Thứ Sáu, 18 tháng 4, 2014

thực thi quyền sử dụng đất ở huyện hòa vang thành phố đà nẵng


LINK DOWNLOAD MIỄN PHÍ TÀI LIỆU "thực thi quyền sử dụng đất ở huyện hòa vang thành phố đà nẵng": http://123doc.vn/document/1055111-thuc-thi-quyen-su-dung-dat-o-huyen-hoa-vang-thanh-pho-da-nang.htm


Chng 1
Lý LUậN Về thực thi QUYềN Sử DụNG ĐấT Và VAI TRò
CủA Nó TRONG PHáT TRIểN KINH Tế Xã HộI
1.1. T AI V VAI TRề CA T AI TRONG PHT TRIN KINH T
- X HI
Đất là sản phẩm tồn tại tự nhiên, có trớc con ngời và không do con ngời
tạo ra nhng lao động con ngời có thể cải tạo, nâng cao giá trị của đất và đất đai
là đối tợng lao động lâu dài của con ngời.
Là môi trờng sống cơ bản của hầu hết các sinh vật sống trên trái đất,
trong đó có con ngời, điều đó khẳng định đất là tài nguyên quý giá nhất của
loài ngời nói chung và đặc biệt quan trọng đối với nông nghiệp và nông
thôn - C.Mác đã viết: đất là t liệu sản xuất cơ bản, phổ biến và quý báu
nhất của sản xuất nông nghiệp [34, tr.532], đất là điều kiện không thể
thiếu đợc của sự tồn tại và tái sinh của hàng loạt thế hệ loài ng ời kế tiếp
nhau. Đất đai là điều kiện hết sức cần thiết cho sản xuất, nhng tự nó không
thể tạo ra của cải vật chất cho xã hội mà cần có những điều kiện khác, trong
đó có điều kiện quan trọng bậc nhất là lao động của con ngời. Đất đai cùng
với lao động của con ngời là hai yếu tố cơ bản và quan trọng nhất tạo ra của
cải vật chất để con ngời và xã hội loài ngời tồn tại, phát triển, điều này đã
đợc C.Mác dẫn lời của W.Petty Lao động là cha, còn đất là mẹ của của cải
vật chất.
Nếu nh các t liệu sản xuất khác có thể t do di chuyển từ nơi này đến
nơi khác thì đất đai lại có vị trí cố định, không thể di chuyển theo ý của con
ngời; còn xét về mặt diện tích thì đất đai là hữu hạn - trên phạm vi toàn cầu,
đất đai bị khống chế bởi bề mặt trái đất, ở mỗi quốc gia nó bị giới hạn ở biên
giới của mỗi quốc gia, đối với tỉnh, huyện, xã thì diện tích bị giới hạn trong
khuôn khổ địa giới hành chính của từng địa phơng.
Sự hình thành và phát triển của mỗi dân tộc phụ thuộc rất nhiều vào đất
đai mà dân tộc đó sinh sống. Đó là đồng bằng, rừng núi, hệ sinh thái, nguồn n-
ớc và tài nguyên trong lòng đất, nguồn lợi vùng biển, thềm lục địa Toàn bộ
sản phẩm phục vụ nhu cầu thiết yếu của con ngời đều trực tiếp hoặc gián tiếp
liên quan đến một đơn vị diện tích đất nhất định. Đất đai là tài nguyên của dân
5
tộc, của tổ quốc - nó vô cùng quý giá, không chỉ là di sản thiêng liêng của cả
dân tộc mà còn là biểu tợng cụ thể của quốc gia trờng tồn cùng dân tộc, là cơ
sở vật chất của lòng yêu nớc và tình làng nghĩa xóm.
Trong lịch sử dựng nớc và giữ nớc ở nớc ta, mỗi tấc đất từ biên cơng
cho đến hải đảo đều thấm đợm mồ hôi, xơng máu của ông cha, của biết bao
thế hệ ngời Việt nam tạo lập và giữ gìn. Là một quốc gia nông nghiệp, với nền
văn minh lúa nớc truyền thống nên đất đai nói chung, ruộng đất nói riêng là
nguồn tài nguyên quốc gia quý giá, là t liệu sản xuất đặc biệt, là nguồn nội lực
to lớn cho phát triển, là địa bàn phân bổ dân c, là mặt bằng xây dựng các cơ
sở kinh tế - văn hóa, chính trị, an ninh - quốc phòng, là thành phần quan trọng
hàng đầu của môi trờng sống do đó nó có vai trò vô cùng quan trọng trên
mọi phơng diện kinh tế, chính trị, xã hội Hơn 500 năm trớc, Bộ luật đầu tiên
của nớc Việt Nam độc lập đã quy định rằng Những ngời bán đất đai ở bờ cõi
cho ngời nớc ngoài thì tộc bị chém [48, tr.57]; Phan Huy Chú cũng đã từng
cho rằng: Của báu một nớc không gì quí bằng đất đai, nhân dân và của cải
đều do đấy mà sinh ra . Tuy nhiên, với những đặc trng riêng có mà việc sử
dụng đất đai không thể là vô hạn, do đó, để thoả mãn ngày càng tốt hơn nhu
cầu sử dụng đất không ngừng tăng lên thì việc sử dụng đất một cách hợp lý và
tiết kiệm, TTQSDĐ một cách hiệu quả là một trong những giải pháp quan
trọng để sử dụng đất đai có hiệu quả, đảm bảo phát triển bền vững là yêu cầu
cấp bách và quan trọng.
Ngay sau khi giành đợc chính quyền, để thực hiện chủ trơng Ngời cày
có ruộng Đảng và Nhà nớc ta đã ban hành nhiều chính sách, pháp luật về đất
đai nhằm mục đích phục vụ lợi ích của đông đảo quần chúng nhân dân lao
động. Tuy nhiên trong từng giai đoạn lịch sử, chính sách và pháp luật về đất
đai có những thay đổi nhất định. Do đó, việc không ngừng hoàn thiện chính
sách và pháp luật về đất đai là vấn đề quan trọng luôn đợc Đảng và Nhà nớc ta
quan tâm. Lịch sử quản lý nhà nớc đối với đất đai đã chứng minh điều đó. Kể
từ sau Cách mạng tháng Tám 1945 thành công đến trớc Đổi mới (1986), chính
sách và pháp luật về ruộng đất nói riêng, đất đai nói chung đã có những bớc
phát triển khá đa dạng, phong phú, phản ánh khá rõ nét tình hình cách mạng
qua từng giai đoạn lịch sử. Có thể chia chính sách và pháp luật về ruộng đất
trong khoảng thời gian này thành 3 giai đoạn:
6
Giai đoạn 1945 - 1954 là giai đoạn từng bớc xoá bỏ chế độ chiếm hữu
ruộng đất của giai cấp địa chủ, thực hiện chế độ chiếm hữu ruộng đất cho
nông dân, giải phóng sức sản xuất ở nông thôn, bồi dỡng lực lợng nhân dân để
đẩy mạnh cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp đến thắng lợi.
Giai đoạn 1954 - 1975, miền Bắc hoàn toàn giải phóng, miền Nam tiếp
tục cuộc cách mạng dân tộc dân chủ, Đảng và Nhà nớc xác định 3 hình thức
sở hữu đất đai: sở hữu nhà nớc, sở hữu tập thể và sở hữu t nhân, trong đó vấn
đề sở hữu tập thể gắn liền với hợp tác hóa nông nghiệp đợc phát huy mạnh mẽ.
Giai đoạn 1975 - 1985, đất nớc hoàn toàn giải phóng, cả nớc thống nhất
xây dựng mô hình tập đoàn sản xuất và tiếp tục thực hiện hợp tác hoá. Mỗi
một giai đoạn lịch sử đã qua cho thấy sự phát triển quan điểm, chủ trơng của
Đảng và chính sách của Nhà nớc phù hợp với đặc điểm, bối cảnh kinh tế -
chính trị - xã hội của từng giai đoạn cụ thể.
Cùng với tiến trình đó, nếu nh từ năm 1945 đến 1980 ở nớc ta tồn tại
3 loại hình sở hữu đối với đất đai là sở hữu nhà nớc, sở hữu tập thể và sở
hữu t nhân, thì từ năm 1980 chỉ còn một loại hình duy nhất là sở hữu toàn
dân. Cùng với sự phát triển kinh tế thì vấn đề đất đai ngày càng đợc Đảng
và Nhà nớc hết sức coi trọng, trong đó ngày càng đặc biệt nhấn mạnh vai
trò của Nhà nớc trong việc thực hiện quyền đại diện chủ sở hữu toàn dân về
đất đai và thống nhất quản lý nhà nớc về đất đai - quan điểm này luôn đợc
quán triệt trong các văn bản quan trọng của Đảng và Nhà nớc, chẳng hạn
nh:
Hiến pháp năm 1992 của nớc Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam có
Điều 17 quy định: Đất đai, vùng núi, sông hồ, nguồn nớc, tài nguyên trong
lòng đất, nguồn lực ở vùng biển thềm lục địa và vùng trời, phần vốn và tài
sản do nhà nớc đầu t vào xí nghiệp, công trình thuộc các ngành và lĩnh vực
kinh tế, văn hoá - xã hội, khoa học kỹ thuật, ngoại giao, quốc phòng, an ninh
cùng các tài sản khác mà pháp luật quy định là của nhà nớc đều thuộc sở hữu
toàn dân.
Báo cáo chính trị của Ban chấp hành trung ơng khóa VII tại Đại hội đại
biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng khẳng định: Đất đai thuộc sở hữu toàn
dân, không t nhân hóa, không cho phép mua bán đất. Thực hiện đúng Luật đất
đai, bổ sung hoàn chỉnh hệ thống pháp luật và chính sách về đất đai. Trong
việc giao QSDĐ hay cho thuê đất phải xác định đúng giá các loại đất để sử
7
dụng đất có hiệu quả; duy trì và phát triển quỹ đất, bảo đảm lợi ích của toàn
dân. Khắc phục tình trạng đầu cơ đất và những tiêu cực yếu kém trong quản lý
và sử dụng đất [23, tr.99].
Nghị quyết Hội nghị TW Đảng CSVN lần thứ 7 ( khóa IX) về tiếp tục
đổi mới chính sách pháp luật và đất đai trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp
hóa, hiện đại hóa đất nớc nêu rõ: Đất đai là lãnh thổ quốc gia; là tài nguyên
quốc gia vô cùng quý giá, là t liệu sản xuất đặc biệt; là thành phần quan trọng
hàng đầu của môi trờng sống, là địa bàn phân bổ các khu dân c, xây dựng các
cơ sở văn hóa xã hội, an ninh và quốc phòng. Trải qua nhiều thế hệ, nhân dân
ta đã tốn bao nhiêu công sức xơng máu mới tạo lập bảo vệ đợc đất đai nh ngày
nay [2, tr.164]; rằng, Chính sách đất đai của Đảng hiện nay phục vụ mục tiêu
Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, dân giàu nớc mạnh xã hội
công bằng dân chủ văn minh [2, tr.165].
Thể chế hóa quan điểm của Hiến pháp 1992, Luật Đất đai năm 2003 -
Điều 5 ghi: Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do nhà nớc đại diện chủ sở hữu;
Điều 6 nêu rõ: Nhà nớc thống nhất quản lý đất đai; Điều 7 khẳng định:
Nhà nớc thực hiện quyền chủ sở hữu toàn dân về đất đai và thống nhất quản
lý về đất đai [44].
Đất đai thuộc sở hữu toàn dân - nghĩa là, quyền sở hữu toàn dân đối
với đất đai là quyền sở hữu duy nhất và tuyệt đối; rằng, chế độ sở hữu t
nhân hoặc bất kỳ một chế độ sở hữu nào khác đều không đợc thừa nhận.
Tính tuyệt đối và duy nhất của sở hữu toàn dân thể hiện ở chỗ nó bao trùm
tất cả mọi đất đai của quốc gia cùng với những quan hệ phái sinh từ đất đai,
bất kỳ đất đó đang có hay không có ngời sử dụng. Việc sử dụng đất của các
tổ chức, cộng đồng dân c, hộ gia đình cá nhân phải đảm bảo đúng quy
hoạch, đúng mục đích sử dụng đất, tiết kiệm, hiệu quả và bảo vệ môi trờng,
đảm bảo cân bằng sinh thái. Đây là nguyên tắc pháp lý xuyên suốt trong
quá trình quản lý, sử dụng đất, phản ánh đặc trng của quyền sở hữu toàn
dân đối với đất đai. Tính chất, đặc điểm của sở hữu toàn dân đối với đất đai
làm nền tảng cho chế độ sở hữu về đất đai trên hai phơng diện chủ yếu sau:
- Đất đai là lãnh thổ quốc gia, là tài nguyên vô giá không thể thay thế đ-
ợc của quốc gia. Đó cũng là kết quả của quá trình chinh phục, chế ngự tự
nhiên, chống giặc ngoại xâm của dân tộc Việt Nam từ thế hệ này sang thế hệ
8
khác. Do đó, Nhà nớc và mọi tổ chức, công dân phải có trách nhiệm bảo vệ
gìn giữ nguồn tài nguyên quốc gia này.
- Đất đai là t liệu sản xuất đặc biệt, liên quan đến kết quả đầu t lao
động, vốn, công sức cải tạo của từng ngời lao động cụ thể - vì vậy, nó phải hết
sức cụ thể, xác định và gắn với các lợi ích thiết thực.
Các yếu tố đòi hỏi việc xác lập chế độ sở hữu toàn dân về đất đai phải
đảm bảo cho Nhà nớc can thiệp vào quan hệ đất đai với t cách là ngời đại diện
chủ sở hữu và quản lý tối cao, phải đảm bảo thống nhất hài hòa giữa các
quyền năng, vai trò tối cao của Nhà nớc với các quyền cụ thể của chủ thể sử
dụng đất.
Chính vì vậy, khi định chế độ sở hữu toàn dân đối với đất đai phải hớng
tới các yêu cầu, nguyên tắc sau đây:
- Luật pháp hóa vai trò của Nhà nớc với t cách là đại diện chủ sở hữu và
ngời thống nhất quản lý toàn bộ đất đai.
- Xác định rõ vai trò của tổ chức, cộng đồng dân c, hộ gia đình và cá
nhân với t cách là chủ thể sử dụng cụ thể - xác định.
- Thiết lập mối quan hệ cụ thể, hài hòa giữa Nhà nớc và chủ thể sử dụng
đất trong nền kinh tế thị trờng định hớng xã hội chủ nghĩa.
Quán triệt tinh thần đó, Luật Đất đai năm 2003 đã kế thừa, phát triển
các quy định của Luật Đất đai 1993, đánh dấu một bớc tiến quan trọng trong
việc xây dựng, hoàn thiện thể chế pháp luật về đất đai, quy định cụ thể rõ ràng
quyền hạn và trách nhiệm của Nhà nớc đại diện chủ sở hữu toàn dân về đất đai
và thống nhất quản lý về đất đai, chế độ quản lý và sử dụng đất đai, quyền và
nghĩa vụ của ngời sử dụng đất.
Nhà nớc thực hiện quyền định đoạt đối với đất đai thông qua quy hoạch,
kế hoạch sử dụng đất, quy định và hạn mức giao đất, thời hạn sử dụng đất,
quyết định giao - cho thuê - thu hồi đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng
đất, định giá đất, điều tiết nguồn lợi từ đất đai Đất đai không thuộc quyền sở
hữu của tổ chức cá nhân nào, Nhà nứớc sẽ trao QSDĐ cho tổ chức, cá nhân, sử
dụng đất thông qua các hình thức giao đất, cho thuê đất công nhận quyền sử
đất đối với ngời sử dụng đất ổn định. Nhà nớc mở rộng tối đa quyền của ngời
sử dụng đất nh: Quyền chuyển đổi, chuyển nhợng, cho thuê, cho thuê lại, thừa
kế, thế chấp, bảo lãnh và góp vốn bằng quyền sử dụng đât. Nếu ở Luật Đất đai
năm 1993 quy định chỉ có hộ gia đình, cá nhân mới có 5 quyền đối với đất
9
đai, thì ở Luật Đất đai năm 2003 ngời sử dụng đất đến 9 quyền, và cho phép
các tổ chức kinh tế đợc Nhà nớc giao đất có thu tiền sử dụng đất mà tiền sử
dụng đất đã trả không có nguồn gốc từ ngân sách Nhà nớc cũng đợc thực hiện
các quyền nh hộ gia đình và cá nhân. Đây là quan điểm mới của Đảng và Nhà
nớc về đất đai.
Trong giai đoạn mở cửa hội nhập hiện nay, vấn đề đất đai là yếu tố vật
chất để phát triển kinh tế. Báo cáo chính trị của BCHTW khoá IX tại Đại hội
Đại biểu toàn quốc lần thứ X đã nêu: Phát triển thị trờng bất động sản, bao
gồm thị trờng QSDĐ và bất động sản gắn liền với đất, bảo đảm QSDĐ
chuyển thành hàng hoá một cách thuận lợi làm cho đất đai thật sự trở thành
nguồn vốn phát triển, thị trờng bất động sản trong nớc có sức mạnh cạnh tranh
so với thị trờng khu vực, có sức hấp dẫn các nhà đầu t. Thực hiện công khai,
minh bạch và tăng cờng tính pháp lý, kỷ luật, kỷ cơng trong quản lý đất đai.
Nhà nớc điều tiết giá đất bằng quan hệ cung cầu về đất đai và thông qua chính
sách về thuế có liên quan đến đất đai. Nhà nớc quản lý đất thị trờng bất động
sản vừa là nhà đầu t bất động sản lớn nhất. Hoàn thiện hệ thống pháp luật về
kinh doanh bất động sản [25, tr.81].
1.2. Vấn đề thực thi quyền sử dụng đất
1.2.1. Khái niệm quyền sở hữu đất đai
Theo từ điển bách khoa Việt Nam Quyền sở hữu là quyền chiếm giữ,
sử dụng và định đoạt với tài sản của mình [27, tr.639]. Theo định nghĩa này,
quyền sở hữu phải bao gồm cả chiếm giữ, sử dụng và định đoạt đối với tài sản.
Đất đai là tài sản - t liệu sản xuất đặc biệt. Vì vậy, khi nghiên cứu các hình
thái sở hữu khác nhau về đất đai của xã hội loài ngời cho thấy sở hữu đất đai
thể hiện trên hai mặt: sở hữu về mặt pháp lý và sở hữu về mặt kinh tế.
Quyền sở hữu về mặt pháp lý của chủ sở hữu đối với đất đai bao gồm
các quyền cơ bản: Quyền chiếm hữu, quyền định đoạt và quyền sử dụng.
Quyền chiếm hữu đất đai: là hành vi độc chiếm đất đai ban đầu của
con ngời với tự nhiên để có điều kiện sản xuất nhằm tạo ra những sản phẩm
đáp ứng nhu cầu tồn tại.
Quyền định đoạt đất đai: là quyền chủ sở hữu đất đai giao toàn bộ các
quyền đối với đất đai cho chủ thể khác hoặc từ bỏ các quyền ấy. Chủ sở hữu
đất đai có quyền định đoạt số phận của đất đai bằng cách bán, đổi, tặng,
10
cho thuê Tự họ thực hiện quyền định đoạt đất đai thông qua các quan hệ nói
trên, với hình thức hợp đồng bằng văn bản hoặc miệng.
Quyền sử dụng đất đai: Do mục đích của đề tài, luận văn xin đợc đi sâu
phân tích nội dung này trong mục 1.2.2.
1.2.2. Khái niệm quyền sử dụng đất
Theo từ điển kinh tế, QSDĐ là phơng thức quy định, điều kiện, hình
thức sử dụng đất đai của từng cá nhân, của tập thể hoặc của nhà nớc. Chế độ
sử dụng đất đai là do quan hệ sản xuất chiếm địa vị thống trị trong xã hội
quyết định [27, tr.513].
Luật Đất đai năm 2003 qui định Nhà nớc quy định quyền chiếm hữu,
còn QSDĐ trực tiếp thuộc về hộ gia đình, cá nhân, tổ chức kinh tế, tổ chức sử
dụng đất hợp pháp và đợc phép.
Theo Bộ Luật Dân sự năm 2005, QSDĐ là quyền khai thác công
dụng, hởng hoa lợi, lợi tức tài sản. ở Việt Nam, Nhà nớc chỉ là đại diện cho
chủ thể sở hữu đất là toàn dân, chỉ sử dụng quyền định đoạt đối với đất đai
bằng các hình thức nh: quy hoạch, kế hoạch, sử dụng đất, quy định về hạn
mức giao đất và thời hạn sử dụng, giao đất, cho thuê đất, thu hồi cho phép
chuyển mục đích sử dụng đất, định giá đất, thu tiền sử dụng, tiền thuê thuế
sử dụng đất
Theo Lê Xuân Bá - QSDĐ là bộ phận cấu thành của quyền sử hữu đất
thông qua việc độc quyền giao đất, cho thuê đất, Nhà nớc trao quyền cho ngời
sử dụng đất những quyền và nghĩa vụ nhất định trong đó có sự phân biệt theo
loại đất, theo đối tợng sử dụng đất, theo hình thức cho thuê hoặc giao đất [1,
tr.83]
Sự khác biệt tơng đối giữa quyền sở hữu và quyền sử dụng đất đai về
mặt kinh tế
Quyền sử dụng đất của chủ sở hữu quy định việc dùng đất đai đó vào
mục đích gì, để sản xuất hay cho thuê. Song đâu đó vẫn cha thể hiện sở hữu về
mặt kinh tế. Nó chỉ sở hữu về mặt kinh tế chừng nào trừ quyền sở hữu đó, chủ
sở hữu đất đai có thu nhập. Chẳng hạn, trong trờng hợp chủ sở hữu đất đai là
Nhà nớc thì địa tô chênh lệch gộp vào thuế, còn trong trờng hợp t hữu đất đai
thì chủ sở hữu chỉ thu địa tô, không thu thuế. Nếu quyền sở hữu về mặt kinh tế
không thực hiện đợc thì quyền sử dụng vẫn tồn tại. Do đó, phạm trù quyền sử
dụng đất đai khác với phạm trù sở hữu đất về kinh tế.
11
Chế độ sở hữu đất đai bao hàm nhiều quyền tài sản đối với đất đai
(quyền chiếm hữu đất đai, quyền định đoạt đất đai và quyền sử dụng đất đai,
cùng cơ chế thực hiện các quyền đó. Quyền sở hữu đất đai và quyền sử dụng
đất là hai phạm trù kinh tế rất quan trọng. Hai quyền này vừa thống nhất vừa
có xu hớng phân cực, chúng có thể thống nhất với nhau trong một chủ thể; lại
cũng có thể tách ra nhiều chủ thể khác nhau. Kinh tế - xã hội càng phát triển
thì sự phân cực và tác động qua lại giữa hai nhóm quyền nói trên lại càng
mạnh mẽ. Ngày nay, quan hệ sở hữu đất đai phát triển cơ sở kinh tế - xã hội
hiện đại. Mặt pháp lý và mặt kinh tế của quan hệ sở hữu này không còn bó
hẹp trong từng quốc gia mà đã tác động đến kinh tế toàn cầu. Mỗi động thái
của nó đều tác động đến mọi ngành, mọi lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã
hội. Tuy mỗi nớc có sự khác biệt về sở hữu đất đai nhng việc thực hiện lợi ích
kinh tế từ quyền sử dụng đất đều có những đặc điểm chung cơ bản và xuyên
suốt.
Nh vậy, QSDĐ xét về mặt kinh tế thì không chỉ dừng lại ở việc xác
nhận các hành vi, thao tác, hoạt động mà chủ yếu lại phải nhấn mạnh các
quan hệ kinh tế liên quan, thậm chí nó phải là tổng hợp các quan hệ kinh tế
đặc trng, và trong đó lại chứa đựng trong đó rất nhiều mối quan hệ, nhiều
quyền cụ thể khác nhau - chẳng hạn nh: quyền khai thác đất - bị qui định bởi
phạm vi, giới hạn và cố định trong không gian về diện tích, nó tồn tại vô hạn
về thời gian và khả năng sinh lợi lâu dài
So với các t liệu sản xuất khác, đất có u thế đặc biệt, nh Các Mác đã viết
T bản cố định bỏ vào máy móc, không vì đợc sử dụng tốt hơn lên, trái lại nó
hao mòn đi, trái lại, nếu đợc xử lí một cách thích đáng thì đất đai sẽ tốt mãi
lên. Ưu thế của đất là những khoản đầu t liên tiếp để đem lại lợi nhuận mà
không làm thiệt đến những khoảng đầu t liên tiếp ấy [34, tr.484].
1.2.3. Quan niệm về thực thi quyền sử dụng đất
Theo từ điển tiếng Việt, thực thi có nghĩa là thực hiện và thi hành một
nhiệm vụ cụ thể nhất định, đối với một đối tợng cụ thể nhất định, nhằm hớng
tới mục tiêu xác định. Với nghĩa thực hiện, thực thi trớc hết bị qui định bởi
những thuộc tính tự nhiên vốn có hay những tính qui định bản chất của chính
đối tợng đó, vì vậy nó là khách quan; đối tợng của thực hiện phải đã hoặc
đang tồn tại trên thực tế. Với nghĩa là thi hành thì nó trớc hết mang tính bị
động - thừa hành một mệnh lệnh hay nhiệm vụ nào đó do chủ thể khác yêu
12
cầu theo qui hoạch, chơng trình hay kế hoạch đã vạch sẵn, hiện thực hoá các
quyết định, các nghị quyết vì vậy nó còn bao hàm cả nghĩa tạo dựng cái
mới, cái tơng lai.
Với cách tiếp cận đó, TTQSDĐ không chỉ bao gồm hoạt động của các
chủ thể sử dụng đất nhằm khai thác các năng lực của đất để thoả mãn những
lợi ích của họ, mà nó còn phải bao gồm cả những công tác quản lý nhà nớc về
đất đai dựa trên luật và các văn bản quy phạm pháp luật, những quy định sử
dụng đất một cách có hiệu quả nhằm bảo vệ, phát huy nguồn tài nguyên của
đất nớc, đảm bảo thống nhất quản lý về đất đai Và mọi hoạt động quản lý và
sử dụng đất đai phải tuân thủ theo quy định chung của pháp luật.
Trên thực tế, TTQSDĐ đợc cụ thể hoá ở việc thực thi các quyền cụ thể
nh - quyền chuyển đổi, quyền chuyển nhợng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế,
tặng cho QSDĐ, quyền thế chấp, bảo lãnh, góp vốn bằng QSDĐ, quyền đợc
bồi thờng khi Nhà nớc thu hồi đất [44, tr.120]. Và do đó, nhiệm vụ TTQSDĐ
đợc áp cho các chủ thể cơ bản nh: Nhà nớc các cấp cùng với các cơ quan chức
năng tơng ứng của nó; các chủ thể sử dụng đất.
1.2.3.1. Quá trình nhận thức về sự thực thi quyền sử dụng đất
Trong lịch sử dựng nớc và giữ nớc ở Việt Nam, đất đai nói chung, ruộng
đất nói riêng có vai trò vô cùng quan trọng trên mọi phơng diện kinh tế, chính
trị, xã hội. Đây là nguồn tài nguyên quốc gia quý giá, là t liệu sản xuất đặc
biệt, là nguồn nội lực to lớn cho phát triển Mặt khác, trong thể chế mới hiện
nay - do đất đai thuộc sở hữu toàn dân nên nhận thức về QSDĐ không chỉ là
cơ sở cho việc hoàn thiện chính sách và pháp luật về đất đai, mà còn là cơ sở
cho việc TTQSDĐ một cách hiệu quả, và do đó nó luôn là vấn đề quan trọng
đợc Đảng và Nhà nớc ta quan tâm. Tuy nhiên, đây cũng là vấn đề hết sức phức
tạp và nhạy cảm.
Lịch sử quản lý nhà nớc đối với đất đai của Nhà nớc Cộng hoà Xã hội
chủ nghĩa Việt nam kể từ sau Cách mạng tháng Tám 1945 thành công đến
nay trên cả phơng diện chính sách và pháp luật, đối với cả ruộng đất nói
riêng, đất đai nói chung đã có những bớc phát triển khá đa dạng, phong
phú, phản ánh khá rõ nét tình hình cách mạng qua từng giai đoạn lịch sử.
Có thể chia quá trình nhận thức về TTQSDĐ trong khoảng thời gian này
thành 4 giai đoạn sau:
13
- Giai đoạn 1945 - 1954, là giai đoạn từng bớc xoá bỏ chế độ chiếm hữu
ruộng đất của giai cấp địa chủ, thực hiện chế độ chiếm hữu ruộng đất cho
nông dân, giải phóng sức sản xuất ở nông thôn, bồi dỡng lực lợng nhân dân để
đẩy mạnh cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp đến thắng lợi. Vì vậy, nhận
thức về TTQSDĐ dờng nh cha đợc đề cập đến, mà chỉ chủ yếu quan tâm tâm
nhiều đến việc thực hiện khẩu hiệu ngời cày có ruộng - nghĩa là vấn đề sở
hữu đợc nhấn mạnh, còn vấn đề sử dụng chủ yếu vẫn mang tính chất truyền
thống
- Giai đoạn 1954 - 1975, miền Bắc hoàn toàn giải phóng, miền Nam
tiếp tục cuộc cách mạng dân tộc dân chủ, Đảng và Nhà nớc xác định 3 hình
thức sở hữu đất đai: sở hữu Nhà nớc, sở hữu tập thể và sở hữu t nhân, trong đó
vấn đề sở hữu tập thể gắn liền với hợp tác hóa nông nghiệp đợc phát huy mạnh
mẽ. Nhận thức về QSDĐ ở thời kỳ này gắn liền với quan điểm, mô hình kinh
tế kế hoạch hoá tập trung - mà điển hình là mô hình hợp tác xã, nông - lâm tr-
ờng quốc doanh và các xí nghiệp công nghiệp quốc doanh; phù hợp với nền
kinh tế thời chiến Mặc dù vậy, giai đoạn này cũng đã xới xáo lên vấn đề sử
dụng đất - chẳng hạn nh những chủ trơng xây dựng cánh đồng 5 tấn, mà điển
hình là việc chuyển đổi mô hình hợp tác xã từ bậc thấp lên bậc cao đã làm
thay đổi căn bản phơng thức sử dụng đất.
- Giai đoạn 1975 - 1980, đất nớc hoàn toàn giải phóng, cả nớc thống
nhất, cùng với việc sắp xếp, tổ chức mô hình sản xuất mới ở miền Nam thì do
sớm phát hiện ra những bất cập của mô hình sản xuất hiện hành ở miền Bắc
mà nhiều tìm kiếm, thử nghiệm mới đợc triển khai Tuy vậy, một mô hình
mới cho việc TTQSDĐ hiệu quả vẫn cha đợc xác lập.
- Giai đoạn từ 1981 đến nay - trên phơng diện TTQSDĐ có thể nói đây
là thời kỳ có nhiều biến đổi lớn, có nhiều bớc ngoặt quan trọng. Đầu tiên phải
kể đến đột phá trong nông nghiệp khi khoán sản phẩm đến nhóm và ngời lao
động đợc triển khai năm 1981 và Nghị quyết 10 của BCT về đổi mới cơ chế
quản lý kinh tế nông nghiệp, mở đầu Luật Đất đai năm 1987 và đến Luật Đất
đai năm 2003 là mốc quan trọng nhất hớng đến việc hoàn thành xác lập quyền
sử dụng.
Mỗi một giai đoạn lịch sử đã qua cho thấy sự phát triển quan điểm, chủ
trơng của Đảng và chính sách của Nhà nớc phù hợp với đặc điểm, bối cảnh
kinh tế - chính trị - xã hội của từng giai đoạn cụ thể.
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét