MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Nếu coi lịch sử văn học là một dòng chảy thì năm 1975 là một khúc
ngoặt quan trọng trong dòng chảy văn học Việt Nam hiện đại. Khúc ngoặt ấy tạo
nên mạch chảy mới mạnh mẽ hơn, sâu lắng hơn. Những thành tựu sau năm 1986 đã
mang đến cho văn chương Việt Nam gương mặt mới, diện mạo mới. Nhưng cội
nguồn, gốc rễ của sự đổi mới ấy bắt nguồn từ trước đó, từ ngay sau năm 1975.
Khoảng thời gian mười năm sau 1975 là một khoảng lặng, một nốt nhạc trầm
nhưng chính nó lại tạo nên sự nối tiếp, phát triển của giai đoạn trước và sau con số
lịch sử 1975. Văn học Việt Nam thời kỳ hậu chiến (1975- 1985) là một giai đoạn
đặc biệt, vừa tiếp nối giai đoạn trước trên nhiều phương diện, nhiều đặc điểm vừa
sáng tạo dựa trên những nhận thức mới, cảm hứng mới để tạo ra những dấu hiệu
chuyển biến quan trọng của nền văn học. Sự tồn tại đan xen của những yếu tố cũ -
mới, truyền thống - cách tân… đã tạo nên diện mạo và đặc trưng của giai đoạn này
- giai đoạn giao thời thứ hai trong lịch sử văn học Việt Nam hiện đại - tạo tiền đề
tích cực cho những cách tân của thời kỳ đổi mới.
Được coi là thể loại có nhiều thành tựu nhất, văn xuôi đã có những
chuyển biến đáng kể trong việc tiếp cận, chuyển tải hiện thực và trong nghệ thuật
trần thuật. Văn xuôi giai đoạn 1975-1985 bắt đầu thể hiện sự chuyển đổi về đề tài,
cảm hứng, các phạm trù thẩm mĩ, quan niệm nghệ thuật về hiện thực, về con
người… Bên cạnh những dòng truyền thống, quen thuộc xuất hiện những dòng
chảy mới lạ. Các gương mặt tiêu biểu như Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Khải, Ma
Văn Kháng, Lê Lựu, Nguyễn Mạnh Tuấn trở thành những #+,- cho
công cuộc đổi mới văn học từ 1986. Văn xuôi 1975-1985 đã có một diện mạo riêng
- vừa là sự nối tiếp văn xuôi chiến tranh vừa là điểm tựa của văn xuôi đổi mới.
Tìm hiểu giai đoạn đầu tiên trong cuộc chuyển đổi tư duy văn học từ sau
năm 1975, chúng tôi có được hình dung đầy đủ và khách quan về lịch sử văn học,
từ đó khẳng định vị trí, tầm vóc của giai đoạn 1975-1985 trong dòng chảy văn
chương Việt Nam sau 1975.
1
Nghiên cứu văn xuôi Việt Nam thời kỳ hậu chiến (1975-1985) dưới góc độ
văn học sử để có cái nhìn khái quát, hệ thống về diện mạo của giai đoạn văn xuôi
mang tính chuyển tiếp với những đặc trưng và giá trị không nhỏ của nó trong sự
vận động và phát triển của văn xuôi, kết quả nghiên cứu giúp cho quá trình giảng
dạy, học tập văn học Việt Nam từ 1945 - 1975 đến văn học sau 1975 ở phổ thông
và đại học được sâu sắc hơn.
2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
./0'#%
Đối tượng nghiên cứu của luận án là "1234/5678/597 (trong
tương quan so sánh với giai đoạn 1945 - 1975 và giai đoạn sau 1986).
..:-"
- Phạm vi vấn đề nghiên cứu: luận án nghiên cứu sự vận động của văn xuôi
hậu chiến thông qua những nét cơ bản của diện mạo và những dấu hiệu đổi mới
trong cảm hứng sáng tác, trong một số phương diện nghệ thuật của văn xuôi
1975-1985.
- Phạm vi tư liệu: các tác phẩm thuộc các thể loại ;<3=<
> của các tác giả tiêu biểu trong phạm vi mười năm 1975-1985.
?@'#%AB"C#+1DE<
"3&F#3AGH2" <IAB#%!
J;IAB#%ID!3+D'
"1J<KLM"(,K&;*#N"1J&(+O
P*D'AB&;#N/567"D/59QR#%
D;DD"NAB-/5678/597
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
S/PTM
- Khẳng định vị trí của giai đoạn 1975-1985 trong văn học Việt Nam sau 1975.
- Khẳng định đóng góp của văn xuôi thời kỳ hậu chiến trong tiến trình văn
học: kế thừa thành tựu của văn xuôi 1945 - 1975, văn xuôi 1975 - 1985 là sự vận
động tất yếu và tích cực của văn xuôi thời kỳ đổi mới.
2
S.43"T
- Phác họa diện mạo văn xuôi thời kỳ hậu chiến (qua các chặng đường, các
khuynh hướng và các thể loại)
- Khảo sát các tác phẩm văn xuôi tiêu biểu giai đoạn 1975-1985 ở hai mảng
đề tài chính (đề tài chiến tranh và đề tài thế sự, đời tư), phân tích tìm ra sự chuyển
đổi trong cảm hứng sáng tác và những dấu hiệu cách tân về nghệ thuật, từ đó chỉ ra
đặc trưng của văn xuôi Việt Nam thời kỳ hậu chiến: tính chất trung chuyển, tạo đà
mạnh mẽ cho văn xuôi sau 1986.
4. Phương pháp nghiên cứu
Chúng tôi sử dụng các thao tác phân tích, tổng hợpkết hợp với các phương
pháp khác:
- Phương pháp loại hình: phương pháp này giúp chúng tôi bao quát mảng
văn xuôi 1975 - 1985 ở các thể loại tiểu thuyết, truyện ngắn, ký xét từ đặc điểm về
đề tài, cảm hứng và những chuyển biến, cách tân về nghệ thuật.
- Phương pháp so sánh: được sử dụng để chỉ ra những đặc điểm giống và
khác nhau của văn xuôi 1975 - 1985 với văn xuôi giai đoạn 1945-1975 và văn xuôi
sau 1986, từ đó chỉ ra những đóng góp của văn xuôi hậu chiến trong tiến trình văn
học Việt Nam hiện đại.
- Phương pháp hệ thống: nhìn văn xuôi hậu chiến như một hệ thống và đặt
nó trong hệ thống lớn hơn, phương pháp này giúp chúng tôi đánh giá những đặc
điểm và thành tựu của văn xuôi 1975 -1985 một cách khách quan và toàn diện.
- Phương pháp liên ngành:phương pháp liên ngành là sản phẩm của tư duy
hệ thống hiện đại, là sự liên kết các phương pháp riêng biệt của nhiều ngành khác
nhau. Sử dụng phương pháp này, chúng tôi có thể đặt văn xuôi hậu chiến trong một
cái nhìn đa chiều từ góc độ văn học, lịch sử, xã hội, văn hóa…
5. Đóng góp của luận án
- Luận án cung cấp cái nhìn hệ thống về văn xuôi giai đoạn này trong bước
chuyển của lịch sử văn học, góp phần khẳng định mối quan hệ giữa văn học và đời
sống xã hội.
3
- Từ phương diện đề tài, luận án tìm hiểu hai mảng đề tài chính (văn xuôi
viết về đề tài chiến tranh và văn xuôi viết về đề tài thế sự - đời tư) vừa mang tính kế
thừa, tiếp nối văn xuôi trước 1975 vừa tiềm ẩn khát vọng khám phá, đổi mới.
Nghiên cứu sự vận động trong cảm hứng sáng tác, luận án phát hiện, lý giải những
rạn nứt, những dấu hiệu mới trong khuôn khổ đề tài cũ và những cảm hứng mới.
Thông qua những kết nối, so sánh, luận án đã chỉ ra sự vận động, đổi mới về nghệ
thuật - khởi đầu cho những cách tân nghệ thuật độc đáo trong văn xuôi Việt Nam
sau 1986. Từ đó, luận án lý giải, khẳng định những đặc trưng của văn xuôi giai
đoạn này và giá trị của nó trong văn xuôi Việt Nam hiện đại: tính giao thời, chuyển
tiếp, là tiền đề tích cực cho văn xuôi thời kỳ đổi mới.
- Luận án góp phần khẳng định vị trí quan trọng của giai đoạn 1975-1985
trong quá trình chuyển đổi tư duy văn học Việt Nam sau 1975.
6. Cấu trúc của luận án
#U/VW","1234+) X/5678/597Y
#U.V@!WN"1"",,D
#USV@!(3#N"1"",,D!8+#
4
NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ VĂN XUÔI VIỆT NAM
THỜI KỲ HẬU CHIẾN (1975-1985)
1.1. Tổng quan tình hình nghiên cứu
!
"#$%&'(%)'*
Năm 1975 trở thành một cột mốc quan trọng trong lịch sử dân tộc Việt Nam,
kết thúc chiến tranh, chuyển sang thời kỳ hòa bình, độc lập, tự do. Năm 1986 là
bước ngoặt đánh dấu công cuộc đổi mới của đất nước. Gắn bó với những biến
chuyển chính trị - xã hội, văn học cũng mang những đặc điểm của từng giai đoạn
lịch sử. Ba mươi năm 1945 - 1975 là giai đoạn văn học chiến tranh hay còn được
gọi là văn học sử thi, từ 1986 được gọi là văn học đổi mới. Vậy thế nào là văn học
thời kỳ hậu chiến?
Z[ \ được hiểu một cách đơn giản là ZD\. Như vậy,
thời kỳ hậu chiến được tính từ mốc năm 1975. Tuy nhiên, mỗi người lại có một
quan điểm khác nhau về độ dài của nó. Có người tính mốc kết thúc là năm 1986
(trước đổi mới), cũng có người cho rằng thời kỳ hậu chiến kéo dài đến năm 1991…
Chúng tôi quan niệm rằng, thời kỳ hậu chiến là khoảng thời gian ngay sau chiến
tranh, khoảng thời gian có những đặc điểm lịch sử, xã hội riêng của giai đoạn vừa
khắc phục hậu quả chiến tranh, vừa bắt tay xây dựng đất nước. Trong văn học, thời
kỳ này vừa tồn tại những đặc điểm của văn học sử thi vừa xuất hiện những đặc
điểm của nền văn học mới.
Trong sự vận động của lịch sử, mười năm 1975 - 1985 đánh dấu giai đoạn
sau chiến tranh và trước đổi mới. Chúng tôi chọn phạm vi mười năm để khoanh
vùng đối tượng nghiên cứu của mình, cũng nhằm đặt nó trong sự chuyển tiếp giữa
văn xuôi thời chiến và văn xuôi thời bình. Vì vậy đặc trưng lớn nhất của văn xuôi
1975-1985 là sự chuyển tiếp giữa hai giai đoạn văn học: văn học chiến tranh và văn
học đổi mới. Xem xét văn xuôi 1975-1985 với ý nghĩa gạch nối, người nghiên cứu
hoàn toàn có thể so sánh những đặc điểm giống và khác biệt của giai đoạn này với
giai đoạn 1945 - 1975 và sau 1986. Văn xuôi 1975 - 1985 vừa có thể gọi là văn
5
xuôi hậu chiến vừa có thể coi là văn xuôi tiền đổi mới. Như vậy, văn xuôi giai đoạn
này sẽ vừa kế thừa, tiếp nối vừa tự thân vận động để vươn tới sự đổi mới.
Được đánh giá là thể loại xung kích trong văn học giai đoạn này, văn xuôi
trở thành mối quan tâm hàng đầu của giới nghiên cứu. Có khá nhiều ý kiến, bài viết
nghiên cứu một cách khái quát về nội dung, nghệ thuật của văn xuôi sau 1975 nói
chung và văn xuôi 1975-1985 nói riêng. Những bài viết đó được tập trung trong các
công trình: 21J234]^^8I"(,_D`"> (Nxb Giáo
dục 2004), 21J234D/5678I"(,"G-
(Nxb Giáo dục 2005),21J/5678/597AB"G# (Nxb Hội nhà văn
1997), 21J234D/567""3G-#+ (Nxb Giáo
dục Việt Nam 2009) và nhiều công trình khác… Nghiên cứu văn học 1975- 1985
với tư cách là một giai đoạn khởi động của văn học thời kỳ đổi mới, các nhà nghiên
cứu đều chỉ ra những đóng góp của văn học giai đoạn này trong tiến trình vận động
của văn học Việt Nam từ sau 1975: Z4IAB"1-a
bAcA&NI"1J"N+D'<AB"
bd+RD!B&_M!I;&-e
"1J&#N"+)WN\ [115,11].
Tác giả Nguyễn Văn Long khi nghiên cứu diện mạo, đặc điểm của các thể
loại văn học sau 1975 đã chỉ ra Z"1"!#%fL,
!W*"LI3#%A*WN"1J\
[115,17]. Ông đã phân loại các khuynh hướng chính trong văn xuôi (khuynh hướng
sử thi, khuynh hướng nhận thức lại, khuynh hướng thế sự - đời tư, khuynh hướng
triết luận) và phác họa những nét lớn về sự đổi mới của văn xuôi (quan niệm về
hiện thực, quan niệm nghệ thuật về con người, nghệ thuật trần thuật…). Từ phác
họa của mình, nhà nghiên cứu đã đặt ra một vấn đề có ý nghĩa: ZP'G
M"F",G3-"K;"1CFgU
#N<;<,"NNLf-"1
&#U10; G3"FUIWN",
3 "1,'OCF,<
6
$T;\ [115,22]. Nghiên cứu của chúng tôi hy vọng sẽ đáp ứng
phần nào mong muốn ấy.
~ phạm vi rộng hơn, tác giả Nguyễn Thị Bình trong công trình 21
234D/5678IWNU& đã có những nghiên cứu sắc sảo và
thuyết phục về những đổi mới của văn xuôi sau 1975 trên các phương diện: đổi mới
quan niệm về nhà văn, quan niệm nghệ thuật về con người, đổi mới về thể loại… từ
đó rút ra những nhận xét khái quát nhất về diện mạo và hướng đi của văn xuôi sau
1975. Z D#U'A<]]3#%"1J
&;<#&_<&_-"I<I=h<
I'C#W_,&b$I"(,U
&(,"1JWN<#+"bJI
;&N>#+ F&b'"N3!<'"N*
"'"N&<bJIWU&(3
"1",'#%#+<'=i<D;L
I h(",G3-"#N"1J\
(Lời giới thiệu chuyên luận của GS. Nguyễn Đăng Mạnh). Chuyên luận này đã một
lần nữa khẳng định sự nổi trội của văn xuôi so với các thể loại khác. Viết về giai
đoạn 1975-1985, nhà nghiên cứu Nguyễn Thị Bình đánh giá, đây là ZK#+
j*<B&_WN\ [52,193] với những dấu hiệu tuy mới
manh nha nhưng ZIG!&b=\ [52,196] và cần thiết cho công cuộc
đổi mới văn học sau 1986. Như vậy, trong công trình này, những nghiên cứu về văn
xuôi 1975-1985 đều được đặt trong sự vận động của văn xuôi sau 1975 với tư cách
là một vùng đệm cho văn xuôi đổi mới. Thiết nghĩ, với ý nghĩa trong tiến trình văn
học, với những tác giả, tác phẩm cụ thể, giai đoạn văn xuôi này cần sự quan tâm
nghiên cứu nhiều hơn nữa.
Z$/567<"C#+1<"13 b
aLI;*;<"$-"N"1#NL<"$
TC;A;<'=A"+#N(,
"(,+D'\ [47]. Khẳng định sự phát triển và thống nhất của
văn xuôi giai đoạn này trong tiến trình văn học, tác giả Lại Nguyên Ân trong bài
7
viết Z`-"1#+1\ [47] đã phân loại văn xuôi 1975-1985
thành bốn mảng thể tài ("1(<"1D(<"1AT
8_D`< "1>a*), chỉ ra những đóng góp và hạn chế của các mảng
văn xuôi đó. Tiếp cận văn xuôi 1975-1985 từ phương diện nội dung, chúng tôi chia
văn xuôi thời kỳ này thành hai mảng đề tài chính: đề tài chiến tranh và đề tài thế sự
- đời tư để chỉ ra sự kế thừa truyền thống của văn xuôi 1945-1975 và những dấu
hiệu của quá trình đổi mới văn xuôi sau 1986. Vấn đề này sẽ được triển khai kĩ ở
chương 2 và chương 3 của luận án.
Nhìn lại quá trình nghiên cứu, chúng tôi nhận thấy một số nhà nghiên cứu
coi 1945-1980 là một giai đoạn - giai đoạn văn học sử thi (Phong Lê, Vũ Văn
Sỹ….). Điều đó đồng nghĩa với việc: khoảng năm năm đầu sau 1975, văn học vẫn
mang đặc điểm của văn học ba mươi năm trước đó. Không bàn cãi đến việc phân
kỳ văn học, chúng tôi quan niệm rằng, năm 1975 đã là một cột mốc rõ ràng. Năm
năm 1975-1980, văn học nói chung và văn xuôi nói riêng vẫn vận động theo quán
tính nhưng đã có những thay đổi so với nền văn học sử thi. Những thay đổi ấy đậm
dần lên từ 1980-1985. Do đó, nghiên cứu văn xuôi 1975-1985 để chứng minh
những đặc điểm giống và khác của nó với văn xuôi trước 1975 và sau 1986 là một
việc làm cần thiết.
Văn xuôi giai đoạn này mang âm hưởng của văn học sử thi bởi nó vẫn dành
một phần rất lớn cho đề tài chiến tranh. Đã có nhiều bài nghiên cứu về đề tài này
trong văn xuôi (của các tác giả Lê Thành Nghị, Tôn Phương Lan, Nam Hà, Bùi
Việt Thắng, Hồ Phương ) đăng trên tạp chí Văn nghệ Quân đội, Tạp chí văn
học…. những năm đầu thập kỉ chín mươi. Bên cạnh những lời khen có cả những lời
chê… nhưng đa số các nghiên cứu đều gặp nhau ở khẳng định: văn xuôi giai đoạn
này đã nhìn chiến tranh ở hai mặt: sáng và tối, nhìn chiến tranh và con người bằng
cái nhìn đa diện, khắc phục cái nhìn đơn giản, một chiều của nền văn học sử thi.
Xin dẫn nghiên cứu của tác giả Tôn Phương Lan làm ví dụ: ZD="
"1LAAbU<A-AU"MA
+D'<3'" a"1jD*\
[108,15]. Năm 2008, trong luận văn thạc sĩ 0,;23
8
4-/5678/597,tác giả Vũ Thị Phương Nga đã đặt các tiểu thuyết viết
về chiến tranh và người lính trong xu hướng vận động đổi mới của văn xuôi để tìm
hiểu những đặc trưng nổi bật trong việc khai thác hiện thực chiến tranh và hình
tượng người lính… Chúng tôi sẽ nghiên cứu vấn đề này một cách cụ thể trong
chương 2 của luận án với sự khảo sát ở các thể loại tiểu thuyết, truyện ngắn và ký
để chỉ ra rằng: có một dòng văn học viết về chiến tranh sau chiến tranh, dòng văn
học khẳng định một con đường nghệ thuật mới: Zk"3!
<&lI3"<3-,M
#U"&*K';<LL
&",I;J;-D<#d
+<ATG!-I#+&lD!_!"D-
ia!D!D-*<D-I
"JG#m*G*\[115,251].
Bên cạnh những nghiên cứu tập trung vào diện mạo của văn xuôi trong mười
năm 1975-1985, một số công trình khác (của các tác giả Nguyễn Đăng Mạnh, Hà
Minh Đức, Nguyễn Thị Bình, Bích Thu…) lại nghiên cứu các vấn đề khái quát của
thể loại, chủ yếu tập trung vào thể loại truyện ngắn… Năm 1995, tác giả Lê Thị
Hường trong công trình luận án Phó Tiến sĩ Z4IK;U&3
=234/5678/557\đã nghiên cứu các đặc điểm cốt truyện và kết cấu, hệ
thống nhân vật, thời gian, không gian nghệ thuật và ngôn ngữ của truyện ngắn
1975-1995. Từ đó, tác giả khẳng định: Z3=MR#%
,_3 ",*Gn&;3<j*A-"
;-<-o3",Kp <A#UA
3!AAbU-#N\[94]. Thiết nghĩ, đó cũng là
thành tựu chung của văn xuôi sau 1975. Năm 2009, tác giả Nguyễn Thị Minh
Nguyệt (Thái Nguyên) đã bảo vệ thành công luận văn Thạc sỹ 3=23
4-/5678/597 với những nghiên cứu khá công phu về những vấn đề
khái quát nhất của thể loại truyện ngắn trong vòng mười năm sau chiến tranh (diện
mạo truyện ngắn, những thay đổi về đề tài, cảm hứng, những đổi mới bước đầu về
nghệ thuật). Đây cũng là một trong những tài liệu tham khảo để chúng tôi tiếp tục
9
hướng nghiên cứu của mình. Bài viết ZKZj*\3
=234D/567\ của tác giả Hỏa Diệu Thúy (Nghiên cứu văn học số 7 -
2011) đã phác họa giai đoạn khởi đầu của thể loại truyện ngắn với sự được mùa của
thể loại và những dấu mốc sớm nhất của sự đổi mới như [#+j-
của Thái Bá Lợi, q của Nguyễn Minh Châu, L*# của
Phạm Thị Minh Thư…Từ những nghiên cứu chung về truyện ngắn, chúng tôi tiếp
tục khảo sát, so sánh thể loại này với tiểu thuyết, ký để khẳng định đóng góp của
văn xuôi giai đoạn 1975 - 1985 trong văn học Việt Nam sau 1975.
Các nghiên cứu về văn xuôi thời kỳ hậu chiến thể hiện sự phong phú, đa
dạng trong cách tiếp cận: từ góc độ lý luận, ngôn ngữ, lịch sử văn học, từ nội dung,
nghệ thuật… Giáo sư Trần Đình Sử nghiên cứu về D!WN#G3
"#%#+; nhà nghiên cứu Trần Cương tìm hiểu MG
trong văn học, giáo sư Phong Lê khai thác #+N"" M!O
&_*D';&;"",D/567 là
đối tượng nghiên cứu của tác giả Bùi Thị Hương [91]. Nghiên cứu cảm hứng bi
kịch trong cái nhìn về hiện thực, cái nhìn về số phận con người, các biện pháp nghệ
thuật thể hiện cảm hứng… tác giả đã khẳng định: Z@!" *
D",,;D/567af-;
L""1J+)L*G3-N\ [91]. Tiếp tục
hướng nghiên cứu này, ở chương 2, luận án của chúng tôi sẽ khai thác sự thay đổi
trong các tác phẩm về đề tài chiến tranh được sáng tác trước và sau 1975, từ âm
hưởng sử thi đến vấn đề số phận dân tộc và số phận con người…
Đánh giá chung về văn học 1975-1985, nhà nghiên cứu Trần Đình Sử đã
nhận xét: Z4L;k_#%,"1J#N A]"$
G(D!&W;#G"1J"j"+)N<
+)c*D!A"3#%#+,K
(,DAAbL\ [123,491]. Nhận xét của ông có thể coi là một
cái nhìn khái quát về sự chuyển biến trong văn xuôi thời kỳ hậu chiến: sự thay đổi
tư duy nghệ thuật và sự quan tâm đa diện, đa chiều đến con người.
10
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét