sách chủ yếu của
chính phủ liên bang để trang trải chi tiêu là thuế thu nhập cá nhân, thuế thu

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét