LINK DOWNLOAD MIỄN PHÍ TÀI LIỆU "nguồn gốc của lợi nhuận và vai trò của nó đối với sự phát triển kinh tế của việt nam": http://123doc.vn/document/1051635-nguon-goc-cua-loi-nhuan-va-vai-tro-cua-no-doi-voi-su-phat-trien-kinh-te-cua-viet-nam.htm
do công nhân tạo ra và bị nhà t bản chiếm không.
Nhận xét về học thuyết giá trị thặng d của C.Mac: Lênin đã từng đánh
giá học thuyết giá trị thặng d là "Hòn đá tảng" của toàn bộ học thuyết kinh tế
của Mác, ở trong học thuyết giá trị thặng d , Mác đã vạch rõ bản chất bóc lột
của nhà t bản, đã chứng minh công thức của nhà và giá trị thặng d là do công
nhân sáng tạo ra bị nhà t bản chiếm không. Nếu xét trên góc độ kinh tế, giá
trị thuộc về nhà t bản nhng giá trị sử dụng lại thuộc về xã hội. Do đó, công
nhân càng tạo ra nhiều giá trị thặng d thì xã hội càng nhiều của cải. Nếu
công nhân không tạo ra giá trị thặng d ngời t bản không đợc gì, sản phẩm xã
hội không tăng lên, kinh tế không phát triển. Chính vì thế, giai cấp t bản tim
thấy lao động thặng d là một phát minh vĩ đại để tạo ra bớc tăng trởng kinh tế
và chính lòng khao khat lao động thặng d bằng mọi cách đã làm cho nền
kinh tế phát triển nhảy vọt từ khi họ lên nắm địa vị thống trị. ở bề ngoài xã
hội thì không có giá trị thặng d mà chỉ có lợi nhuận thôi.
2. Lợi nhuận.
Giá trị của hàng hoá sản xuất tong xã hội TBCN, ba gồm ba bộ phận:
1- Giá trị của t bản bất biến (c) (một phần giá trị máy móc, nhà xởng, giá trị
của nhiên liệu, ). 2- Giá trị khả biến(v). 3- Giá trị thặng d (m): Lợng giá trị
của hàng hoá là do số ngời lao động xã hội cần thiết đẻ sản xuất ra hàng hoá
quyết định. Nhng nhà t bản không hao phí lao động vào sản xuất hàng hoá,
mà chỉ bỏ t bản vào đó thôi.
Chi phí t bản chủ nghĩa đẻ sản xuất hàng hoá, gồm có những chi phí về
đầu t bản bất biến và t bản khả biến (c+v), tức là những chi phí về t liệu sản
xuất và tiền lơng công nhân. Đối với nhà t bản, hàng hoá đánh giá bao nhiêu
là tính theo t bản đã chi phí, đối với xã hội, hàng hoá đánh giá bao nhiêu là
tính theo lao động đã hao phí. Bởi vậy những chi phí t bản chủ nghĩa đẻ sản
xuất hàng hoá, thấp hơn giá trị sản xuất thực tế (c+v+m). Chỗ chênh lệch
giữa giá trị hay chi phí sản xuất thực tế và chi phí sản xuất t bản chủ nghĩa, là
giá trị thặng d (m) mà nhà t bản chiếm không.
Khi nhà t bản hàng hoá do xí nghiệp của mình sản xuất ra, thì giá trị
thặng d biểu hiện bằng số thừa ngoài chi phí sản xuất t bản chủ nghĩa. Khi
xác định mức thu nhập của xí nghiệp, nhà t bản so sánh số thừa đó với số t
bản ứng trớc tức là tổng t bản đã bỏ vào sản xuất. Giá trị thặng d, khi so sánh
với tổng t bản, thì biểu hiện thành hình thức lợi nhuận. Vì giá trị thặng d bị
đem so sánh không phải với t bản khả biến mà với toàn bộ t bản cho nên chỗ
5
khác nhau giữa t bản bất biến dùng vào việc mua t liệu sản xuất và t bản khả
biến dùng vào mua sức lao đọng bị xoá mờ đi. Do đó mà sinh ra cái bề ngoài
giả dối khiến cho ngời ta tởng lầm rằng: lợi nhuận là do t bản đẻ ra. Nhng sự
thật thì nguồn gốc của lợi nhuận là giá trị thặng d, và giá trị thặng d chỉ là do
lao động của công nhân sáng tạo ra trong quá trình sử dụng lao động, mà giá
trị của nó thể hiện ở t bản khả biến. Lợi nhuận là giá trị thặng d so sánh với
số t bản đã bỏ vào sản xuất; nhìn bề ngoài giá trị thặng d có vẻ là kết quả của
số t bản ấy. Vì vậy Mác gọi lợi nhuận là hình thức biến tớng của giá trị thặng
d. Và nh vậy, hình thức lợi nhuận đã che dấu quan hệ bóc lột bằng cách tạo
ra quan niệm sai lầm rằng: lợi nhuận là do chính bản thân t bản đẻ ra. Chính
các hình thức quan hệ sản xuất t bản chủ nghĩa đã lam lu mờ và che giấu
thực chất bóc lột của nó.
Nếu gọi lợi nhuận là p, thì công thức GT = c + v + m = k + m sẽ
chuyển hoá thành GT = k + p hay giá trị hàng hoá = chi phí sản xuất + lợi
nhuận vậy, lúc thoạt nhìn ta thấy rằng p và m cùng là một. Tuy nhiên giữa lợi
nhuận và giá trị thặng d không phải là hoàn toàn thống nhất mà giữa chúng
cũng có sự khác nhau.
Về mặt chất: giá trị thặng d phản ánh nguồn gốc sinh ra từ t bản lu
động, là biểu hiện của lao động thặng d; còn lợi nhuận đợc xem là toàn bộ t
bản ứng trớc đề ra. Giá trị thặng d là biểu hiện của quan hệ giai cấp; còn lợi
nhuận biểu hiện mối quan hệ giữa vật với vật.
Về mặt l ợng: nếu hàng hoá bán đúng giá trị của nó thì ngời ta đã thực
hiện đợc một lợi nhuận rồi. Lợi nhuận đó bằng giá trị thừa ra ngoài chi phí
sản xuất hàng hoá, tức là bằng toàn bộ giá trị thặng d chứa đựng trong giá trị
của hàng hoá (m = p). Nhng nhà t bản có thể bán hàng hoá dới giá trị của nó
mà vẫn có lợi nhuận. Bởi vì chừng nào có giá bán của hàng hoá còn cao hơn
chi phí sản xuất của nó, dù giá bán thấp hơn giá trị của nó thì bao giờ cũng
vẫn thực hiện đợc một bộ phận giá trị thặng d chứa đựng trong đó. Nh vậy,
lợi nhuận là một phạm trù trong lu thông. Nhà t bản thu đợc lợi nhuận nhiều
hay ít phụ thuộc vào giá trị hàng hoá. Lợi nhuận xoay quanh giá trị thặng d
cũng nh giá cả dao động quanh giá trị nhng tổng giá trị thặng d bằng tổng lợi
nhuận cũng nh tổng giá trị bằng tổng giá cả.
Tóm lại, sự khác nhau giữa lợi nhuận giá trị thặng d cũng giống nh sự
khác nhau giữa giá trị và giá trị trao đổi. Lợi nhuận là sự thể hiện, tức là
"hình thái biến tớng" của giá trị thặng d. Và cũng nh khi nghiên cứu giá trị,
thoạt tiên Mác gạt bỏ hình thái giá trị của nó, tức giá trị trao đổi. Chỉ sau khi
6
lần mò vết tích của giá trị, Mác mới trở lại giá trị trao đổi. ở đây cũng thế,
thoạt tiên Mác nghiên cứu giá trị thặng d mà không đả động gì đến các hình
thái của nó, Mác chỉ giải thích thực chất của giá trị thặng d, xét xem nó đợc
sản xuất nh thế nào và ai sản xuất nó. Chỉ sau khi nghiên cứu nh thế, Mác
mới chuyển sang nghiên cứu hình thái của nó tức là nghiên cứu lợi nhuận.
Nhng lúc này phạm vi sản xuất sang một bên và chuyển sang phạm vi lu
thông, vì giá trị thặng d chỉ chuyển hoá thành lợi nhuận trong lu thông. Nh
vậy, Mác đã chỉ ra rằng: giá trị thặng d biểu hiện thực chất của phơng thức
sản xuất TBCN. Còn lợi nhuận là một trong những "hình thái cụ thể" mà dới
hình thái đó t bản hiện ra ở bề mặt của xã hội.
3. Tỷ suất lợi nhuận:
Đối với ngời chủ xí nghiệp thì mức lãi của xí nghiệp TBCN cao hay
thấp là do tỷ suất lợi nhuận quyết định. Tỷ suất lợi nhuận là biểu hiện tỷ số
giữa giá trị thặng d và tổng t bản (P' = m/k.100%). Ví dụ: nếu t bản ứng trớc
là 20.000$, nếu lợi nhuận hàng năm là 40.000$ thì tỷ suất lợi nhuận là
40.000/20.000 x 100% = 20%,
Sự chuyển hoá giá trị thặng d thành lợi nhuận đợc hoàn thành ở sự
chuyển hoá tỷ suất giá trị thặng d thành tỷ suất lợi nhuận. Sự chuyển hoá giá
trị thặng d thành lợi nhuận đã nằm trong việc chia giá trị của hàng hoá thành
chi phí sản xuất kinh tế tăng thêm ngoaì chi phí sản xuất, nhng sự chuyển
hoá đó đợc biểu hiện một cách độc lập và đặc thù trong tỷ suất lợi nhuận. Tỷ
suất lợi nhuận biểu hiện tỷ số giữa số tăng thêm nói trên với tổng t bản. Do
đó, nó củng cố ấn tợng cho rằng lợi nhuận là "con đẻ" của TBCN.
Dới chế độ TBCN, mức độ bóc lột lao động của ngời khác mang hình
thức tăng giá trị, biểu hiện ở tỷ suất giá trị thặng d, nh vậy sẽ không tránh
khỏi việc phải chuyển tỷ suất giá trị thặng d thành tỷ suất lợi nhuận bởi vì cả
bản thân giá trị lẫn mức tăng giá trị đều chỉ có thể hiện trong lu thông. Nhng
tỏng lu thông còn có sự khác nhau giữa t bản khả biến và t bản bất biến, giá
trị của hàng hoá chia ra thành chi phí sản xuất và số tăng thêm ngoài chi phí
sản xuất. Do đó trong biểu thức về mức độ, bóc lột tỷ số giữa giá trị thặng d
với t bản khả biến (m/v), đã chứa đựng sự chuyển hoá tỷ số ấy thành tỷ số
giữa giá trị thặng d với tổng t bản (m/(c/v)) hay (m/không trên thực tế, các
nhà t bản không chỉ quan tâm đến lợi nhuận mà còn quan tâm nhiều hơn đến
tỷ suất lợi nhuận. Bởi vì tỷ suất lợi nhuận cho biết nhà t bản đầu t vào đâu thì
có lợi. Đối với nhà t bản nếu P' = 100% thì đầu t khắp nơi, nếu P' = 200% thì
7
sẽ bất chấp cả pháp luật và còn nếu P' = 300% thì treo cổ nhà t bản vẫn cứ
làm.
Do đó, tỷ suất lợi nhuận không chỉ là mục tiêu theo đuổi mà còn là
động lực chính, là yếu tố để cạnh tranh, là sự thèm khát vô hạn. Trên thực tế
thì tỷ suất lợi nhuận cao hay thấp tuỳ thuộc vào nhiều nhana tố khách quan
nh tỷ suất giá trị thặng d, tiết kiệm t bản bất biến, cấu tạo hữu cơ, tốc độ chu
chuyển, Bởi thế, các nhà t bản đầu t vào Việt Nam đang tập trung vào
những ngành có tỷ suất lợi nhuận cao, thu lợi nhuận nhanh nh chủ nghĩa khai
thác, du lịch.
3. Sự hình thành tỷ suất lợi nhuận bình quân.
Trong cuộc đấu tranh giành chỗ đầu t có lợi nhất, các nhà t bảnh cạnh
tranh với nhau kịch liệt. Họ muốn đầu t vào những ngành sản xuất có triển
vọng thu đợc nhiều lợi nhuận hơn trong khi theo đuổi lợi nhuận cao, t bản
chuyển từ ngành này sang ngành khác, kết quả là hình thành nên tỷ suất lợi
nhuận bình quân và tiến hành phân phối lao động và t bản sản xuất giữa các
ngành sản xuất TBCN.
Giả sử trong xã hội có ba ngành: Ngành da, ngành dệt và ngành chế
tạo máy móc, với số t bản bằng nhau, nhng cấu tạo hữu cơ thì khác nhau. T
bản ứng trớc trong mỗi ngành ấy là 100 đơn vị (thí dụ là 100 triệu đồng đô
la). T bản của ngành da gồm 70 đơn vị là t bản bất biến và 30 đơn vị là t bản
khả biến; t bản của ngành dệt gồm có 80 đơn vị là t bản bất biến và 20 đơn vị
là t bản khả biến; và t bản của ngành chế tạo máy móc gồm có 90 đơn vị là t
bản bất biến và 10 đơn vị là t bản khả biến. Giả sử tỷ suất giá trị thặng d
trong cả ba ngành đều nh nhau: 100%. Nh thế thì giá trị thặng d tạo ra trong
ngành da sẽ là 30 đơn vị, trong ngành dệt là 20 và tỏng ngành chế tạo máy
móc là 10. Giá trị của hàng hoá trong ngành thứ nhất sẽ là 130, trong ngành
thứ hai là 120, trong ngành thứ ba là 110, và trong toàn bộ cả ba ngành là 360
đơn vị.
Nếu hàng hoá bán ra theo giá trị của nó, thì tỷ suất lợi nhuận trong
ngành da sẽ là 30% ((30/100).100), trong ngành dệt là 20% ((20/100).100),
trong ngành chế tạo máy móc là 10% ((10/100)/100). Phân phối lợi nhuận
nh thế thì sẽ rất có lợi đối với các nhà t bản thuộc ngành da, nhng không có
lợi đối với các nhà t bản thuộc ngành chế tạo máy móc. Khi ấy thì các chủ xí
nghiệp ngành chế tạo máy móc sẽ đi tìm nơi đầu t có lợi hơn. Và họ sẽ thấy
ngành da là nơi có lợi hơn cả. Thế là họ chuyển t bản ở ngành chế tạo máy
móc sang ngành da. Kết quả là số lợng hàng hoá sản xuất ra trong ngành da
8
sẽ tăng lên, sự cạnh tranh tất nhiên sẽ sâu sắc thêm và sẽ bắt buộc các chủ xí
nghiệp của ngành này phải giảm giá hàng hoá của họ xuống, điều đó sẽ đi
đến chỗ hạ thấp tỷ suất lợi nhuận. Trái lại, trong ngành chế tạo máy móc, số
lợng hàng hoá sản xuất ra sẽ ít đi, và sự thay đổi tơng quan giữa cung và cầu
sẽ giúp cho các chủ xí nghiệp nâng cao đợc giá hàng cuả họ lên và do đó tỷ
suất lợi nhuận cũng tăng lên.
Tình trạng sụt giá trong ngành da và lên giá trong ngành chế tạo máy
móc, sẽ tiếp diễn cho đến khi nào tỷ suất lợi nhuận trong cả ba ngành xấp xỉ
bằng nhau mới thôi. Điều đó sẽ xảy ra khi mà hàng hoá của cả ba ngành đều
bán theo giá 120 đơn vị (130 + 120 + 110)/3).
Lợi nhuận bình quân của mỗi ngành, trong những điều kiện ấy, sẽ là
20 đơn vị. Lợi nhuận bình quân là một lợi nhuận bằng nhau của những số t
bản bằng nhau bỏ vào các ngành sản xuất khác nhau.
Việc bình quân hoá tỷ suất lợi nhuận và việc biến giá trị thành giá cả
sản xuất càng che dấu thêm quan hệ bóc lột, càng che dấu thêm nguồn gốc
làm già thực sự của bọn t bản. thực ra thì sự hình thành tỷ suất lợi nhuận bình
quân có nghĩa là phân phối lại giá trị thặng d giữa các nhà t bản trong các
ngành sản xuất khác nhau. Nhà t bản thuộc ngành có cấu tạo hữu cơ t bản
cao, chiếm đoạt đợc một phần giá trị thặng d do các ngành có cấu tạo hữu cơ
t bản thấp sáng tạo ra. Bởi vậy, công nhân không những bị nhà t bản thuê
mình bóc lột, mà còn bị toàn bộ giai cấp các nhà t bản bóc lột. Toàn bộ giai
cấp các nhà t bản đều quan tâm đến việc nâng cao mức độ bóc lột công nhân,
vì điều đó làm tăng thêm tỷ suất lợi nhuận bình quân. Nh Mác đã vạch rõ, tỷ
suất lợi nhuận bình quân thay đổi tuỳ theo mức độ bóc lột của toàn bộ t bản
đối với toàn bộ lao động.
iii. quan điểm của các nhà kinh tế t sản hiện đại về lợi
nhuận:
1. Quan điểm của các nhà kinh tế t sản hiện đại về lợi nhuận:
Các nhà kinh tế học hiện đại cho rằng: Lợi nhuận là lợng dôi ra của
doanh thu so với chi phí. Trong đó, doanh thu của một hãng là số tiền mà nó
kiếm đợc qua việc bán hàng hoá hoặc dịch vụ trong một giai đoạn nhất định,
vì dụ nh một nặm. Chi phí của hãng là những phí tổn phải chịu khi sản xuất
ra hàng hoá hoặc dịch vụ trong thời kỳ đó.
Lợi nhuận là mục tiêu cao nhất, là điều kiện tồn tại và phát triển của
doanh nghiệp. Để cung cấp hàng hoá cho thị trờng, các nhà sản xuất phải bỏ
tiền vốn trong quá trình sản xuất và kinh doanh. Họ mong muốn chi phí cho
các đầu vào thấp nhất và bán hàng hoá với giá cao nhất để sau khi trừ đi các
9
chi phí còn số d dôi ra không chỉ sản xuất giản đơn mà còn tái sản xuất mở
rộng, không ngừng tích luỹ phát triển sản xuất, củng cố và tăng cờng vị trí
của mình trên thị trờng.
+ Ngày nay, để thu đợc nhiều lợi nhuận, nhà t bản sẽ không đầu t
nhiều vốn để thuê lao động mà đầu t vào máy móc hiện đại, tự động khi mà
lợi nhuận thu đợc phải tong xứng với lợi nhuận bình quân xã hội, mặc dù giá
trị đợc tạo ra trong đó có giá trị thặng d nhỏ hơn nhiều so với giá trị của hàng
hoá. Vì vậy lợi nhuận nhà t bản thu đợc trong điều kiện tiến bộ kỹ thuật, tự
động hoá là do sự chuyển hoá giá trị thặng d đợc tạo ra trong xã hội dới hình
thức giá trị thặng d siêu ngạch đợc sau đi bù lại giữa các nhà t bản.
Việc áp dụng rộng rãi máy móc hiện đại, tự động trong điều kiện ngày
nay đã khiến không ít ngời đặt câu hỏi rằng: "Phải chăng trong các dây
chuyền sản xuất tự động đó không còn bóc lột t bản và chính máy móc đã
sáng tạo ra lợi nhuận?".
2. Lý luận về máy móc tạo ra lợi nhuận:
Trớc hết, ta cần khảng định rằng, máy móc và hệ thống máy móc dù
có tinh vi, hiện đại đến đâu cũng chỉ là sản phẩm lao động của con ngời. Con
ngời không thể chế tạo đợc một động cơ vĩnh cửu. Trong dây chuyền sản
xuất tự động, giá trị thặng d đợc tạo ra không chỉ là sản phẩm của lao động
quá khứ mà vẫn cần tới lao động hiện tại. Mác viết rằng: "Lao động biểu
hiện ra không phải chủ yếu với t cách là lao động đợc nhập vào quá trình sản
xuất nữa, mà là chủ yếu với t cách là một loại lao động trong đó con ngời
ngày càng đứng sang bên cạnh với chức năng giám sát, điều khiển, sáng tạo
mà máy móc không làm nổi".
Lợi nhuận siêu ngạch mà nhà t bản thu đợc khi áp dụng máy móc hiện
đại hơn so với các nhà t bản khác chẳng qua chỉ là sự phân phối lại giá trị
thặng d sẵn có trên phạm vi toàn xã hội. Do áp dụng máy móc hiện đại nên
lao động ở đây có năng suất cao hơn thì giá thành sản phẩm sẽ thấp hơn.
Song trên thị trờng giá bán hàng hoá cùng lại vẫn theo giá thị trờng nên nhà
t bản có máy móc hiện đại hơn sẽ thu đợc nhiều lợi nhuận siêu ngạch hơn.
Thực tế, trên quy mô thị trờng thế giới, các nhà t bản phát triển sản xuất bằng
máy móc hiện đại và đem bán hàng hoá tại các nớc kinh tế chậm phát triển
đã thu đợc lợi nhuận khổng lồ khó có thể hình dung đợc. Lợng lợi nhuận siêu
ngạch mà một nhà t bản thu đợc là do phần lợi nhuận của các nhà t bản khác
mất đi mà thôi. Nếu mọi cơ sở sản xuất đều trang bị máy móc hiện đại nh
nhau thì hiện tợng lợi nhuận siêu ngạch sẽ biến mất và ngời tiêu dùng đ-
10
ợc lợi vì giá cả hàng hoá đợc hạ thấp. Nhng chỉ khi cần một nhà t bản
nào đó áp dụng máy móc hiện đại hơn và thu đợc lợi nhuận siêu ngạch
thì lập tức dẫn đến sự cạnh tranh để rồi sớm hay muộn sẽ làm triệt tiêu
lợi thế cá biệt, triệt tiêu lợi nhuận siêu ngạch.
iv. các hình thức của lợi nhuận:
Nh ta đã biết, giá trị thặng d lợi nhuận không hoàn toàn đồng nhất nh-
ng chúng đều có chung nguồn gốc từ lao động thặng d. Giá trị thặng d là
phần giá trị mà nhà t bản bóc lột không công của ngời công nhân còn lợi
nhuận là số tiền thu đợc sau khi bán sản phẩm trên thị trờng so với số tiền bỏ
vào sản xuất. Có thể nói, chính giá trị thặng d biểu hiện sự bóc lột sản xuất,
chứng minh công thức, mâu thuẫn của t bản một cách chính xác và khoa học.
Trớc Mác, các nhà kinh tế học đã hình dung ra giá trị thặng d nhng họ cha có
đủ lý luận để diễn đạt mà chỉ biểuhiện quan điểm của mình trong vấn đề thu
nhập, tiền lơng. Chỉ đến Mác, ông mới chứng minh xây dựng lý thuyết giá trị
thặng d là phát minh vĩ đại của Mác mà nh Lênin nói là "hòn đá tảng" trong
học thuyết kinh tế. Tuy nhiên, chúng ta phải hiểu rằng Mác không phải là ng-
ời phát minh ra giá trị thặng d, càng không phải là ngời làm ra nó: chính ngời
tìm ra giá trị thặng d là nhà t bản và ngời lao động thặng d là công nhân giá
trị thặng d rất rõ ràng nhng nó đợc che dấu bởi lợi nhuận và nó tồn tại trong
xã hội t bản bởi các hình thái sau:
1. Lợi nhuận công nghiệp:
Về bản chất là phần giá trị do công nhân tạo ra bị nhà t bản chiếm
không và phần gtr này bán trên thị trờng thu đợc một số tiền lời sau khi trừ đi
chi phí sản xuất. Ngày lao động của công nhân (giả sử là 8 giờ) đợc chia ra
làm hai phần: Một phần làm ra giá trị tơng đơng với số tiền lơng của anh ta
và làm ra giá trị thặng d. Vì thèm muốn lợi nhuận nên nhà t bản công nghiệp
luôn tìm cách tăng phần thời gian lao động thặng d nh tăng giờ làm, tăng
năng suất lao động (giảm thời gian lao động tất yếu). Thời gian lao động
thặng d càng nhiều thì càng thuộc về nhà t bản và sẽ thu đợc lợi nhuận càng
cao. Nh vậy, lợi nhuận công nghiệp là hình thái gần nhất, dễ thấy nhất với giá
trị thặng d và lợi nhuận công nghiệp là động lực mạnh mẽ nhất để phát triển
sản xuất.
2. Lợi nhuận thơng nghiệp:
Trong lu thông, trao đổi không tạo ra giá trị nhng nhà t bản thơng
nghiệp làm nhiệm vụ lu thông hàng hoá, làm cho hàng hoá đợc bán đi nhanh
hơn. T bản thơng nghiệp thực hiện khâu tiêu thụ cho t bản công nghiệp. Vì
thế, họ phải thu đợc một phần lợi nhuận mà nhà t bản thơng nghiệp chiếm đ-
11
ợc. Về thực chất, lợi nhuận thơng nghiệp là một phần giá trị thặng d đợc sáng
tạo ra trong lĩnh vực sản xuất mà nhà t bản công nghiệp nhờng cho nhà t bản
thơng nghiệp. Sở dĩ nhà t bản công nghiệp thờng cho nhà t bản thơng nghiệp
một phần giá trị thặng d trong lúc họ luôn khao khát, thèm muốn nó là bởi
vì: Nhà t bản thơng nghiệp rất am hiểu thị trờng, khách hàng do đó giúp cho
hàng hoá bán đi nhanh hơn, tốc độ chu chuyển nhanh hơn nên nhà t bản công
nghiệp rảnh tay để sản xuất. Do đó vai trò quan trọng nh vậy, nhà t bản công
nghiệp phải nhờng một phần giá trị thặng d cho nhà t bản thơng nghiệp. Lợi
nhuận thơng nghiệp là sự chênh lệch giữa giá bán và giá mua hàng hoá. Điều
đó không có nghĩa là nhà t bản thơng nghiệp bán giá cao hơn giá trị mà là họ
mua hàng hoá thấp hơn giá trị và khi bán thì bán đúng giá trị.
3. Lợi tức cho vay:
Nhà t bản muốn hoạt động nhng bản thân họ không đủ vốn hoặc
không có vốn nên họ phải đi vay để làm vốn đem vào sản xuất. Một số nhà t
bản có tiền nhng cha đến chu kỳ sử dụng hoặc cha sử dụng nên họ cho vay
và nhận đợc một khoản tiền ứng với số tiền cho vay từ tay nhà t bản đi vay,
gọi là lợi tức. Lợi tức cho vay là một phần lợi nhuận bình quân mà nhà t bản
đi vay phải trả cho nhà t bản cho vay ứng với mons tiền mà nhà t bản cho vay
đã đa cho nhà t bản đi vay, lợi tức cao hay thấp còn tuỳ thuộc vào nhiều yếu
tố nh sự cấp thiết, hoàn cảnh lịch sử, sự thảo thuận giữa các nhà t bản đối
với t bản thì tiền không thể chết trong két sắt mà nó đẻ ra liên tục.
4. Lợi nhuận ngân hàng:
Ngân hàng là cơ quan kinh doanh tiền tệ, làm môi giới giữa ngời đi
vay và ngời cho vay. Tuy nhiên, t bản ngân hàng khác t bản cho vay ở chỗ: t
bản ngân hàng là t bản hoạt động, ngoài nguồn vốn nhàn rỗi còn có các
chứng khoán Ngân hàng tham gia vào sản xuất với t bản và cả hai bên chi
phí liên quan đến nhau cùng chia lợi nhuận. Lợi nhuận ngân hàng là phần
lợi nhuận thu đợc ứng với số tiền mà ngân hàng chung vốn với nhà t bản
tham gia sản xuất. Ngân hàng có vai trò đặc biệt quan trọng đối với nhà
sản xuất. Một đất nớc có phát triển thì hệ thống ngân hàng phải phát triển
bởi vì vai trò của ngân hàng trong cơ chế thị trờng là yếu tố đặc biệt quan
trọng.
5. Địa tô:
T bản không chỉ hình thành và thống trị trong lĩnh vực công nghiệp mà
còn mở rộng cả trong nông nghiệp. Địa chủ có nhiều ruộgn đất còn nhà t bản
cần ruộng để kinh doanh. Nhà t bản kinh doanh ruộgn đất phải thu thêm một
12
phần giá trị thặng d dôi ra ngoài lợi nhuận bình quân, tức là lợi nhuận siêu
ngạch. Lợi nhuận siêu ngạy này tơng đối ổn định và lâu dài và nhà t bản phải
trả cho chủ ruộng đất dới hình thái địa tô TBCN. Nh vậy, địa tô TBCN là một
phần giá trị thặng d còn lại sau khi đã khấu trừ đi một phần lợi nhuận bình
quân của nhà t bản kinh doanh ruộng đất.
Phần ii
Vai trò đối với sự phát triển kinh tế
của Việt Nam
i. vai trò của lợi nhuận đối với sự phát triển kinh tế của
Việt Nam :
1. Lợi nhuận là động lực đối với sự phát triển kinh tế của
Việt Nam:
Con ngời bao giờ cũng đứng ở vị trí trung tâm, là nhân tố hàng đầu
và quyết định đối với sự phát triển kinh tế - xã hội. Đã là con ngời thì
nhu cầu và hành động của họ trớc hết là nhằm thoả mãn các nhu cầu của
mình. Vì vậy, động lực của sự phát triển là nhu cầu của mỗi thành viên
trong xã hội.
Xét về mặt kinh tế, động lực chính là nhu cầu vật chất, lợi ích vật chất
của con ngời, trong đó quyền sở hữu và quyền hởng thụ là những khía cạnh
khác nhau của lợi ích.
Khi đã thừa nhận đặt con ngời vào vị trí trung tâm thì vấn đề cốt lõi là
phải đảm bảo lợi ích cá nhân, thoả mãn các nhu cầu chính đáng và ngày càng
tăng của mỗi cá nhân, coi đó là động lực trực tiếp thúc đẩy sự phát triển của
nền kinh tế nói chung.
Trong nền kinh tế thị trờng, cái mà nhà sản xuất kinh doanh quan tâm
trớc hết là lợi nhuận và hiệu quả sản xuất kinh doanh đợc thể hiện chủ yếu ở
lợi nhuận nhiều hay ít. Lợi nhuận là nhân tố chênh lệch giữa doanh thu bán
hàng với phí tổn sản xuất.
Trong lịch sử có nhiều nhà kinh tế quan niệm rằng lợi nhuận chính là
sự trả công cho những ai dám "mạo hiểm" vay vốn đầu t vào sản xuất kinh
doanh và dám chấp nhận rủi ro, thậm chí phá sản. Để đạt đợc lợi nhuận tất
yếu các nhà sản xuất kinh doanh phải cạnh tranh mạnh mẽ với nhau, tìm mọi
cách giảm chi phí để thu lợi nhuận cao nhất. Nh vậy, trong nền kinh tế thị tr-
ờng, lợi nhuận là động lực chi phối hoạt động của ngời sản xuất kinh doanh.
a. Lợi nhuận phân bổ các nguồn lực của xã hội vào đúng nơi, đúng
lúc:
13
Doanh nghiệp là đơn vị kinh doanh hàng hoá, dịch vụ theo nhu cầu thị
trờng và xã hội để đạt lợi nhuận tối đa, đạt hiệu quả kinh tế và xã hội cao
nhất. Trong cơ chế thị trờng, doanh nghiệp luôn bị thị trờng thẩm phán về lợi
nhuận. Nếu doanh nghiệp làm ăn có lãi thì một phần lợi nhuận thu đợc sẽ đi
vào tích luỹ để doanh nghiệp tiếp tục tái sản xuất mở rộng. Lợi nhuận doanh
nghiệp thu đợc trên thị trờng sẽ trả lời câu hỏi: có nên tiếp tục sản xuất hay
không? Sản xuất cái gì? Đổi mới cái gì? Không còn nữa và sẽ không còn
một doanh nghiệp kinh doanh vẫn tiếp tục sản xuất khi mặt hàng đó không
thu đợc lợi nhuận. Nh vậy lợi nhuận sẽ điều hớng các yếu tố sản xuất nhằm
phân bổ sản xuất hàng ngàn mặt hàng khác nhau cho phù hợp với nhu cầu.
Không một bộ máy thứ hai nào, dù tài giỏi đến đâu có thể giải quyết tốt đẹp
vấn đề này. Cơ chế giá cả và lợi nhuận tự do sẽ tối đa hoá sản xuất và làm
giảm tình hình khan hiếm nhanh chóng hơn bất cứ một cơ chế nào.
b. Lợi nhuận là nhân tố quyết định sự phát triển của lực lợng
sản xuất:
Doanh nghiệp cũng nh các nhà kinh tế phải cố gắng hết sức để đạt đợc
lợi nhuận tối đa. Họ phải làm gì? phải lựa chọn cái nào? sản xuất ra sao?
đó là một vấn đề rất khó trả lời một cách cụ thể nhng chắc chắn rằng nếu sản
xuất không có lãi doanh nghiệp sẽ bị loại khỏi thị trờng. Trên thơng trờng,
các doanh nghiệp luôn luôn phải tiến lên nếu dừng lại đồng nghĩa với nguy
cơ phá sản đang tiến đến. Vì vậy, các ông chủ làm mọi cách để doanh nghiệp
ngày càng mở rộng, phải làm cho lợi nhuận đẻ ra lợi nhuận thì mới có điều
kiện phát triển trong môi trờng gay go quyết định lợi nhuận đòi hỏi các
doanh nghiệp phải tìm ra phơng pháp sản xuất tối u nhất, giảm tối thiểu mức
chi phí sản xuất, tăng năng suất lao động để giảm giá thành sản phẩm, giành
thắng lợi trong cạnh tranh, thu đợc nhiều lợi nhuận. Do vậy, khoa học và
công nghệ mới tiên tiến đợc ứng dụng ngày càng nhiều. Đây chính là nhân tố
quyết định sự phát triển của lực lợng sản xuất xã hội.
c. Lợi nhuận góp phần nâng cao mức sống cho nhân dân.
Trong nền kinh tế thị trờng, các nhà sản xuất kinh doanh ngoài phần
thu nhập là tiền lơng, còn khoản thu nhập khác, đó là lợi nhuận và phần ngày
ngày càng tăng lên, chiếm u thế trong tổng thu nhập. Tổng thu nhập là mỗi
ngời lao động nói chung, mỗi nhà sản xuất kinh doanh nói riêng có đợc vừa
phản ánh kết quả lao động của mỗi ngời, vừa phản ánh kết quả lao động của
tập thể với t cách là một chỉnh thể. Để thúc đẩy tăng trởng và phát triển kinh
tế cần phải phát huy tối đa sức sáng tạo của các nhà sản xuất kinh doanh giỏi
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét