Thứ Sáu, 18 tháng 4, 2014

tiếp tục hoàn thiện pháp luật về đầu tư trực tiếp nước ngoài theo hướng nhất thể hóa pháp luật về đầu tư tại việt nam


LINK DOWNLOAD MIỄN PHÍ TÀI LIỆU "tiếp tục hoàn thiện pháp luật về đầu tư trực tiếp nước ngoài theo hướng nhất thể hóa pháp luật về đầu tư tại việt nam": http://123doc.vn/document/1055518-tiep-tuc-hoan-thien-phap-luat-ve-dau-tu-truc-tiep-nuoc-ngoai-theo-huong-nhat-the-hoa-phap-luat-ve-dau-tu-tai-viet-nam.htm


- Từ việc nghiên cứu trên đây rút ra những đặc điểm đặc thù của pháp
luật về FDI của Việt Nam và chứng minh xu hướng xích lại gần nhau giữa
pháp luật về đầu tư nước ngoài và pháp luật về đầu tư trong nước ở Việt Nam
trong những năm qua;
- Xác lập cơ sở lý luận và đề xuất những kiến nghị cụ thể về việc tiếp
tục hoàn thiện pháp luật về FDI theo xu hướng nhất thể hóa pháp luật về đầu tư
trong mối quan hệ với các cơ chế chính sách có liên quan với biện pháp và bước
đi cụ thể, nhằm phúc đáp những đòi hỏi của thực tiễn cả về trước mắt và lâu
dài.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án
Đối tượng nghiên cứu của luận án là: 1) Hệ thống các văn bản pháp
luật thực định về đầu tư nước ngoài của Nhà nước ta trong mối liên hệ với
pháp luật thực định về đầu tư trong nước và các điều kiện về chính trị, kinh tế
xã hội của đất nước và thực tiễn quốc tế; 2) Thực tiễn công tác thi hành pháp
luật đầu tư nước ngoài và tình hình hợp tác đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Việt
Nam; 3) Pháp luật thực định về đầu tư nước ngoài của một số nước và những
điều ước quốc tế có liên quan.
Nội dung nghiên cứu mà luận án đề cập là rất rộng và phức tạp, liên
quan đến nhiều chuyên ngành như Lý luận Nhà nước và pháp luật, Luật Kinh
tế, Luật Hành chính, Tư pháp quốc tế, Kinh tế học Phạm vi nghiên cứu của
luận án này chỉ tập trung sâu vào một nội dung thuộc chuyên ngành Luật Kinh
tế, đó là vấn đề hoàn thiện pháp luật đầu tư trực tiếp nước ngoài theo xu hướng
nhất thể hoá pháp luật về đầu tư ở Việt Nam trong mối quan hệ giữa Nhà nước
với các chủ thể đầu tư để xác lập và bảo đảm thực hiện quyền và nghĩa vụ của
họ. Đối với một số nội dung cụ thể có liên quan đến các chuyên ngành khác,
luận án chỉ đề cập ở một mức độ nhất định, trong mối quan hệ cần thiết nhằm tạo
lập cơ sở lý luận có tính hệ thống cho việc thực hiện các nhiệm vụ nghiên cứu.
5
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý luận của luận án là: 1) Lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin về
nhà nước pháp luật; 2) Hệ thống các quan điểm chỉ đạo của Đảng và Nhà
nước ta trong sự nghiệp đổi mới. Đó là các quan điểm, chủ trương trong lĩnh
vực xây dựng nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị
trường có sự quản lý của Nhà nước, đặc biệt là các quan điểm "mở cửa" và
"kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại" trong hợp tác đầu tư với
nước ngoài, cũng như các quan điểm về xây dựng và hoàn thiện hệ thống
pháp luật trong cơ chế kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa;
Phương pháp nghiên cứu được sử dụng trong luận án là phương pháp
duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, nghiên cứu lý luận kết hợp với thực
tiễn. Luận án cũng sử dụng phương pháp luật học so sánh để phân tích và so
sánh tổng hợp một một số khía cạnh trong pháp luật về FDI của Việt Nam với
một số quy định cùng loại trong pháp luật của một số nước khu vực để từ đó
đưa ra các kiến nghị có sức thuyết phục về lý luận và thực tiễn trong việc vận
dụng kinh nghiệm nước ngoài vào việc hoàn thiện pháp luật về đầu tư của Việt
Nam.
6. Những đóng góp mới về khoa học của luận án
Luận án là công trình nghiên cứu đầu tiên thuộc chuyên ngành Luật
Kinh tế có nội dung về hoàn thiện pháp luật về FDI đặt trong sự tương tác của
cả hệ thống pháp luật để chứng minh xu hướng và nhu cầu nhất thể hóa pháp
luật về đầu tư ở Việt Nam; làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn của việc
nhất thể hóa pháp luật đầu tư ở Việt Nam.
Luận án xem xét các vấn đề pháp luật về FDI trong mối liên hệ biện
chứng giữa các yếu tố chính trị, kinh tế, xã hội, pháp luật Chính vì vậy, các
nhận định trong luận án chứa đựng những thể hiện mới về cách tiếp cận toàn
diện khi nghiên cứu vấn đề nhất thể hóa pháp luật về đầu tư.
6
Luận án phân tích, đánh giá một cách tương đối đầy đủ về những nhân
tố ảnh hưởng đến sự ra đời, phát triển và nội dung của pháp luật về FDI ở
Việt Nam; khái quát hóa về mặt lý luận các đặc điểm của pháp luật về FDI ở Việt
Nam.
Luận án thể hiện nội dung nghiên cứu về mặt lịch sử và thực tiễn các
quy phạm pháp luật về đầu tư, qua đó chứng minh tính độc lập tương đối của
pháp luật về FDI, xu hướng vận động, xích lại gần nhau giữa đầu tư trong
nước và đầu tư nước ngoài; khẳng định nhu cầu tất yếu của việc nhất thể hóa
pháp luật đầu tư ở Việt Nam.
Từ những kết quả nghiên cứu trên đây, luận án xác lập cơ sở lý luận
và thực tiễn cùng những kiến nghị cụ thể cho việc tiếp tục hoàn thiện pháp
luật về FDI nói riêng theo xu hướng nhất thể hóa pháp luật về đầu tư nước
ngoài với pháp luật về đầu tư trong nước, xây dựng mặt bằng pháp luật chung
cho các hoạt động đầu tư ở Việt Nam.
Luận án có ý nghĩa quan trọng, góp phần làm sáng tỏ về mặt lý luận
và thực tiễn của sự hình thành, quá trình vận động và không ngừng hoàn thiện
của pháp luật về FDI; làm rõ cơ sở lý luận và chứng minh xu hướng nhất thể
pháp luật về đầu tư, đồng thời xác định những nguyên tắc và giải pháp mang
tính chất định hướng cho việc tiếp tục thực hiện quá trình nhất thể hóa này.
Luận án có thể dùng làm tài liệu tham khảo trong việc nghiên cứu hệ thống
pháp luật thực định về đầu tư nước ngoài, trong công tác xây dựng pháp luật,
trong quản lý hoạt động đầu tư nước ngoài hay trong công tác giảng dạy các
môn khoa học pháp lý như Luật kinh tế, Lý luận nhà nước và pháp luật, Luật
so sánh
7. Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận án
gồm 3 chương, 10 mục.
7
Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI
VÀ PHÁP LUẬT VỀ ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI
1.1. KHÁI NIỆM VỀ ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI
1.1.1. Khái niệm đầu tư trực tiếp nước ngoài
Cùng với việc mở rộng và đa dạng hóa các quan hệ hợp tác kinh tế
quốc tế, hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài đã trở thành một bộ phận quan
trọng trong toàn bộ chính sách kinh tế đối ngoại của Nhà nước ta. Trong những
năm vừa qua, kể từ khi Luật Đầu tư nước ngoài được ra đời và thực hiện, đầu
tư trực tiếp nước ngoài ngày càng được thừa nhận như là một giải pháp quan
trọng góp phần thúc đẩy sự phát triển nội sinh của nền kinh tế đất nước.
Về mặt kinh tế, FDI là một hình thức đầu tư quốc tế được đặc trưng
bởi quá trình di chuyển tư bản từ nước này sang nước khác. Mặc dù còn nhiều
khác biệt về quan niệm nhưng nhìn chung ở các nước thì FDI được hiểu như
là một hoạt động kinh doanh mà ở đó có sự tách biệt ở tầm vĩ mô về mặt chủ
thể nhưng lại có sự kết hợp ở tầm vi mô trong việc sử dụng vốn và quản lý đối
tượng đầu tư. Theo Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF), đầu tư trực tiếp nước ngoài
được định nghĩa là: "Một khoản đầu tư với những quan hệ lâu dài, theo đó,
một tổ chức trong một nền kinh tế (nhà đầu tư trực tiếp) muốn kinh doanh với
một tổ chức trong một nền kinh tế khác. Mục đích của nhà đầu tư trực tiếp là
muốn có nhiều ảnh hưởng trong việc quản lý doanh nghiệp đặt tại nền kinh tế
khác đó" [105]. Như vậy, FDI bao giờ cũng là một dạng quan hệ kinh tế có
nhân tố nước ngoài (chủ đầu tư, vốn đầu tư và địa điểm đầu tư từ các quốc gia
khác nhau). Nhân tố nước ngoài ở đây không chỉ thể hiện ở sự khác biệt về
quốc tịch hoặc về lãnh thổ cư trú thường xuyên của các bên tham gia vào
8
quan hệ đầu tư trực tiếp nước ngoài mà còn thể hiện ở việc di chuyển tư bản
trong đầu tư trực tiếp nước ngoài vượt ra ngoài tầm kiểm soát của một quốc
gia. Việc di chuyển tư bản này là nhằm phục vụ mục đích kinh doanh tại nước
tiếp nhận đầu tư mà việc kinh doanh đó do chính các chủ đầu tư nước ngoài
thực hiện hoặc kết hợp với chủ đầu tư của nước tiếp nhận đầu tư thực hiện.
Từ đó, có thể rút ra hai đặc điểm cơ bản của FDI là:
- Có sự dịch chuyển tư bản trong phạm vi quốc tế;
- Chủ đầu tư (pháp nhân, thể nhân) trực tiếp tham gia vào hoạt động
sử dụng vốn và quản lý đối tượng đầu tư.
Hiện nay quá trình đầu tư trực tiếp nước ngoài diễn ra tại hầu hết các
nước trên thế giới. Về mặt pháp lý, khái niệm về FDI đã trở thành một khái
niệm phổ biến được ghi nhận trong các đạo luật, đó là Luật khuyến khích đầu
tư (ở Thái Lan), Luật khuyến khích đầu tư áp dụng cho từng ngành (ở Hàn
Quốc) hoặc Luật riêng về đầu tư trực tiếp nước ngoài (ở Indonesia, Việt
Nam)
Theo Luật Đầu tư của Indonesia thì: Đầu tư trực tiếp nước ngoài là
nhằm mục đích thực hiện kinh doanh tại Indonesia, với nhận thức rằng người
chủ sở hữu vốn phải trực tiếp gánh chịu rủi ro của đầu tư. Do đó, cần phải chỉ
ra khả năng vốn nước ngoài được sử dụng trong một doanh nghiệp hoặc được
sử dụng trong một doanh nghiệp có hợp tác với vốn trong nước. Vốn nước ngoài
không chỉ là ngoại tệ mà bao gồm cả các tài sản cố định cần thiết cho hoạt
động của doanh nghiệp ở Indonesia, phát minh sáng chế thuộc sở hữu của tổ
chức, người nước ngoài được sử dụng vào doanh nghiệp ở Indonesia, và lợi
nhuận lẽ ra được chuyển ra nước ngoài nhưng lại được sử dụng ở Indonesia
[100].
Trong quan hệ đầu tư trực tiếp nước ngoài, đối với nước xuất khẩu tư
bản, đầu tư trực tiếp nước ngoài được xem như việc di chuyển tư bản ra nước
ngoài nhằm thiết lập ở đó những hoạt động kinh doanh nhất định để thu lợi
9
nhuận; còn đối với nước tiếp nhận đầu tư nó lại là việc tiếp nhận vốn của
người nước ngoài để cho phép chủ đầu tư nước ngoài tổ chức các hoạt động
kinh doanh theo những hình thức mà pháp luật quy định. Điều đó cho thấy,
dù nhìn nhận dưới góc độ nào FDI cũng đều là hoạt động kinh doanh quốc tế
dựa trên cơ sở của quá trình di chuyển tư bản giữa các quốc gia, chủ yếu do
các pháp nhân và thể nhân thực hiện theo những hình thức nhất định mà qua
đó chủ đầu tư trực tiếp tham gia vào quá trình đầu tư.
Ở Việt Nam, văn bản pháp lý đầu tiên về đầu tư trực tiếp nước ngoài
là Điều lệ về đầu tư của nước ngoài tại Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
được ban hành kèm theo Nghị định số 115/CP ngày 18/4/1977. Điều lệ này
không nêu định nghĩa cụ thể FDI nhưng trong tư tưởng của các quy phạm thì
khái niệm FDI cũng cơ bản giống như khái niệm được ghi nhận sau này trong
các Luật Đầu tư như sau: Đầu tư trực tiếp nước ngoài là việc nhà đầu tư nước
ngoài trực tiếp đưa vào Việt Nam vốn bằng tiền hoặc bất kỳ tài sản nào được
Chính phủ Việt Nam chấp thuận để hợp tác kinh doanh trên cơ sở hợp đồng hoặc
thành lập doanh nghiệp liên doanh, hoặc doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài.
(khoản 3, Điều 2, Luật Đầu tư 1987; khoản 1, Điều 2, Luật Đầu tư 1996).
Như vậy, về mặt pháp lý, khái niệm FDI được đề cập trong luật của
các quốc gia chỉ giới hạn phạm vi nhìn nhận về FDI dưới con mắt của nước
tiếp nhận đầu tư. Khái niệm này không bao gồm hoạt động đầu tư gián tiếp
nước ngoài, cũng không bao gồm các quan hệ thương mại thông thường.
Tuy nhiên, một điều cần chú ý khi nghiên cứu là, khái niệm đầu tư
trực tiếp theo Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam với giới hạn như trên khác
với khái niệm đầu tư nước ngoài trong các Hiệp định khuyến khích và bảo hộ
đầu tư mà Việt Nam đã ký kết với các nước. Theo các Hiệp định này, thuật
ngữ "đầu tư nước ngoài" được sử dụng để chỉ các loại tài sản mà các nhà đầu
tư của nước ký kết này dùng để đầu tư vào nước ký kết hữu quan kia. Khái
niệm đó cũng được sử dụng để chỉ các giá trị tài sản của các nhà đầu tư của
10
các nước hữu quan. Danh mục các tài sản và giá trị tài sản được gọi là "đầu
tư" đó rất rộng, từ những cái rất cụ thể như "cổ phần", "bản quyền", các "động
sản", "bất động sản" đến những cái rất trừu tượng như "yêu sách về tiền được
sử dụng để tạo ra các giá trị kinh tế", "yêu sách về dịch vụ có giá trị kinh tế"
hoặc "địa nhượng theo công pháp" [10]. Nội dung khuyến khích và bảo hộ
đầu tư trong các Hiệp định này bao gồm việc khuyến khích và bảo hộ đầu tư
đối với cả đầu tư trực tiếp và đầu tư gián tiếp.
1.1.2. Đầu tư nước ngoài dưới góc độ so sánh
Để làm rõ hơn khái niệm FDI, việc so sánh FDI với đầu tư gián tiếp
nước ngoài, các quan hệ thương mại có nhân tố nước ngoài và đầu tư trong
nước là hết sức cần thiết.
1.1.2.1. Đầu tư trực tiếp nước ngoài và đầu tư gián tiếp nước ngoài
Để phân biệt FDI và đầu tư gián tiếp nước ngoài, trước hết cần nghiên
cứu tổng quát về các nguồn tài chính nước ngoài du nhập vào một nước.
Dòng vốn tư bản nước ngoài du nhập vào một nước bằng hai kênh:
1) kênh nhà nước có tên gọi là Tài chính phát triển chính thức (Official
Development Finance - ODF); 2) kênh tư nhân có tên gọi là các nguồn tư
"nhân (Total Private Flows - TPF). Kênh nhà nước còn gọi là kênh chính thức
hoặc kênh công quản (Official). Hình thức chủ yếu của kênh nhà nước là hỗ
trợ hay viện trợ phát triển chính thức (Official Development Assistance -
ODA) gồm viện trợ cho không (Official Grants) và cho vay dài hạn với lãi
suất thấp có tên gọi là cho vay ưu đãi chính thức (Official Concessional
Loans). Ngoài ra, còn có hình thức cho vay dài hạn thông thường có tên gọi là
cho vay không ưu đãi chính thức (Official Nonconcessional Loans). Hình
thức chủ yếu của kênh tư nhân là đầu tư trực tiếp của nước ngoài (Foreign
Direct Investment - FDI) và đầu tư gián tiếp bằng đóng góp vốn cổ phần (đầu
tư chứng khoán lãi không cố định - Porfolio Equity Flows) cùng các nguồn
vay tư nhân. Các nguồn vay tư nhân gồm vay ngân hàng thương mại
11
(Commercial Bank) với lãi suất trên thị trường, vay dưới hình thức phát hành
trái phiếu (Bond Debt Flows) và các nguồn tư nhân khác. Hình thức đầu tư
chứng khoán lãi không cố định (Porfolio Equity Flows) và vay dưới hình thức
trái phiếu (Bond Debt Flows) hợp thành hình thức đầu tư chứng khoán nói
chung (Porfolio Investment).
(1)- Phân biệt Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) và Hỗ trợ phát triển
chính thức (ODA): Sự khác biệt về chủ thể đầu tư được thể hiện ở chỗ, trong
đầu tư gián tiếp (dưới hình thức ODA), chủ thể chủ yếu là các quốc gia và các
tổ chức tài chính quốc tế. Trong khi đó, chủ thể chủ yếu thực hiện các hoạt
động đầu tư trực tiếp là thể nhân và các pháp nhân.
Về nguồn vốn, trong FDI, vốn đầu tư bao gồm tiền mặt, sở hữu công
nghiệp và các tài sản khác được nước nhận đầu tư chấp nhận. Khác với nguồn
FDI, các loại nguồn ODA bao gồm: a) hỗ trợ tài chính: Cung cấp tiền ở dạng
cho không hay cho vay lãi suất thấp. Khi hỗ trợ tài chính ở dạng song phương
thì nó có thể bị ràng buộc với việc phải mua hàng ở nước tài trợ; b) Hỗ trợ kỹ
thuật: Cung cấp cố vấn và những chuyên gia kỹ thuật mà nước tiếp nhận đang
thiếu (nhưng cũng quy ra tiền thông qua lương và các khoản thù lao trả cho
các cố vấn, chuyên gia đó); hỗ trợ bằng hiện vật dưới dạng hàng hóa như tư
liệu sản xuất, lương thực, thực phẩm v.v
Về mục đích, quan hệ FDI là quan hệ kinh doanh theo cơ chế thị
trường, có mục đích kinh doanh. Vì vậy, lợi nhuận là mục tiêu cao nhất và
cuối cùng của các chủ đầu tư. Còn trong đầu tư gián tiếp dưới hình thức
ODA, kinh doanh và lợi nhuận không phải là mục tiêu trực tiếp của chủ đầu
tư bởi quan hệ này không phải là quan hệ kinh doanh một cách thuần túy.
Mục đích ODA có thể là: a) Tính đoàn kết quốc tế như quyết định của Liên
Hợp Quốc là các nước giàu phải dành 0,7% GDP cho viện trợ cho các nước
nghèo; b) Lợi ích thương mại: Các nước tài trợ muốn dùng viện trợ như một
biện pháp để tăng cường xuất khẩu sang các nước đang phát triển và có thể áp
12
dụng các ràng buộc thương mại đối với phần viện trợ của họ; c) Lợi ích chính
trị: Các nước tài trợ muốn khuyến khích Chính phủ các nước tiếp nhận viện
trợ thay đổi chính sách của họ về khía cạnh nào đó, ví dụ như: Thay đổi chính
sách kinh tế vĩ mô, điều chỉnh cơ cấu kinh tế, chống tham nhũng; các yêu cầu
liên quan tới nhân quyền, dân chủ và vai trò của khu vực nhà nước
Thực ra, cần thấy rằng ODA không phải là sự chuyển giao
đơn thuần và những nhà tài trợ không hoàn toàn "vô tư". Trong
nhiều trường hợp, nước nhận ODA phải tăng cường nhập khẩu các
hàng hóa và dịch vụ của nước tài trợ và mở cửa ưu đãi cho các công
ty của những nước này chiếm các hợp đồng béo bở trong các dự án
có nhận vốn ODA. Đó là lý do khiến nhiều nhà kinh tế ví von ODA
như là mũi khoan của một nước giàu, có thể xuyên thủng bức tường
bảo hộ mậu dịch của một nước khác [89].
Về tính chất, vì quan hệ FDI là quan hệ có mục đích kinh doanh, tìm
kiếm lợi nhuận nên nó chịu sự chi phối của các quy luật kinh tế trong nền
kinh tế thị trường, ít chịu ảnh hưởng bởi các quan hệ chính trị. Hoạt động đầu
tư trực tiếp nước ngoài là việc các chủ đầu tư nước ngoài đưa vốn vào nước
tiếp nhận đầu tư để kinh doanh. Vì vậy, FDI không thể biến nước tiếp nhận
đầu tư thành con nợ của nước có tư bản xuất khẩu qua đầu tư trực tiếp. Còn
đối với đầu tư gián tiếp ODA thì sao ? Quan hệ đầu tư gián tiếp này là quan
hệ mang màu sắc chính trị, bị ảnh hưởng bởi quan hệ giữa các quốc gia với
nhau và với các tổ chức tài chính quốc tế, ít chịu sự chi phối của các quy luật
kinh tế. Trong đầu tư gián tiếp, viện trợ không hoàn lại không phải là phổ
biến mà phổ biến là quan hệ cho vay ưu đãi. Như vậy, đầu tư gián tiếp biến
nước tiếp nhận đầu tư thành con nợ của nước hay tổ chức quốc tế đã xuất
khẩu tư bản qua các quan hệ đầu tư gián tiếp. Hơn nữa, nước tiếp nhận đầu tư
gián tiếp không chỉ bị biến thành con nợ mà còn phải bảo đảm một số điều
kiện khác mang tính chính trị như phải bảo đảm tốc độ tăng trưởng, ổn định tỷ
lệ lạm phát, cân bằng cán cân thanh toán, phải giảm chi thường xuyên từ ngân
13
sách Nhà nước, phải có dự án đầu tư cụ thể thì mới được tiếp nhận vốn đầu
tư với hình thức chủ yếu là vay vốn tín dụng ưu đãi. Về vấn đề này, Báo cáo
của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, tháng 3/1996 đã đề cập:
Bên cạnh những thuận lợi to lớn ở trong nước và quốc tế đối
với việc thu hút và sử dụng ODA, chúng ta còn nhiều khó khăn và
thách thức. ODA trên thế giới là nguồn vốn có hạn, lại có sự cạnh
tranh gay gắt giữa các nước đang phát triển. ODA và chính trị đi
liền với nhau, các nước cung cấp ODA thường hay gắn các điều
kiện để mưu tìm lợi ích kinh tế hoặc chính trị. Phần lớn ODA là vốn
vay, tuy có phần ưu đãi song phải trả nợ, nếu không tính toán đúng
đắn sẽ có nguy cơ mắc phải nợ nần [3].
Báo Asahi Shibun, ngày 13/6/1996 của Nhật Bản cũng đã coi "ODA
là vũ khí ngoại giao quan trọng nhất của Nhật Bản" [76].
(2)- Phân biệt FDI với đầu tư gián tiếp nước ngoài của pháp nhân,
thể nhân: Pháp nhân, thể nhân khi tiến hành đầu tư với mục đích tìm kiếm lợi
nhuận tại một quốc gia khác, họ trở thành nhà đầu tư nước ngoài. Hình thức
đầu tư mà họ có thể lựa chọn là đầu tư trực tiếp hoặc đầu tư gián tiếp.
Các hình thức đầu tư này, tuy có điểm giống nhau về chủ thể đầu tư và
mục đích kinh doanh nhưng khác nhau về bản chất và nội dung quản lý vốn, đối
tượng đầu tư, thủ tục tiến hành và nguồn luật điều chỉnh.
Về bản chất, trong đầu tư trực tiếp, chủ thể đầu tư và vốn đầu tư luôn
gắn bó chặt chẽ với nhau. Các nhà đầu tư trực tiếp quản lý vốn đầu tư của
mình, trực tiếp điều hành hoặc tham gia điều hành dự án đầu tư, thu lợi nhuận
và trực tiếp gánh chịu rủi ro từ hoạt động đầu tư. Trong đầu tư gián tiếp, các
nhà đầu tư thực hiện đầu tư thông qua việc mua cổ phiếu, trái phiếu của các
doanh nghiệp ở nước nhận đầu tư hoặc cho các doanh nghiệp ở nước nhận
đầu tư vay vốn tín dụng. Việc thu lợi nhuận được thực hiện qua qua lãi cổ tức
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét