Thứ Năm, 3 tháng 4, 2014

Thực trạng thu - chi quỹ BHXH tại phòng BHXH huyện Giao Thuỷ (Nam Định)


LINK DOWNLOAD MIỄN PHÍ TÀI LIỆU "Thực trạng thu - chi quỹ BHXH tại phòng BHXH huyện Giao Thuỷ (Nam Định)": http://123doc.vn/document/546180-thuc-trang-thu-chi-quy-bhxh-tai-phong-bhxh-huyen-giao-thuy-nam-dinh.htm


1.1) Đối với ngời lao động
Trong giai đoạn hiện nay khi đất nớc đang ngày càng hoàn thiện quá
trình công nghiệp hoá- hiện đại hoá thì những "rủi ro" nh ốm đau, tai nạn lao
động- bệnh nghề nghiệp, thai sản, mất việc làm lại diễn ra một cách th ờng
xuyên và ngày càng phổ biến hơn, phức tạp hơn. Khi những rủi ro này xảy ra
sẽ gây khó khăn cho ngời lao động vế cả vật chất lẫn tinh thần, ảnh hởng
không tốt cho cả cộng đồng.
Với t cách là một trong những chính sách kinh tế xã hội của Nhà nớc,
BHXH sẽ góp phần trợ giúp cho cá nhân những ngời lao động gặp phải rủi
ro, bất hạnh bằng cách tạo ra cho họ những thu nhập thay thế, những điều
kiện lao động thuận lợi giúp họ ổn định cuộc sống, yên tâm công tác, tạo
cho họ một niềm tin vào tơng lai. Từ đó góp phần quan trọng vào việc tăng
năng suất lao động cũng nh chất lợng công việc cho xí nghiệp nói riêng và
cho toàn xã hội nó chung.
1.2) Đối với ngời sử dụng lao động
Để có đợc sản phẩm phục vụ cho cuộc sống của con ngời và sự phát
triển của xã hội thì cần phải có ngời tạo ra sản phẩm và nhờ vào quá trình
lao động sản xuất để tạo ra sản phẩm cần thiết cho con ngời, cho xã hội.
Những ngời biết vận dụng sức lao động để sản xuất ra sản phẩm, đó chính là
những ngời chủ sử dụng lao động. Muốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh
đợc đảm bảo thì ngời chủ phải tạo đợc mối quan hệ tốt với ngời lao động,
giải quyết những vấn đề thuộc phạm vi trách nhiệm của mình đối với ngời
lao động thật tốt để họ yên tâm lao động sản xuất và có niềm tin vào cuộc
sống từ đó họ lao động sản xuất hăng hái hơn, tạo ra nhiều sản phẩm tốt hơn
làm cho quá trình sản xuát kinh doanh của ngời chủ sử dụng lao động hoạt
động đạt kết quả cao. Muốn vậy ngời chủ sử dụng lao động phải tham gia
đóng BHXH cho những ngời lao động của mình để có thể đảm bảo những
khoản chi trả cần thiết, kịp thời đến ngời lao động khi họ gặp những rủi ro
5
bất chắc. Việc tham gia đóng góp BHXH cho ngời lao động của ngời chủ sử
dụng lao động là góp vào quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp ngày càng phát triển hơn, nâng cao năng suất, hiệu quả lao động sản
xuất của doanh nghiệp cũng nh nâng cao thu nhập cho ngời lao động và góp
vào việc phát triển nền kinh tế của đất nớc.
1.3) Đối với xã hội
Thứ nhất, cần phải khẳng định rằng hoạt động BHXH là một hoạt động
dịch vụ, cơ quan BHXH là một doanh nghiệp sản xuất ra những dịch vụ
bảo hiểm cho ngời lao động, một loại dịch vụ mà bất cứ ai cũng cần đến
(không phải chỉ cán bộ, công nhân viên chức mới cần). Nếu các doanh
nghiệp này càng sản xuất ra nhiều loại bảo hiểm (đáp ứng đa dạng các nhu
cầu) thì giá trị của những sản phẩm dịch vụ này cũng đợc tính trực tiếp vào
tổng sản phẩm xã hội.
Thứ hai, với t cách là một trong những chính sách kinh tế xã hội của
Nhà nớc, BHXH sẽ bảo hiểm cho ngời lao động, hoạt động BHXH sẽ giải
quyết những trục trặc, rủi ro xảy ra đối với những ngời lao động, góp
phần tích cực của mình vào việc phục hồi năng lực làm việc, khả năng sáng
tạo của sức lao động. Sự góp phần này tác động trực tiếp đến việc nâng cao
năng suất lao động cá nhân, đồng thời góp phần tích cực của mình vào việc
nâng cao năng suất lao động xã hội. Với sự trợ giúp của ngời lao động khi
gặp phải rủi ro bằng cách tạo ra thu nhập thay thế thì BHXH đã gián tiếp tác
động đến chính sách tiêu dùng quốc gia làm tăng sự tiêu dùng cho xã hội.
Thứ ba, với t cách là một quỹ tiền tệ tập trung, BHXH tác động mạnh
mẽ tới hệ thống tài chính ngân sách Nhà nớc, tới hệ thống tín dụng tiền tệ
ngân hàng. Chính vì vậy, đặt ra một yêu cầu cho quỹ BHXH phải tự bảo tồn
và phát triển quỹ bằng nhiều hình thức khác nhau, trong đó có hình thức đầu
t phát triển phần nhàn rỗi của quỹ. Phần này có tác động không nhỏ tới sự
phát triển đất nớc, góp phần tạo ra những cơ sở sản xuất kinh doanh mới, việc
6
làm mới góp phần quan trọng trong việc tạo ra việc làm cho ngời lao đông.
Từ đó góp phần giải quyết tình trạng thất nghiệp của đất nớc, góp phần tăng
thu nhập cá nhân cho ngời lao động nói riêng và tăng tổng sản phẩm quốc
nội cũng nh tổng sản phẩm quốc dân nói chung.
Thứ t, BHXH góp phần vào việc thực hiện công bằng xã hội, là công cụ
phân phối lại thu nhập giữa những nguời tham gia BHXH. Sự phân phối lại
thu nhập này đợc tiến hành thông qua hai cách: Phân phối lại theo chiều
ngang giữa ngời khoẻ và ngời già, ngời đang làm việc với ngời đã nghỉ hu,
ngời trẻ tuổi với ngời lớn tuổi, giữa nam với nữ, ngời đang hởng trợ cấp với
ngời cha hởng trợ cấp; phân phối lại theo chiều ngang là mục tiêu quan trọng
của chính sách kinh tế xã hội, giữa những ngời có thu nhập cao và ngời có
thu nhập thấp. BHXH không bao hàm ý phân phối bình quân, cũng không
hàm ý lấy của ngời giàu chia cho ngời nghèo một cách võ đoán. ý tởng của
BHXH nhiễu điều phủ lấy giá gơng, là đoàn kết tơng trợ, phát huy tính tự
thân, sống hoà nhập có tình có nghĩa giữa các nhóm, các giới bạn trong cùng
cộng đồng với nhau mà vốn là tiềm lực của dân tộc ta đã đợc lịch sử chứng
minh.

2 Những nguyên tắc của BHXH
2.1) Mọi ngòi lao động trong mọi trờng hợp bị giảm hoặc mất khả năng
lao động hoặc mất việc làm đều có quyền đợc BHXH .
Quyền đựơc BHXH của ngời lao động là một trong những biểu hiện cụ
thể của quyền con ngời. Nhng khi muốn xây dựng hệ thống BHXH thì đầu
tiên Nhà nớc phải tạo điều kiện và môi trờng kinh tế xã hội, về chính sách và
luật pháp, về tổ chức và cơ chế quản lý cần thiết. Đồng thời, những ngời sử
dụng lao động và ngời lao động phải thực hiện trách nhiệm đóng góp tài
chính của mình. Không phải là cái có sẵn nên trớc hết phải tìm cách tạo ra
7
nó. ở mỗi nớc không có sự đóng góp này thì chính sách BHXH có hay đến
mấy cũng không bao giờ có BHXH trong thực tiễn. Vì vậy, thực hiện trách
nhiệm đóng góp tài chính BHXH là điều kiện cơ bản nhất để ngời lao động
đợc hởng quyền BHXH.
2.2) Nhà nớc và ngời sử dụng lao động có trách nhiệm phải BHXH đối với
ngời lao động, ngời lao động cũng phải tự bảo hiểm cho mình.
Đây là mối quan hệ ba bên trong nền kinh tế thị trờng, trong đó Nhà nớc
có vai trò quản lý vĩ mô mọi hoạt động kinh tế xã hội trên phạm vi cả nớc.
Với vai trò này Nhà nớc có trong tay mọi điều kiện vật chất của toàn xã hội,
đồng thời cũng có mọi công cụ cần thiết để thực hiện vai trò của mình. Cùng
với sự tăng trởng sự phát triển kinh tế xã hội, cũng có những kết quả bất lợi
không mong muốn. Những kết quả bất lợi này trực tiếp hoặc gián tiếp sẽ dẫn
đến những rủi ro cho ngời lao động. Khi xảy ra tình trạng nh vậy nếu không
có BHXH thì Nhà nớc vẫn phải chi Ngân sách để giúp đỡ ngời lao động dới
một dạng khác. Sự giúp đỡ đó chẳng những làm cho đời sống ngời lao động
ổn định mà còn làm cho sản xuất kinh tế xã hội của đất nớc ổn định. Vì vậy,
khi trong xã hội loài ngời xuất hiện BHXH một dạng đảm bảo đời sống
tiến bộ hơn đối với ngời lao động- so với các dạng giúp đỡ truyền thống thì
Nhà nớc càng có điều kiện và càng có trách nhiệm tổ chức và tham gia dạng
hoạt động đó.
Đối với ngời sử dụng lao động, mọi khía cạnh đặt ra cũng tơng tự nh
trên nhng chỉ trong phạm vi một số doanh nghiệp. ở đó giữa ngời lao động
và ngời sử dụng lao động có mối quan hệ rất chặt chẽ. Ngời sử dụng lao động
muốn ổn định và sản xuất kinh doanh thì ngoài việc chăm lo đầu t để có máy
móc thiết bị hịên đại, công nghệ tiên tiến còn phải chăm lo tay nghề và đời
sống của ngời lao động mà mình sử dụng. Khi ngời lao động làm việc bình
thờng thì phải trả lơng (trả công) thoả đáng cho ngời lao động. Khi họ gặp rủi
ro, ốm đau, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp trong đó có rất nhiều trờng
8
hợp gắn với quá trình lao động, với những điều kiện lao động cụ thể của
doanh nghiệp thì phải có trách nhiệm BHXH cho họ. Chỉ có nh vậy ngời lao
động mới yên tâm tích cực lao động sản xuất góp phần tăng năng suất lao
động, tăng hiệu quả kinh tế cho doanh nghiệp.
Đối với ngời lao động khi gặp những rủi ro không muốn và không phải
hoàn toàn hay trực tiếp do lỗi của ngời khác thì trớc hết đó là rủi ro của bản
thân. Vì thế, nếu muốn đợc BHXH tức là muốn nhiều ngời khác hỗ trợ cho
mình, là dàn trải rủi ro của mình cho nhiều ngời khác thì tự mình phải gánh
chịu trực tiếp và trớc hết đã Điều đó có nghĩa là bản thân ngời lao động phải
có trách nhiệm tham gia BHXH để tự bảo hiểm cho mình.
2.3) BHXH phải dựa trên sự đóng góp của các bên tham gia để hình
thành lên quỹ BHXH
ở nguyên tắc trên đã thấy rõ tính khách quan của trách nhiệm phải
tham gia BHXH đối với ngời lao động của cả ba bên (Nhà nớc, ngời sử dụng
lao động và ngời lao động) trong nền kinh tế thị trờng. Biểu hiện cụ thể của
trách nhiệm này là đóng phí BHXH đầu kỳ. Nhờ sự đóng góp đó mà phơng
thức riêng có của BHXH là dàn trải rủi ro theo nhiều chiều, tạo điều kiện để
phân phối thu nhập theo cả chiều dọc và chiều ngang mới đợc thực hiện. Hơn
nữa nó còn tạo ra mối quan hệ ràng buộc chặt chẽ giữa trách nhiệm với
quyền lợi góp phần phòng chống những hiện tợng nhiễu trong hệ thống hoạt
động mang lại nhiều lợi ích cho mọi ngời có liên quan này.
2.4) Phải tuân theo quy luật số lớn
BHXH là một trong các nguyên tắc, các cơ chế an toàn xã hội, trớc hết
là sự trợ giúp cho ngời lao động trong các trờng hợp bị giảm hoặc bị mất thu
nhập tạm thời khi họ bị ốm đau, thai sản hoặc hết tuổi lao động theo quy
định của pháp luật. Trong cả cuộc đời của ngời lao động thờng thì thời gian
lao động dài hơn thời gian ngời lao động bị tạm thời mất khả năng lao động
hoặc thời gian từ khi hết tuổi lao động đến lúc chết. Vả lại tất cả những ngời
9
tham gia BHXH cùng một lúc có nhu cầu bảo hiểm, vì vậy nguyên tắc trớc
hết của BHXH là lấy số đông bù số ít, lấy quãng đời lao động có thu nhập để
bảo hiểm cho khi giảm hoặc mất khả năng lao động.
2.5) Kết hợp giữa các loại lợi ích, các khả năng và phơng thức đáp ứng
nhu cầu BHXH
Trong BHXH cả ba bên tham gia: Ngời sử dụng lao động, ngời lao động
và Nhà nớc đều nhận đợc nhiều lợi ích. Nhng lợi ích nhận đợc không phải
luôn luôn nh nhau, thống nhất với nhau mà trái lại có lợi ích có lúc lại mâu
thuẫn với nhau. Chẳng hạn việc tăng mức trợ cấp hoặc tăng thời hạn nghỉ làm
việc và hởng trợ cấp BHXH sẽ rất có lợi cho ngời lao động nhng lại gây khó
khăn cho ngời chủ sử dụng lao động, nếu giảm hậu quả bất lợi cho ngời sử
dụng lao động thì Nhà nớc lại phải gánh chịu.
2.6) Mức trợ cấp BHXH phải đảm bảo thấp hơn tiền lơng khi đang đi làm,
nhng cũng phải lớn hơn mức lơng tối thiểu
Trợ cấp BHXH nói ở đây là loại trợ cấp thay thế cho tiền lơng nh trợ cấp
ốm đau, thai sản, hu trí tuổi già chứ không phải là trợ cấp bù đắp hoặc trợ cấp
BHXH. Nh đã biết, tiền lơng là khoản tiền mà ngời sử dụng lao động trả cho
ngời lao động khi họ thực hiện công việc nhất định. Nghĩa là, chỉ ngời lao
động có sức khoẻ bình thờng, có việc làm bình thờng và thực hiện công việc
nhất định mới có tiền lơng. Khi đã bị ốm đau, tai nạn hay tuổi già không thực
hiện đợc công việc nhất định hoặc không việc làm mà trớc đó có tham gia
BHXH thì chỉ có trợ cấp BHXH và trợ cấp đó không thể bằng tiền lơng tạo ra
đợc. Còn nếu cố tìm cách trả trợ cấp BHXH bằng hoặc cao hơn tiền lơng thì
không một ngời lao động nào phải cố gắng có việc làm và tích cực làm việc
để có lơng mà ngợc lại họ sẽ cố gắng ốm đau, thai sản để hởng trợ cấp. Hơn
nữa cách lập quỹ, phơng thức dàn trải rủi ro của BHXH cũng không cho phép
trả trợ cấp BHXH bằng tiền lơng lúc đang đi làm. Vì trả trợ cấp bằng tiền l-
10
ơng thì chẳng khác gì bị rủi ro đem rủi ro của mình dàn trải hết cho những
ngời khác.
Nh vậy, mức trợ cấp BHXH phải thấp hơn mức tiền lơng lúc đang đi
làm. Tuy nhiên do mục đích, bản chất và cách làm của BHXH thì mức trợ
cấp thấp nhất cũng không thể thấp hơn mức sống tối thiểu hàng ngày. Chỉ khi
đó BHXH mới có tính nhân văn cao cả.
2.7) Kết hợp giữa BHXH bắt buộc với BHXH tự nguyện
Bảo hiểm xã hội áp dụng hình thức bắt buộc để đảm bảo quy luật số lớn
và số có hệ số an toàn cao nhằm đảm bảo cuộc sống của ngời lao động. Tuy
nhiên, có những trờng hợp, ngời lao động muốn hởng trợ cấp hu trí ở mức
cao hơn mức đợc hởng dới hình thức bắt buộc, hoặc khi cân nhắc thấy họ
đóng thêm vào BHXH cũng là một hình thức gửi tiền tiết kiệm, và có khi
còn lợi hơn gửi vào ngân hàng, thì họ sẽ có nhu cầu đóng phí BHXH nhiều
hơn mức quy định. Chính vì vậy, khi đáp ứng nhu cầu đó cũng thực hiện đợc
đảm bảo tốt hơn cuộc sống cho ngời lao động đồng thời quy luật số lớn vẫn
đợc tôn trọng.
2.8) Phải đảm bảo tính thống nhất BHXH trên phạm vi cả nớc, đồng thời
phải phát huy tính đa dạng, năng động của các bộ phận cấu thành
Hệ thống BHXH của một nớc thờng gồm nhiều bộ phận cấu thành.
Trong đó bộ phận lớn nhất do Nhà nớc tổ chức và bảo hộ đặc biệt bao trùm
toàn bộ những ngời hởng lơng từ Ngân sách Nhà nớc và những ngời lao động
thuộc những khu vực kinh tế quan trọng của đất nớc. Các bộ phận nhỏ hơn do
các đơn vị kinh tế và t nhân tổ chức ra để bảo hiểm cho một số đối tợng hạn
chế do pháp luật quy định. Trong bộ phận do Nhà nớc tổ chức còn có thể có
một số bộ phận BHXH chuyên ngành nh: BHXH đối với công chức, BHXH
đối với quân nhân hởng lơng và một số bộ phận BHXH theo ngành kinh tế có
tính chất đặc thù (đờng sắt, khai thác mỏ ). Các bộ phận BHXH đựơc tổ
chức nh thế nào, nhiều hay ít là do đi ều kiện kinh tế, chính trị, xã hội và do
11
Nhà nớc quy định. ở nớc ta do những diều kiện kinh tế xã hội cha cho phép
các tổ chức và cá nhân thực hiện BHXH mà chỉ có BHXH của Nhà nớc.
Để BHXH hoạt động có hiệu quả nhất thiết phải bảo đảm tính thống
nhất trên những vấn đề lớn hoặc cơ bản nhất để tránh tuỳ tiện, tính cục bộ
hoặc những mâu thuẫn nảy sinh. Đồng thời cũng phải có cơ chế để mỗi bộ
phận cấu thành có thể năng động trong hoạt động để chúng có thể bù đắp, bổ
xung những u điểm cho nhau.
2.9) BHXH phải đợc phát triển dần từng bớc phù hợp với các điều kiện
kinh tế xã hội của đất nớc trong từng giai đoạn phát triển cụ thể
BHXH của một nớc gắn rất chặt với trạng thái kinh tế, với các điều kiện
kinh tế xã hội, với cơ chế và trình độ quản lý đặc biệt là với sự điều chỉnh, sự
đồng bộ của nền pháp chế của nớc đó. Trong tình hình nớc ta, kinh tế thị tr-
ờng theo định hớng XHCN đang hình thành, nhiều mặt kinh tế xã hội đang
chuyển động mạnh. Vì vậy, việc xây dựng và phát triển BHXH phải bảo đảm
chắc chắn, tính toán thận trọng và có bớc đi phù hợp.
III. quỹ BHXH
1 Vai trò của quỹ BHXH
Trong đời sống kinh tế xã hội, có rất nhiều loại quỹ khác nhau nh: quỹ
tiêu dùng, quỹ sản xuất, quỹ dự phòng, quỹ tiền lơng, quỹ tiền thởng, quỹ
phúc lợi, quỹ tiết kiệm Tất cả các loại quỹ này đều có một điểm chung là
tập hợp các phơng tiện tài chính cho những hoạt động nào đó theo mục tiêu
định trớc. Quỹ lớn hay quỹ nhỏ biểu thị khả năng về mặt phơng tiện và vật
chất để thực hiện công việc cần làm.
Tất cả các quỹ đều không chỉ tồn tại với một khối lợng tĩnh tại một thời
điểm mà luôn biến động tăng lên ở đầu vào với các nguồn thu và giảm đi ở
đầu ra với các khoản chi nh một dòng chảy liên tục. Để đảm bảo cho đầu ra
ổn định, ngời ta thiết lập một lợng dự trữ. Bởi vậy, để nắm và điều hành đợc
12
một quỹ nào đó thì không phải chỉ nắm đợc khối lợng của nó tại một thời
điểm nhất định, mà quan trọng hơn là phải nắm đợc lu lợng của nó trong một
khoảng thời gian nhất định.
Theo những quan niệm về quỹ nói chung nh trên, thì quỹ BHXH là tập
hợp những đóng góp bằng tiền của những ngời tham gia BHXH hình thành
một quỹ tài chính độc lập, tập trung nằm ngoài Ngân sách Nhà nớc để chi trả
cho những ngời đợc BHXH và gia đình họ khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập
do bị giảm hoặc mất khả năng lao động, mất việc làm.
Nh vậy, quỹ BHXH là một quỹ tiêu dùng đồng thời là một quỹ dự
phòng, nó vừa mang tính kinh tế, vừa mang tính xã hội rất cao và là điều kiện
hay cơ sở vật chất quan trọng đảm bảo cho toàn bộ hệ thống BHXH tồn tại và
phát triển.
Quỹ BHXH hình thành và hoạt động đã tạo ra khả năng giải quyết
những rủi ro của tất cả những ngời tham gia với tổng dự trữ ít nhất, giúp cho
việc dàn trải rủi ro đợc thực hiện theo cả hai chiều không gian và thời gian,
đồng thời giúp giảm tối thiểu thiệt hại kinh tế cho ngời sử dụng lao động, tiết
kiệm chi cho cả ngân sách Nhà nớc và ngân sách gia đình.
2 Nguồn quỹ BHXH
Quỹ BHXH tập trung những đóng góp bằng tiền của những ngời tham
gia BHXH hình thành một quỹ tiền tệ tập trung để chi trả cho những ngời đ-
ợc hởng BHXH và gia đình họ khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do bị giảm,
mất khả năng lao động hoặc mất việc làm.
Nh vậy quỹ BHXH là một quỹ tiêu dùng, đồng thời là một quỹ dự
phòng; nó vừa mang tính kinh tế vừa mang tính xã hội rất cao và là điều kiện
hay cơ sở vật chất quan trọng nhất đảm bảo cho toàn bộ hệ thống BHXH tồn
tại và phát triển.
13
Quỹ BHXH hình thành và hoạt động đã tạo khả năng giải quyết những
rủi ro của tất cả những ngời tham gia với tổng dự trữ ít nhất, giúp cho việc
giàn trải rủi ro đợc thực hiện theo cả hai chiều không gian và thời gian, đồng
thời giúp giảm thiểu thiệt hại kinh tế cho ngời sử dụng lao động, tiết kiệm chi
cho cả Ngân sách nhà nớcvà ngân sách gia đình.
Quỹ đợc hình thành từ nhiều nguồn khác nhau:
- Thứ nhất, đó là phần đóng góp của ngời sử dụng lao động, ngời lao động và
Nhà nớc, đây là nguồn chiếm tỉ trọng lớn nhất và cơ bản của quỹ.
- Thứ hai, là phần tăng thêm do bộ phận nhàn rỗi tơng đối của quỹ đợc tổ
chức BHXH chuyên trách đa vào hoạt động sinh lời.
- Thứ ba, là phần nộp phạt của những cá nhân và tổ chức kinh tế vi phạm luật
lệ về BHXH. Phần lớn các nớc trên thế giới, quỹ BHXH đều đợc hình thành
từ các nguồn nêu trên. Tuy nhiên phơng thức đóng góp và mức đóng góp của
các bên tham gia có khác nhau.
2 - Mục đích sử dụng quỹ BHXH
Quỹ BHXH đợc sử dụng chủ yếu cho hai mực đich sau đây:
- Chi trả và trợ cấp cho các chế độ BHXH
- Chi phí cho sự nghiệp quản lý BHXH
Theo khuyến nghị của Tổ chức lao động quốc tế (ILO) quỹ BHXH đợc
sử dụng để trợ cấp cho các đối tợng tham gia BHXH, nhằm ổn định cuộc
sống cho bản thân và gia đình họ, khi đối tợng tham gia BHXH gặp rủi ro.
Thực chất là trợ cấp cho 9 chế độ mà tổ chức này đã nêu lên trong công ớc
102 tháng 6 năm 1952 tại Giơnevơ:
1. Chăm sóc y tế
2. Trợ cấp ốm đau
3. Trợ cấp thất nghiệp
4. Trợ cấp tuổi già
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét