Thứ Bảy, 19 tháng 4, 2014

những giải pháp nhằm vận dụng tốt hơn quy luật giá trị ở nước ta trong thời gian tới


LINK DOWNLOAD MIỄN PHÍ TÀI LIỆU "những giải pháp nhằm vận dụng tốt hơn quy luật giá trị ở nước ta trong thời gian tới": http://123doc.vn/document/1052311-nhung-giai-phap-nham-van-dung-tot-hon-quy-luat-gia-tri-o-nuoc-ta-trong-thoi-gian-toi.htm


giá trị sử dung này trao đổi với giá trị sử dung khác,ví dụ 1rìu đổi 30 kg thóc tuy giá
trị sử dung của chúng là khác nhau nhng chúng trao đổi đợc với nhau là vì ngời ta cho
rằng lao động hao phí để sản xuất ra 1chiéc rìu bằng với lao động hao phí để sản xuất
ra 30kg thóc .Nh vậy một vật chỉ có giá trị khi chung là kết tinh của lao động của con
ngời ,một vật dù có giá trị sử dung nhng không có lao đông của con ngời kết tinh trong
nó thì nó không có giá trị nh nớc,không khí Ta cũng thấy rằng khi trao đổi trên đợc
thực hiện thì ngời sản xuất rìu và ngời sản xuất thóc đều cho rằng lao động của họ
bằng lao động của ngời kia và họ thực hiện trao đổi ,nh vậy thc chất của giá trị là biểu
hiện quan hệ sản xuất giữa những ngời sản xuất hàng hoá ,quan hệ giữa ngời với ngời
không còn là quan hệ thuần tuý mà nó đơc thay thế bằng quan hệ giữa vật với vật hay
bằng lợi ích kinh tế.
Gía trị của hàng hoá nó là một phạm trù lịch sử nó gắn liền với nền kinh tế hàng
hoá,chỉ trong kinh tế hàng hoá có sản xuất và trao đổi hàng hoá thì mới tồn tại phạm
trù giá trị.
Thớc đo của giá trị là gì ?Thớc đo của giá trị chính là số lợng lao động,nhng số l-
ợng lao động lại đo bằng thời gian lao động và thời gian lao động lại đo bằng những
phần của thời gian nh giờ ngày Nếu nh vậy phải chăng một ngời càng lời biếng
,vụng về thì hàng hoá của anh ta càng có giá trị bởi thời gian để anh ta sản xuất ra
hàng hoá đó nhiều hơn của ngời bình thờng cũng sản xuất hàng hoá đó.Không phải
vậy bởi thời gian lao động tạo ra giá trị không phải là thời gian cá biệt của từng ngời
sản xuất hàng hoá đó mà là thời gian lao động xã hội cần thiết để sản xuất hàng hoá
đó.Thời gian lao động xã hội tất yếu để sản xuất ra hàng hoá là thời gian cần thiết cho
bất cứ lao động nào tiến hành với một trình độ trung bình và một cờng độ trung bình,
trong những điều kiện bình thờng so với hoàn cảnh xã hội nhất định.Ơ Anh sau khi
đem dùng máy dệt chạy bằng hơi nớc thì muốn chế biến một lợng vải sợi nhất định
thành vải thì chỉ cần một nửa số lao động nh trớc kia .Ngời thợ dệt Anh chỉ muốn ché
biến xong số sợi ấy thực ra vẫn cần một số thời gían lao động nh trớc kia ,nhng bây
giờ thì sản phẩm của một giờ lao động của anh ta chỉ bằng nửa giờ lao động của xã hội
và chỉ tạo ra một giá trị bằng một nửa giá trị trớc kia.Thông thờng giá trị một hàng
hoá đợc đo bằng thời gian lao động của những ngời cung cáp phần chủ yếu ,tuyệt đại
bộ phận hàng hoá đó trên thị trờng .
Tuy nhiên thời gian lao động xã hội cần thiết hay lợng giá trị của một hàng
hoá cung thay đổi theo sự thay đổi của năng xuất lao động xã hội,năng xuất lao động
xã hội đợc đo bằng số lợng sản phẩm đợc tạo ra trong một đơn vị thời gian hay đo
bằng số thời gian la động để sản xuất ra một đơn vị sản phẩm.Năng xuất lao động xã
hội càng cao ,thời gian cần thiết để sản xuất hàng hoá càng ítkhối lợng lao đông kết
tinh trong một đơn vị sản phẩm càng nhở thì giá trị của sản phẩm càng thấp,còn ngợc
5
lại khi mà thời gian cần thiết để sản xuất ra hàng hoá càng lớn hay hao phí càng nhiều
thì giá trị hàng hoá càng lớn.Ơ đây có mối quan hệ chặt chẽ giữa giá trị của một hàng
hoá với năng suất lao động và số lợng lao động hao phí đó là lợng giá trị một hàng hoá
tỷ lệ thuận với số lợng lao động hao phí và tỷ lệ nghịch với năng suất lao động để sản
xuất ra hàng hoá đó.Mặt khác năng suất lao động lại phụ thuộc vào nhiều nhân tố nh
trình độ khéo léo của ngời lao động sự phát triển của khoa học kĩ thuật ,đièu kiện tự
nhiên do đó khi nhng nhân tố này phát triển thì kéo theo nó là giá trị của từng đơn vị
hàng hoá giảm xuống.
Gía trị của hàng hoá là khái niệm trừu tợng nó chỉ bộc lộ qua trao đổi và ngay
cả khi trao đổi thì căn cứ để xác định đó là thời gian lao động xã hội cần thiết cũng
không thấy rõ.Nhng trên thị trờng thì cái nhìn thấy rõ nhất đó là giá cả của hàng hoá
đó,giá cả của hàng hoá chính là biểu hiện của giá trị hàng hoá trên thị trờng.Cùng với
sự phát triển của kinh tế hàng hoá để thuận lợi cho trao đổi mua bán hàng hoá trên thị
trờng là sự ra đời của tiền tệ ,một loại hàng hoá đặc biệt đợc tách ra làm vật ngang giá
chung cho các hàng hoá khác.Nó thể hiện lao động xã hội và biểu hiện quan hệ giũa
những ngời sản xuất hàng hoá hay nó là biểu hiện giá trị của hàng hoá.Nhờ tiền tệ mà
quá trình trao đổi mua bán hàng hoá trở lên thuận lợi hơn,thời gian thực hiện trao đổi
giảm xuống .
1.2. Quy luật giá trị
1.2.1 Quy luật giá trị
Kinh tế hàng hoá ở đó sản phẩm của lao động đợc trao đổi mua bán trên thị tr-
ờng,cũng nh mọi hình thức sản xuất khác nó có nhng quy luật của chính nó ,của riêng
nó.Những quy luật kinh tế đó ra đời phát huy tác dụng và mất đi không phụ thuộc vào
ý chí chủ quan của con ngời,nhng nó hoạt động thông qua những hoạt động kinh tế
của con ngời,nó không phải là những quy luật tự nhiên.Một trong những quy luật kinh
tế cơ bản của kinh tế hàng hoá đó là quy luật giá trị .
Quy luật giá trị yêu cầu mọi hoạt động trao đổi hàng hoá phải dựa trên cơ sở l-
ợng giá trị của hàng hoá hay thời gian lao động xã hội cần thiết để sản xuất ra hàng
hóa.Hai hàng hoá có giá trị sử dụng khác nhau có thể trao đổi đợc với nhau khi chúng
có lợng giá trị ngang nhau .Nh vậy thì trao đổi phải theo nguyên tắc ngang giá và một
hàng hoá chỉ đợc chấp nhận trên thị trờng hay bán đợc khi mà hao phí lao động cá biệt
cá của nó phù hợp với hao phí lao động xã hội cần thiết để sản xuất ra hàng hoá
đó.Qúa trình trao đổi hàng hoá là sự chấp nhận giá trị của hàng hoá hay trên thị trờng
thì đó là sự chấp nhận giá cả của hàng hoá đó.
Gía cả một hàng hoá phụ thuộc vào giá trị của hàng hoá đó do giá trị là cơ sở
của giá cả tuy nhiên trong kinh tế hàng hóa còn nhiều nhân tố tác dộng tới giá cả của
6
hàng hoá nh quan hệ cung cầu ,tình trạng độc quyền Trong quan hệ cung cầu tác
động tới giá hàng hoá có ba mặt đó là sự cạnh tranh của những ngời cùng bán một
loại hàng hoá để có thể bán một lợng hàng hoá nhiều nhất buộc họ phải hạ giá bán,sự
cạnh tranh giữ những ngời cùng mua một loại sản phẩm làm cho giá của hàng hoá
tăng và cuối cùng là sự cạnh tranh giữa những ngời bán và những ngời mua sẽ xác
định giá cả của hàng hoá tăng hoặc giảm nhng dù thế nào thì giá của hàng hoá đó luôn
ngang bằng với chi phí sản xuất hàng hoá đó .Gía cả thực tế của một hàng hoá luôn
luôn cao hơn hay thấp hơn chi phí sản xuất hàng hoá đó nhng trong một phạm vi nhất
định thì sự bù trừ giữ tăng và giảm lại làm cho giá cả hàng hoá đúng bằng chi phí sản
xuất hàng hoá đó.Việc giá cả do chi phí sản xuất quyết định cũng nh do thời gian lao
động xã hội quyết định hay giá cả do giá trị của hàng hoá quyết định .Bởi chi phí sản
xuất bao gồm lao động quá khứ và lao động hiên tại .Nh vậy giá cả của hàng hoá luôn
lên xuống xoay quanh giá trị của nó .Cmác gọi đây là vẻ đẹp của quy luật giá trị ,giá
trị là trục còn giá cả thị trờng lên xuống xoay quanh trục giá trị đó .Đối với mỗi hàng
hoá thì giá cả của nó có thể cao hơn hay thấp hơn giá trị của chúng nh ng trên hết tổng
giá cả của mọi hàng hoá luôn bằng tổng giá trị của chúng.
Nh vậy quy luật giá trị gắn liền với nó là sự cạnh tranh giữa các chủ thể kinh tế để
làm cho hao phí lao động cá biệt của mình phù hợp với hao phí lao động xã hội từ đó
đảm bảo rằng sản phẩm của mình đợc chấp nhận trên thị trờng .Nguyên tắc trao đổi
ngang giá buộc nhà sản xuất phải luôn quan tâm đến giá cả của hàng hoá họ sản xuất
trên thị trờng.
1.1.2 Vai trò của quy luật giá trị
Tác dụng điều tiết sản xuất
Trong sản xuất thì tác dụng của quy luật giá trị đó là điều tiết viêc phân phối t liệu
sản xuất và sức lao động gữa các ngành sản xuất thông qua sự biến động của giá cả
hàng hoá. Bởi giá cả của hàng hoá luôn biến động xoay quanh giá trị của hàng hoá
,luôn có sự không cân đối giữa cung và cầu của các mặt hàng. Hơn nữa các nhà sản
xuất luôn muốn tối đa hoá lợi ích của bản thân chính vì vậy ở những ngành sản xuất
mà d cầu thì các nhà xản xuất sẽ tập trung vào ngành sản xuất đó .Ngợc lại những
ngành mà d cung ,giá cả hàng hoá hạ xuống thì các nhà sản xuất sẽ chuyển bớt t liệu
sản xuất và sức lao động ra khởi ngành này để đầu t vào ngành có giá cả hàng hoá
cao .Nh vậy sự biến động của giá cả xung quanh giá trị có tác dụng điều tiết ,phân
phối t liệu sản xuất và sức lao động mọt cách tự phát vào những ngành khác nhau.
Bên cạnh tác dụng điều tiết sản xuất giữa các ngành sản xuất thì quy luật giá trị
mà biểu hiện của nó là giá cả của hàng hoá còn có tác dụng điều tiết hàng hóa từ khu
vực này sang khu vực khác ,từ vùng này sang vùng khác.Bởi với những điều kiện sản
xuất ,điều kiện tự nhiên khác nhau thì có thể dãn đến sự khác biệt lớn về giá của hàng
7
hoá ở các vùng khác nhau trong điều kiện nhất định do đó các nhà xản xuất sẽ thực
hiện việc điều tiết nguồn hàng từ nơi có giá thấp đến nơi có giá cao để thu đợc nhiều
lợi nhất.
Tác dụng kích thích phát triển sức sản xuất
Quy luật cạnh tranh
Kinh tế hàng hoá gắn liền với nó là quy luật cạnh tranh giữa các chủ thể kinh tế để
nhằm thu đợc lợi ích kinh té cao nhất cho bản thân minh các nhà sản xuất luôn cố
gắng giảm tối đa chi phí sản xuất của mình hay là tìm cách tối thiểu hao phí lao động
cá biệt của bản thân mình .Bởi để có thể hất cẳng nhà t bản khác thì chính họ phải làm
sao giảm giá bán hàng hoá của mình,muốn thế mà không bị sạt nghiệp thì buộc họ
phải tăng năng suất lao động .Để có thể tăng năng suất lao động buộc các nhà sản xuất
phải không ngừng cải tiến kĩ thuật máy móc,không ngừng phân công lao động một
cách tỉ mỉ hơn ,nâng cao năng lực quản lý.Khi công nhân đợc sử dụng ngày càng
nhiều cùng với máy móc đợc sử dụng ngày càng nhiều thì khối lợng sản phẩm cũng
không ngừng tăng lên và việc quyết định về giá của sản phẩm là rất cần thiết đối với
nhà sản xuất một mặt đảm bảo sử dụng lợi thế để thắng trong cạnh tranh với nhà sản
xuất khác đồng thời đảm bảo vẫn có lãi .Nhng đặc quyền về công nghệ cũng nh quyết
định giá của nhà sản xuất không đợc lâu bởi các đối thủ cũng sẽ dùng những máy
móc nh thế ,lối quản lý và phân công lao động nh thế .Nh thế việc cải tiên trở thành
phổ biến và cùng với nó là giá cả của hàng hoá cũng giảm dới chi phí sản xuất trớc kia
,phù hợp với chi phí sản xuất mới hay phù hợp với giá trị của hàng hoá trong điều kiện
mới.
Ngay trong hiện tợng giá trị là biểu hiện của lao động xã hội nằm trong bản thân
các sản phẩm t nhân cũng chứa đựng khả năng có sự chênh lệch giữa lao động ấy với
lao động cá nhân nằm ngay trong sản phẩm.Vì thế nó luôn buộc các nhà sản xuất phải
không ngừng làm giảm hao phí lao động cá biệt kết tinh trong hàng hoá đó ,đó là quá
trình thúc đẩy lực lợng sản xuất phát triển.
Tuy nhiên ngay trong mặt tích cực này của quy luật giá trị thì nó cũng bộc lộ hạn
chế ,bởi không chỉ nó yêu cầu nhà sản xuất phải hạ thấp mức hao phí lao động cá biệt
để có thể giành thắng lợi trong cạnh tranh ,giảm giá của hàng hoá cũng nh chạy theo
các hàng hoá có giá cả cao mà mặt khác do chạy theo lợi ích bản thân chạy theo hàng
hoá có giá cao dễ dẫn đén tình trạng d thừa một loại hàng hoá nào đó,làm lãng phí lao
động xã hội.
Tác dụng bình tuyển tự nhiên ,phân hoá ngời giàu ngời nghèo.
Khi cạnh tranh chạy theo giá trị có thể lao động cá biệt của một ngời sản xuất
không nhất trí với lao động xã hội cần thiết .Khi đó những ngời sản xuất đợc phân chia
8
thành những ngời có hao phí lao động cá biệt thấp hơn hao phí lao động xã hội và
những ngời có hao phí lao động cá biệt cao hơn hao phí lao động xã hội .Những ngời
mà hao phí lao đọng cá biệt thấp hơn hao phí lao động xã hội sẽ có nhiều điều kiên để
thực hiện mở rộng quy mô sản xuất ,còn những ngơì mà hao phí lao động cá biệt cao
hơn hao phí lao động xã hội thì do không bù đắp đợc đủ chi phí sản xuất nên họ bị nỗ
vốn thậm chí phá sản.Nh vậy quy luật giá trị đã đánh giá ngời sản xuất,đảm bảo sự
bình đẳng giữa những ngời sản xuất,nó mang lại phần thởng cho ngời làm ăn tốt và
hình phạt cho những ngời làm ăn kém.
Đồng thời với thực hiện bình tuyển ngời sản xuất thành ngời giỏi và ngời kém thì
quy luật giá trị cũng phân hoá ngời sản xuất thành ngời giàu và ngời nghèo.Ngời sản
xuất có hao phí lao động thấp hơn hao phí lao động xã hội sẽ thu đợc nhiều lợi hơn và
không ngừng tăng quy mô sản xuất,sẽ trở thành chủ còn những ngời có hao phí lao
động cao hơn hao phí lao động xã hội sẽ lỗ vốn,bần cùng hoá trở thành ngời làm
thuê .Cùng với sự phát triển của kinh tế hàng hoá thì hố ngăn cách giữa ngời giàu với
ngời nghèo ngày càng tăng.Đây là một khuyết tật của kinh tế hàng hoá.
1.3. Trung quốc phát triển kinh tế hàng hoá
Trớc năm1978 kinh tế Trung quôc trong tình trạng sản xuất không đủ đáp ứng nhu
cầu trong nớc bởi dân số quá đông,sản xuất nhìn chung vẫn ở trình độ thấp ,đời sống
nhân dân thấp trong tình trạng bất ổn định ,nhập siêu là chính ,trớc tình hình đó của
nền kinh tế Đảng cộng sản trung quốc đã quyết dịnh cải tổ nền kinh tế ,ngời đứng đầu
là Đặng tiểu Bình,thực hiện phát triển kinh tế xã hội chủ nghĩa mang màu sắc trung
quốc.Ban đầu thực hiện thay đổi trong nhận thức lãnh đạo và toàn dân về kinh tế xã
hội chủ nghĩa ,phải chuyển kinh tế kế hoạch sang nền kinh tế thị trờng ,phát triển các
thành phần kinh tế mà trớc đây coi là phi chủ nghĩa xã hội . Tiếp đó là quá trình thay
đỏi về lý luận cho rằng muốn tiến lên chủ nghĩa xã hội có nhiều con đờng có nhiều
cách thức để tiến lên chứ không phải chỉ có một con đờng duy nhất là kinh tế tập trung
,một trong những con đờng đó là kinh tế hàng hoá kinh tế mà trớc đây cho rằng đó là
kinh tế t bản chủ nghĩa.Sau đó trung quốc từng bớc thực hiên quá trình chuyển đổi
kinh tế trên các vùng nhỏ sau khi đánh giá mới tiến hành nhân rộng ra nhiều khu
vực ,và toàn bộ nền kinh tế.Sau thời gian tiến hành thử nghiệm dã khẳng định kinh tế
hàng hoá là phơng thức phát triển kinh tế hàng hoá là phơng thức đa trung quốc lên
chủ nghĩa xã hội.
9
CHƯƠNG 2
THƯC TRạNG QUá TRìNH VậN DụNG QUY LUậT GIá TRị
Và NHữNG GIảI PHáP NHằM VậN DụNG TốT QUY LUậT
GIá TRị ở VIệT NAM TRONG ThờI GIAN TớI

2.1 Đặc điểm kinh tế Việt Nam
2 1 Kinh tế Việt Nam trớc năm 1986
Nền kinh tế Nông nghiệp lạc hậu bị tàn phá nặng nề bởi chiến tranh
Việt Nam là một nớc nông nghiệp thuần lúa nớc do đó tình trạng sản xuất thủ
công là chủ yếu ,không có phơng tiện cơ giới để sản xuất ,sản xuất công nghiệp còn sơ
khai,lao động thủ công trình độ tri thức thấp,chủ yếu mù chữ.Trải qua hai cuộc chiến
tranh giữ nớc vĩ đại chống Pháp và chống Mỹ kinh tế Việt Nam đã bị tổn thất nặng
nề.Pháp sau khi chiếm đóng Việt Nam đã thực hiện nhiều chính sách nhằm vơ vết cạn
kiệt tài nguyên của nớc ta ,chúng thực hiện chính sách đồng hoá nhân dân ta ,chung đã
từ thủ đoạn nào để có thể thu đợc cang nhiều lợi càng tốt,không quan tâm đến sự phát
triển của Việt Nam . Do đó dù sau thời gian dài chịu sự đô hộ của thực dân Pháp nhng
kinh tế Việt Nam không những không phát triển mà còn bị làm cho què quặt ,chủ yếu
phát triển ngành công nghiệp khai thác nhng cũng sử dụng lao động thủ công là
chính.Thời kì kháng chiến chống Mỹ thì nền kinh tế Việt Nam bị chia thành hai
nửa ,miền Bắc tiến lên chủ nghĩa xã hội còn miền Nam thì đang tiến hành chiến tranh
cứu quốc.Đế quốc Mỹ với tiềm lực về kinh tế và quân sự đã tiến hành chiến tranh xâm
lợc Việt Nam chúng sử dụng một lực lợng quân sự lớn với vũ khí hiện đại sức tàn phá
lớn do vậy không những nớc ta chịu nhiều hậu quả do bom đạn của chúng gây ra mà
chúng ta còn mất nhiều sức lực để chống chọi với chúng.Sau khi đất nớc giành độc lập
thì cả nớc ta cùng tiến lên chủ nghĩa xã hội trong điều kiện nền kinh tế bị tàn phá nặng
nề sau chiến tranh.
Mô hình kinh tế kế hoạch hoá tập trung
Trong thời kì từ năm 1975 đến năm 1986 chúng ta áp dụng mô hình kinh tế kế
hoạch hoá tập trung,một mô hình kinh tế tuy trong diều kiện khi miền Bắc tiến hành
thực hiện trớc năm 1975 đã đem lại nhiều kết quả tốt giúp phát triển kinh tế tạo lợng
vật chất lớn phục vụ chiến tranh,.Cả trong thời gian đầu sau khi chiến tranh kết thúc
mô hình kinh tế tập trung bao cấp cũng đã góp phần ổn định đời sống kinh tế xã hội
của nớc ta , nâng cao đời sống nhân dân ,góp phần phát triển kinh tế .Nhng do áp dụng
một cách máy móc mô hình của Liên Xô trong khi điều kiện kinh tế xã hội của nớc ta
khác biệt so với Liên Xô nên mô hình này đã dần cản trở quá trình phát triển kinh tế n-
ớc ta.Một mô hình kinh tế mà ở đó các hoạt đông kinh tế đều đợc điều khiển từ một
10
trung tâm đó là nhà nớc,nhà nớc quản lý nền kinh tế bằng mệnh lệnh hành chính hay
bằng các chỉ tiêu pháp lệnh .Hơn nữa các cơ quan quản lý nhà nớc lại can thiệp sâu
vào hoạt động kinh tế, trong khi cán bộ kém năng lực quản lý kinh tế nhng quan liêu
cửa quyền.Một mô hình kinh tế mà quan hệ hàng hoá tiền tệ bị bỏ qua ,thay vào đó là
chế độ cấp phát và bao cấp,bao cấp qua giá qua tiền lơng và bao cấp cả vốn sản xuất
mà không chịu bất cứ ràng buộc bất cứ trách nhiệm nào. Tất cả đã đa nền kinh tế nớc
ta thành một nền kinh tế chỉ huy,coi kinh tế hàng hoá là kinh tế t bản nên đã dần bóp
nghẹt các hoạt động sản xuất kinh doanh cá thể.
Chính vì vậy kinh tế Việt Nam những năm 80của thế kỉ trớc ở trong tình trạng
khủng hoảng toàn diện,lạm phát cao ở mức ba con số ,tình trạng khan hiếm hàng
hoá,hoạt động sản xuất không có hiệu quả.hoạt động ngoại thơng thì chủ yếu là nhập
khẩu hay ở trong tình trạng nhập siêu ,tỷ lệ thất nghiệp cao .Trình độ cơ sở vật chất và
công nghệ lạc hậu ,sản xuất thủ công là chủ yếu ,nền kinh tế không có khả năng cạnh
tranh thị trờng còn sơ khai .Trong khi đó thì đội ngũ quản lý trình độ năng lực hạn
chế ,hoạt động theo kiêu quan liêu cửa quyền. Đời sống nhân dân khó khăn ,thu nhập
thấp ,khan hiếm hàng tiêu dùng .Tình trạng giáo dục y tế ,các hoạt động phúc lợi xã
hội không mấy sáng sủa .Gây lên tình trạng bất ổn trong tâm lý dân chúng,làm suy
giảm niềm tin về đảng và con đờng mà đảng và nhân dân đã chọn là con đờng tiến lên
chủ nghiã xã hội .
2.2.2 Kinh tế Vệt Nam thời kì đổi mới từ năm 1986
Đứng trớc tình hình khủng hoảng của kinh tế đó Đảng cộng sản Việt Nam vẫn
khẳng định con dờng đi lên chủ nghĩa xã hội của Việt Nam là hoàn toàn đúng đắn phù
hợp với xu thế phát triển,phù hợp với quy luật khách quan.Đồng thời đảng ta đã quyết
định thực hiện từng bớc cải tổ nền kinh tế ,từng bớc chuyển đổi cơ cấu kinh tế từ kế
hoạch hoá tập trung sang nền kinh tế thị trờng có sự điều tiết của nhà nớc theo định h-
ớng xã hội chủ nghĩa.
Nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần
Nền kinh tế nớc ta đó là một nền kinh tế nhiều thành phần bao gồm thành phần
kinh tế Nhà nớc ,kinh tế tập thể ,kinh tế cá thể,kinh tế t bản nhà nớc ,kinh tế t bản chủ
nghĩa ,đang ta khẳng định các thành phần kinh tế tồn tại khách quan tơng ứng với trình
độ phát triển của lực lợng trong giai đoạn này.Kinh tế nhiều thành phần góp phần đáp
ứng ngày càng cao nhu cầu xã hội ,góp phần xã hội hoá sản xuất.Mỗi thành phần kinh
tế có một quy luật vận động riêng do đó thể hiện tính phức tạp trong việc quản lý nền
kinh tế theo định hớng xã hội chủ nghĩa.
Nền kinh tế mở với xu thế hội nhập khu vực và thế giới
11
Kinh tế hàng hoá ra đời và phát triểnđã làm phá vỡ các quan hệ kinh tế truyền thống
của nền kinh tế khép kín,kinh tế khép kín gắn liền với sản xuất nhỏ ,khép kín,một nền
kinh tế kém phát triển bảo thủ trì trệ ,còn kinh tế hàng hoá làm cho các mối quan hệ
kinh tế không còn bó hẹp trong phạm vi một quốc gia nó gắn liền với thị trờng thế
giới.Thực tế kinh tế Việt Nam trong giai doạn trớc ,kinh tế tuy có quan hệ với bên
ngoài nhng chủ yếu là quan hệ một chiều nhập ,do vậy không tận dụng đợc nguồn lực
bên ngoài,ít học hởi kinh nghiệm khoa học công nghệ .Việc mở rông quan hệ hợp tác
với bên ngoài dới sự lãnh đạo của đảng là một định hớng đúng đắn bởi để không bị
biến dạng khi tham gia các mối quan hệ kinh tế với bên ngoài đòi hỏi phải có sự lãnh
đạo của đảng.Mở rộngquan hệ hợp tác với bên ngoài phải tận dụng triệt dể các cơ hội
để thu hút vốn đầu t nớc ngoài,tranh thủ học hỏi khoa học công nghệ để không ngừng
phát triển kinh tế nớc ta.
Nền kinh tế đảm bảo sự quản lý của nhà nớc
Tuy nhiên để đảm bảo không trệch hớng xã hội chủ nghĩa thì phải đảm bảo sự
quản lý của nhà nớc,bởi kinh tế hàng hoá cũng cho thấy những hạn chế của nó nh bất
bình đẳng xã hội phân hoá ngời giàu ngời nghèo điều này đi ngợc lại với mục tiêu phát
triển kinh tế xã hội của chủ nghĩa xã hội hơn nữa tình trạng khủng hoảng ,thất
nghiệp,ô nhiễm môi trờng Quản lý của nhà nớc bằng luật pháp các công cụ chính
sách kinh tế vĩ mô ,làm cho các quy luật kinh tế phát huy tác dụng hợp lý,hạn chế
những tác động không mong muốn đến nền kinh tế .
Phát triển kinh tế thị trờng ở nớc ta với sự đa dạng các thành phần kinh tế ,thực hiện
mở của nền kinh tế là diều kiện để quy luật giá trị một quy luật cơ bản của kinh tế
hàng hoá hoạt động phát huy tác dụng .Tuy nhiên việc nắm bắt quy luật là rất cần thiết
bởi bên cạnh những tác động tích cực thúc đẩy phát triển kinh tế thì quy luật này còn
bộc lộ nhiều hạn chế tác động không tốt tới phát triển kinh tế do đó nắm bắt quy luật
sẽ giúp đa ra những quyết định hợp lý tạo điều kiện phát huy tác dụng mong muốn hạn
chế những tác động không mong muốn.
2.2 Qúa trình vận dụng và vai trò của quy luật giá trị đối với kinh tế Việt
Nam từ năm 1986 đến năm 2002
2.2.1. Thúc đẩy phát triển lực lợng sản xuất
Kinh tế thị trờng với quy luật kinh tế cơ bản của nó là quy luật giá trị buộc các nhà
sản xuất phải không ngừng cạnh tranh nhằm giảm tối đa hao phí lao động cá biệt hay
không ngừng tăng năng suất lao dộng bằng con đờng cải tiến công nghệ,hợp lý quản
lý sản xuất ,phân công lao động một cách tỷ mỷ hơn .
Qúa trình công nghiệp hoá-hiện đại hoá ở Việt Nam
12
Để có thể phát triển kinh tế trong điều kiện kinh tế mở của cạnh tranh ngày càng khốc
liệt ,tiến lên chủ nghĩa xã hội đảng và nhà nớc ta đã thực hiện quá trình công nghiệp
hoá hiện đại hoá là một bớc vận dụng quy luật giá trị trong điều kiện nớc ta hiện
nay.Để khai thác đạt hiệu quả tối đa tiềm năng kinh tế đất nớc về nhân công tài
nguyên thiên nhiên vị trí địa lý sử dụng đợc nhiều lợi thế so sánh của một nớc phát
triển muộn về công nghiệp ,phù hợp xu thế của cách mạng khoa học kĩ thuật công
nghệ ,xu hớng toàn cầu hoá ,khu vự hoá và đem lại hiệu quả kinh tế cao . Đồng thời
với quá trình đó là quá trình phân công lại lao động xã hội .phân công lao đọng xã hội
là là sự chuyên môn hoá lao động do đó chuyên môn hoá sản xuất giữa các nghành
,trong nội bộ từng ngành và giữa các vùng trong nền kinh tế quốc dân .Phân công lao
động xã hội có tác dụng là đòn bẩy của sự phát triển công nghệ sản xuất và năng xuất
lao động .Cùng với nó là quá trình phát triển của khoa học kĩ thuật và công nghệ ,phất
triển của giáo dục sẽ thúc đẩy phát triển cơ cấu kinh tế theo hớng hiên đại.
Phát triển khoa học công nghệ ,trình độ ngời lao động dợc nâng cao
Đảng và nhà nớc đã khẳng định khoa học giáo dục là quốc sách hàng đầu,do vậy
trong thời gian qua nhà nớc ta đã đầu t nhiều cho giáo dục đào tạo, cũng nh toàn xã
hội đã thực sự quan tâm đến sự nghiệp giáo dục đào tạo. Chất lợng giáo dục không
ngừng tăng ở tất cả các cấp học từ tiểu học cho đến cao đẳng ,đại học và các cấp trên
đại học .Cùng với nó là quá trình tăng lên về số lợng học sinh ở tất cả các cấp học ,từ
đó trình độ của ngời lao động không ngừng tăng đáp ng nhu cầu ngày càng cao về mặt
chất lợng lao động trong thời đại mới.Ngời lao động giờ đây đã đợc trang bị trình độ
khoa học ,trình độ tri thức ngày càng tăng.
Khả năng cạnh tranh của hàng hoá Việt Nam không ngừng tăng
Kinh tế hàng hoá buộc nhà sản xuất phải không ngừng giảm hao phí lao động cá biệt ,phải
luôn cạnh tranh với nhau để thu đợc lợi ích kinh tế tối đa,chính vì vậy nhà sản xuất không
ngừng phát triển kĩ thuật công nghệ ,trình độ quản lý. Nhà nớc cũng nh các doanh nghiệp
đều quan tâm đến khả năng cạnh tranh của hàng hoá mình sản xuất ra cũng nh hàng hoá của
đất nớc tên thị trờng thế giới đối với kinh tế nhà nớc thì đợc sự trợ sức của nhà nớc ,chính vì
vậy nhà nớc đã thực hiên nhều chính sách hỗ trợ quá trình các doanh nghiệp đầu t công
nghệ ,nhập công nghệ và tiến hành nghiên cứu công nghệ mới ,tích cực hỗ trợ các hoạt động
nâng cao khả năng cạnh tranh của hàng hoá .Bên cạnh đó nhà nớc cũng không bỏ qua sự
quan tâm tới kinh tế ngoài quốc doanh bởi đây là một động lực to lớn thúc đẩy kinh tế phát
triển . Các doanh nghiệp cũng không ngừng tự nâng cao khả năng cạnh tranh của mình bằng
quá trình phát triển công nghệ.
2.2.2. Điều tiết sản xuất và lu thông hàng hoá
Giao lu buôn bán giữa các vùng miền kinh tế
13
Một trong những tác dụng của quy luật giá trị đó là điều tiết sản xuất và lu thông
hàng hoá.Đảng và Nhà nớc đã thực hiện nhiều chính sách hỗ trợ quá trình phân phối
sản phẩm , tình trạng ngăn sông cấm bị xoá bỏ ,không còn tình trạng hạn chế buôn
bán giữa các chủ thể kinh tế với nhau .Thực hiên nâng cấp cơ sơ hạ tầng ,điều kiện
giao thông thuận lợi cho viêc giao lu buôn bán giữa các vùng miền với nhau ,hàng hoá
có thể đi khắp nơi trên đất nớc.Qúa trình thúc đẩy giao lu buôn bán giữa các vùng
cũng là điều kiện thuận lợi để khai thác có hiệu quả các nguồn lực kinh tế của các
vùng miền .
Phát triển kinh tế cá vùng kinh tế
Đã có nhiều chính sách phát triển kinh té ở các vùng kinh tế khó khăn ở các vùng
miền núi trong điều kiện giao lu buôn bán gặp nhiều khó khăn , nhằm khai thác có
hiệu quả kinh tế các vùng khó khăn . Đồng thời với việc hỗ trợ phát triển kinh tế các
vùng khó khăn ,còn nhiều chính sách phát triển kinh tế các vùng trọng điểm,các trung
tâm công nghiệp của nớc ta là Hà Nội ,thành phố Hồ Chí Minh và thành phố Đà
Nẵng ,đồng thời là phát triển kinh tế các vùng lân cận thành các thành phố công
nghiệp vệ tinh của các trung tâm kinh tế đó .Nhà nớc đã cho phép các trung tâm công
nghiệp,các tỉnh thành phố đựơc trong phạm vi quyền lực của mình đơc phép thực hiện
các chính sách của mình nhằm thu hút đầu t trong nớc cũng nh đầu t nớc ngoài và
càng ngày phạm vi cho phếp ngày càng đợc mở rộng ,nâng cao khả năng phát triển
kinh tế vùng.
2.2.3. Những biểu hiện của quy luật giá trị
Kinh tế Việt Nam phát triển những bớc vợt bậc
Từ một nền hinh tế tăng trởng thấp đang ở trong tình trạng khủng hoảng trầm trọng
trớc năm 1986 nền kinh tế nớc ta đã từng bớc khôi phục và phát triển ổn định với mức
tăng trởng cao .Tốc đọ tăng trởng bình quân hàng năm thời kì 1986-1990 là 3.9%, thờ
kì 1991-1995 là 8.2%, tù 1995 dến 2000 là khoảng 7% ,năm 2001 là 6.8%.Nh vậy
kinh tế nơc ta trong thập kỉ 90 của thế kỉ hai mơi đợc đánh giá là vào loại cao nhất của
khu vực kinh tế thái bình dơng.
Từ nền kinh tế siêu lạm phát ở mức ba con sổ trớc năm 1988 ,đến năm 1989 lạm phát
đã đợc kìm chế ,lạm phát năm 1986là774.75%,năm 1991 là 67.6%,năm 1997 là
3.6%.Nh vạy từ giữa những năm 90 của thế kỉ hai mơi kinh tế Việt Nam đã đợc coi là
ra khỏi tình trạng khủng hoảng và kinh tế tiếp tục những bớc phát triển của mình .
Đến năm 2001 kinh tế Việt Nam vẫn tiếp tục phát triển ổn định với tốc độ phát triên
cao 6.8%,cơ cấu kinh tế theo GDP đang chuyển dịch theo chiều hớng tích cực ,giảm tỷ
trọng nông nghiệp,tăng tỷ trọng công nghiệp ,tỷ trọng công nghiệp là 38% ,dịch vụ là
39% ,nông lâm thuy sản là 23% ,kim ngạch xuất khẩu tăng 4.5%.Trong tình hình kinh
tế thế giới đang suy giảm thì những bớc tăng trởng của kinh tế Việt Nam là rất đáng
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét