Thứ Năm, 23 tháng 1, 2014

Phát huy vai trò của văn hoá Doanh nghiệp trong quá trình đổi mới.DOC

Phát huy vai trò của VHDN trong quá trình đổi mới
Trong khi đó, Công ty Protor and Gamble (P &G) đề cao văn hoá thị trờng
nên họ nhấn mạnh cạnh tranh, thành tựu và chất lợng, hoạch định những cuộc tấn
công trực diện đối thủ.
Không phải ngẫu nhiên mà NOKIA trở thành một thơng hiệu điện thoại di
động nổi tiếng nhất thế giới (chiếm đến 40% thị phần) và là niềm tự hào của nớc
Phần Lan nhỏ bé. Luôn luôn đổi mới công nghệ và quan trọng nhất là tính nhân
bản đợc khắc hoạ trong mỗi sản phẩm là chìa khoá vàng để NOKIA thành công
trên mọi thị trờng, từ Châu âu đến Châu á và làm một cuộc chinh phục ngoạn mục
đối với thị trờng khó tính nh Bắc Mỹ (vốn là thị trờng truyền thống của tập đoàn
MOTOROLA). Đồng thời, các nhà lãnh đạo tập đoàn NOKIA cũng đã rất thành
công khi chú ý cải tiến những nét văn hóa riêng của khách hàng ở các thị trờng
khác nhau. Mỗi khách hàng đều cảm nhận đợc tính văn hoá riêng biệt khi sử
dụng sản phẩm và dịch vụ của NOKIA.
Những thí dụ trên cho thấy lãnh đạo của các công ty đã rất thành công trong
những đặc tính riêng của văn hoá DN mình trong kinh doanh. VHDN khác nhau
dẫn đến sự khác nhau trong việc lựa chọn những biện pháp quản lý khác nhau. Đặc
biệt, trong bối cảnh hội nhập quốc tế nh hiện nay khiến sự xuất hiện của các công ty
đa quốc gia, công ty liên doanh với nớc ngoài ngày một nhiều kèm theo đó là những
đụng độ giữa các nền văn hoá khác nhau. Không quan tâm đến điều này sẽ ảnh h-
ởng không nhỏ đến hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp. Ví nh sự va chạm giữa
một số ít nhà quản lý nớc ngoài với ngời lao động nớc ta trong một số doanh nghiệp
liên doanh do những nét khác biệt về văn hóa không đợc quan tâm lắm.
2.2 Quá trình đổi mới với văn hoá doanh nghiệp Việt Nam
Nghiên cứu VHDN là khuynh hớng đã bắt đầu xuất hiện ở Việt Nam và đã
đo đếm đợc hiệu quả của nó.
VHDN Việt Nam đợc hình thành là một phần quan trọng của VH Việt Nam
đợc lu truyền và bồi đắp từ thế hệ này đến thế hệ khác. Nó tiếp thu những nhân tố
văn hóa trong kinh doanh hình thành qua nhiều năm của các nền kinh tế hàng hoá
5
Phát huy vai trò của VHDN trong quá trình đổi mới
trên thế giới, đồng thời tiếp thu và phát huy những tinh hoa văn hoá trong kinh
doanh của ông cha, vận dụng phù hợp với đặc điểm ngày nay, đó là hiện đại hóa
truyền thống đi đôi với truyền thống hoá hiện đại. Chỉ có nh vậy, mới kết hợp đợc
tốt truyền thống và hiện đại, đó là sự kết hợp có chọn lọc và nâng cao, từng bớc
hình thành VHDN mang bản sắc Việt Nam.
2.2.1 Một số đặc điểm nổi bật của VHDN Việt Nam:
- Từ công cuộc đổi mới đã hình thành mục đích kinh doanh mới, đó là kinh
doanh vì lợi ích của mỗi doanh nghiệp và lợi ích cả dân tộc. Tối đa hoá lợi
nhuận là động cơ thúc đẩy ý chí cạnh tranh của mỗi doanh nghiệp, cần đặc
biệt quan tâm, không vì nhấn mạnh mục lợi ích chung mà coi nhẹ mục đích
kinh doanh của mỗi cá nhân. Mục đích ấy đang đợc thể hiện ngày càng rõ
nét trong chiến lợc phát triển của mỗi doanh nghiệp đặc biệt là DN có hàng
hoá đợc ngời tiêu dùng bình chọn đạt chất lợng cao trong những năm gần
đây. Tuy nhiên, mục đích kinh doanh của mỗi doanh nhân ở nớc ta hiện nay
cũng rất đa dạng về tính chất: có những ngời chỉ mong kiếm đợc nhiều tiền,
cũng có ngời muốn vơn lên tiếp nối truyền thống gia đình, hoặc khao khát
hoàn thiện bản thân
- VHDN đòi hỏi sự gắn bó chặt chẽ hiệu quả kinh doanh và tính nhân văn
Trong kinh doanh, không thể đạt hiệu quả bằng bất cứ giá nào mà coi nhẹ
những giá trị nhân văn (tôn trọng con ngời, bảo vệ môi trờng). Điều đặc biệt
quan trọng là nâng cao tinh thần cộng đồng dân tộc trong mỗi hoạt động sản
xuất kinh doanh của các doanh nghiệp, một đặc điểm của VHDN mà chúng
ta cần xây dựng, đề cao trách nhiệm xã hội nh: xoá đói giảm nghèo, cứu trợ,
các hoạt động từ thiện
Điều cần nhấn mạnh hiện nay là khắc phục chủ nghĩa thực dụng, dùng mọi
thủ đoạn để đạt lợi nhuận cao, thậm chí siêu lợi nhuận. Có thể thấy rõ nhợc
điểm về mặt này của doanh nghiệp nớc ta nh: cạnh tranh bất hợp pháp, tranh
giành thị trờng, hạ giá, phá giá
6
Phát huy vai trò của VHDN trong quá trình đổi mới
Do vậy, cần đặc biệt phát huy vai trò của các hiệp hội doanh nghiệp, cung
cấp nhiều loại dịch vụ đa dạng , giải quyết những vấn đề mà từng DN riêng lẻ
không tự giải quyết đợc.
- Hình thành và phát huy VHDN trớc hết là phải đa vào con ngời. VHDN là lý
tởng và các nguyên tắc chi phối hành động của DN cũng nh mỗi thành viên,
là hệ giá trị tạo nên nguồn lực cho sự phát triển bền vững của mỗi DN, do
vậy, càng cần thiết phát huy nhân tố con ngời trong DN.
VHDN của từng DN Việt Nam có những nét chung và nét riêng. Chúng ta nhấn
mạnh việc tạo dựng và bảo vệ thơng hiệu của DN, thể hiện uy tín, vị thế của doanh
nghiệp, là tài sản đợc xây dựng, tích tụ một cách có ý thức trong quá trình phát triển
của doanh nghiệp. Thơng hiệu là niềm tự hào của DN, tạo ra niềm tin của ngời tiêu
dùng đối với sản phẩm và dịch vụ mà DN cung ứng.
2.2.2 Những tác động của VHDN trong bối cảnh hội nhập, đổi mới
- Tạo ra bản sắc riêng và tính thống nhất, sự cam kết về mục đích tới các thành
viên.
- Cải tiến hoặc bóp méo một hệ thống chính thức, ví dụ nh hệ thống thông tin
giao tiếp.
- Gây ảnh hởng hoặc bị ảnh hởng bởi chiến lợc và cơ cấu tổ chức.
Và chúng ta cũng phải đối mặt với câu hỏi: Văn hoá dân tộc mạnh, yếu ở điểm nào,
ảnh hởng của nó tới VHDN hiện nay ra sao? Không quan tâm tới vấn đề này, chúng
ta sẽ không thành công trong mở cửa và hội nhập vào nền kinh tế thế giới.
Trong quan hệ kinh doanh với đối tác nớc ngoài, văn hoá kinh doanh càng trở nên
quan trọng cho thành công của doanh nghiệp. Ngoại ngữ là cơ sở để tiếp cận nền
văn hoá của các đối tác và cũng là phơng tiện giao tiếp hàng đầu đối với doanh
nghiệp. Trình độ ngoại ngữ cần phải đạt đợc là ngoại ngữ kinh doanh, vợt trên trình
độ phổ thông để phân biệt chính xác và tinh tế trong biểu đạt, sự chính xác của hợp
đồng. Trong các ngôn ngữ khác nhau, có ngôn ngữ đã phát triển ngôn ngữ kinh
7
Phát huy vai trò của VHDN trong quá trình đổi mới
doanh và đạt đợc trình độ chính xác về khoa học, công nghệ hay thơng mại, phải rất
thận trọng và tìm cách biểu đạt chuẩn xác nhất trong hợp đồng.
Thái độ và phong cách giao tiếp là cánh cửa trong quan hệ hợp tác với các
đối tác. Ngoài trình độ giáo dục cơ bản, sự lịch thiệp và tôn trọng đối tác, cần học
hỏi những kiến thức cơ bản về phong tục, tập quán của đối tác. Sự đúng giờ, chào
hỏi lịch sự, trang phục, thái độ niềm nở, ngôn ngữ cơ thể bao gồm thái độ, sự đi lại,
cử chỉ là những điều phải chú ý trong quan hệ đối tác ở từng nớc với nền văn hóa
khác nhau. Ngời Nhật thích tặng và nhận quà và hay xin lỗi, ngời Mỹ thích nói
thẳng và hay nói chuyện khôi hài, ngời Trung Quốc thích màu vàng và màu đỏ,
thích chữ song hỷ, hay chữ phúc, trong khi ngời Arập thích màu xanh da trời, rất
tôn trọng kinh Koran Tôn giáo và tín ngỡng có tầm quan trọng khác nhau, tuỳ
theo từng nền văn hoá . Trong một nền tôn giáo đa văn hoá, cần hết sức tế nhị và
nhạy bén để biết tôn giáo chính và những tôn giáo phụ khác. Điều quan trọng là
không đợc mắc bất kỳ sai lầm thô bạo nào, dẫn đến hiểu lầm về tôn giáo trong kinh
doanh.
Trong khi phải hiểu biết, tôn trọng và thích nghi văn hoá của đối tác, phải
kiên định nền văn hoá dân tộc, những giá trị bền vững của văn hóa dân tộc trong
giao tiếp kinh doanh, kiên trì những yếu tố giá trị kinh doanh của dân tộc mình
Nếu doanh nhân tự từ bỏ mọi giá trị văn hoá của nớc mình, từ bỏ mọi thói quen và
theo đuổi vô điều kiện tất cả các thói quen của bên đối tác, về lâu dài, doanh nhân
đó sẽ tự dẫn mình đến chỗ bế tắc. Vì doanh nhân sẽ phải giao tiếp trong một môi tr-
ờng mình không quen thuộc và ít hiểu biết hơn đối tác. Xây dựng những chuẩn mực
trong giao tiếp, xác định các điều kiện tối thiểu không thể nhân nhợng trong đàm
phán và kinh doanh là điều sống còn với mỗi doanh nghiệp. Không nên đi từ bất
cập sang thái quá, từ chỗ không biết tý gì và không tôn trọng các điều tối thiểu
trong văn hoá của đối tác chuyển sang theo đuôi hoàn toàn vì đối tác, tự từ bỏ các
giá trị văn hoá của chính mình.
8
Phát huy vai trò của VHDN trong quá trình đổi mới
3- Những điều kiện chủ yếu nhằm phát huy vai trò của VHDN trong quá trình
đổi mới hiện nay
Liệu VHDN có thể thay đổi đợc và sự thay đổi có thể lập kế hoạch theo những định
hớng kết quả đầu ra mong muốn? VNDN có thể thay đổi và phát huy đợc vai trò
của nó nếu có các điều kiện sau:
1. Khi DN đứng trớc nguy cơ khủng hoảng, trớc sự thay đổi to lớn của môi tr-
ờng xung quanh, cần tạo ra những thay đổi bớc ngoặt, có xuất hiện t tởng đổi
mới. Hiện chúng ta đang ở thời điểm này. Ngoài những tác động quốc tế ra,
trong nớc tình hình kinh tế cũng đang chuyển mình. Nhiều doanh nghiệp mới
ra đời, VHDN truyền thống đang bị thử thách, sàng lọc của thời gian. Lúc
này, cần sự định hớng, sự sáng tạo của cá nhân, tổ chức để biến cải cái cũ,
tinh tuyển cái mới cho văn hóa dân tộc, VHDN giai đoạn hiện nay.
2. Lãnh đạo DN đã nhận thức ra sự cần thiết phải thay đổi, xây dựng VHDN để
phù hợp với sự thay đổi của môi trờng. Đây cũng là điều kiện tiên quyết cho
sự thay đổi của DN. Lãnh đạo cần đa ra những tuyên bố rõ ràng về sứ mệnh,
nhiệm vụ của DN mình, gây đợc ấn tợng về quan điểm, về giá trị mà DN sẽ
đề xớng. Trong thực tế, đã có không ít DN không thành công trong việc này.
Họ thờng ở trong tình trạng không đa ra những tuyên bố rõ ràng về nhiệm vụ
của mình, hoặc có sự không phù hợp giữa những tuyên bố này với những
cách thức thực thi chúng trong DN. Nếu nh ở đây cần một lời cảnh báo thì đó
là thờng hay có khoảng cách đáng kể giữa những điều tốt đẹp đợc nói ra
trong tuyên bố về nhiệm vụ vói thực tế của hành vi quản lý của DN. Tình
trạng mập mờ này sẽ khiến nhân viên rơi vào lúng túng hoặc tự phát hành
động. Tính thống nhất của DN sẽ bị hạn chế.
3. Có các hoạt động tích cực phù hợp với các giá trị mới, các thủ tục mới
- Tuyển chọn nhân viên gắn với định hớng giá trị của tổ chức là điều cần đợc
khẳng định. Sự tuyển chọn không chỉ là kiến thức và kỹ năng phù hợp với vị
trí mà DN cần, mà còn phải có sự phù hợp giữa định hớng giá trị của DN và
9
Phát huy vai trò của VHDN trong quá trình đổi mới
ngời thi vào. Một ngời đề cao hiệu quả kinh tế vào làm việc ở tổ chức NGO
sẽ nảy sinh xung đột. Do đó, các công việc nh: đăng quảng cáo tuyển ngời
của tổ chức trên hệ thống thông tin cần thể hiện rõ ràng quan điểm, giá trị mà
tổ chức yêu cầu vì đây còn là sự lan truyền giá trị. Trong quy trình quản lý
nhân sự, nếu chú trọng làm tốt khâu tuyển chọn thì các khâu khác đỡ phải xử
lý hậu quả.
- Các nhà quản lý phải gơng mẫu đi đầu. Họ chính là biểu tợng để nhân viên
noi theo. Có một thực tế là các nhân viên thờng bắt chớc theo sếp cách nói
năng và hành động. Các chơng trình đào tạo và huấn luyện cần đợc cập nhật
đề thúc đẩy quá trình đa cái mới vào công ty. Bởi hội nhập vào nền kinh tế
thế giới là bớc vào một xã hội học tập. Học tập suốt đời để tìm đợc chỗ đứng
trong xã hội. Các công ty trên thế giới ngày nay càng nhận ra rằng: Các biện
pháp thu hút ngời tài bằng tăng lơng, kỳ nghỉ, nhà ở không còn là biện
pháp căn bản. Họ đã hớng công tác đào tạo để nâng cao năng lực cho các
thành viên của mình.
- Việc khen thởng, đề bạt vào các chức danh, các biểu tợng về địa vị và tiêu chí
đề bạt cần nhất quán với các tuyên bố về nhiệm vụ, về giá trị mà DN hớng
tới.
- Các lôgô, khẩu hiệu, ngôn ngữ, huyền thoại trong công ty, kiến trúc và mầu
sắc trang trí cũng ảnh hởng đáng kể đến hành vi ứng xử của nhân viên, đời
sống văn hoá của DN. Các DN của chúng ta phần lớn cha nhận thức ra ảnh h-
ởng của các yếu tố trên trong việc tạo ra nét văn hoá riêng, ấn tợng riêng của
DN trong một thế giới cạnh tranh.
4. Có những can thiệp hớng vào các bộ phận của DN, luồng công việc và cơ cấu
tổ chức. Hoàn thiện cơ cấu tổ chức phù hợp với định hớng giá trị, nhiệm vụ
của DN. Trong thực tế, có không ít trờng hợp ngời ta đa ra những tuyên bố
về nhiệm vụ mới của tổ chức nhng lại không đầu t thích đáng cho việc rà
soát lại cơ cấu tổ chức. Hệ quả xảy ra là mục tiêu sẽ không đạt đợc, có sự
xung đột giữa văn hóa đợc tán thành và văn hóa trong thực tế.
10
Phát huy vai trò của VHDN trong quá trình đổi mới
5. Khi DN có sự mở rộng, thay đổi nhiệm vụ và định hớng lại các giá trị cơ
bản trong tổ chức thì cũng cần xây dựng lại các văn bản quy định của tổ
chức. Các văn bản quy định này phải rõ ràng, thực tế và khả thi. Hơn nữa,
phải lôi kéo đợc sự tham gia của tất cả các nhân viên ở tất cả các cấp vào việc
xây dựng văn bản này, khắc phục tính thụ động trông chờ vào cấp trên thờng
có trong các tổ chức của chúng ta.
6. Cuối cùng, một điều kiện không thể thiểu là cần tới một thời gian hợp lý cho
sự thay đổi VHDN: từ 5 đến 10 năm. Vì cái mới đa vào một tổ chức, đề trở
thành văn hóa phải là cái đợc các thành viên chấp nhận và chia sẻ. Do đó, cần
tới độ dài thời gian cần thiết, đủ cho sự kiểm nghiệm.
Các điền kiện 1 và 5 là cái thuộc về khách quan, còn điều kiện 2, 3, 4 lại
thuộc về chủ quan của ngời quản lý để tạo ra quá trình hoà nhập giữa văn
hoá tán thành và văn hóa trong thực tế của DN.
Thực tế cho thấy đã có không ít điển hình thành công và những nhà quản lý giỏi,
biết vận dụng các biện pháp hữu hiệu để thay đổi nề nếp, phong cách và lối làm
việc của một tổ chức để mang lại hiệu quả cho một DN trên thơng trờng.
Chơng 2
Xây dựng và phát triển văn hoá PVFC
trong quá trình đổi mới
11
Phát huy vai trò của VHDN trong quá trình đổi mới
1- Văn hoá PVFC là gì?
Từ một doanh nghiệp mới đợc thành lập năm 2000 của Tổng Công ty Dầu
khí Việt Nam, Công ty Tài Chính Dầu Khí PVFC đã tăng trởng và phát triển trở
thành một định chế tài chính có uy tín, một thành viên quan trọng trong
PETROVIETNAM. Việc phát triển theo các tiêu thức: tôn trọng, dân chủ, tin cậy và
năng lực ngay từ những ngày đầu tiên đến nay đã thúc đẩy những ớc mơ khát vọng
lớn hơn trong mỗi thành viên và cả tập thể. Và mỗi ngời trong PVFC vẫn tự hào về
môi trờng văn hoá PVFC của mình, môi trờng đã đợc đúc kết thật ngắn gọn:
Văn hoá đề phát triển.
Văn hóa Công ty Tài chính Dầu khí (PVFC) là một nét văn hoá không nằm
ngoài quy luật phát triển của VHDN. Tuy nhiên, từng con ngời trong PVFC đã tạo
ra nét văn hoá riêng có: tính độc đáo và mới mẻ. Điều này đã đợc minh chứng bằng
kết quả của hoạt động kinh doanh trong 4 năm qua. Tuy là một công ty mới đợc
thành lập, song hình ảnh của nó đã đợc khẳng định nh một mô hình công ty đáng để
học tập.
Để nhìn nhận rõ hơn về văn hoá PVFC, chúng ta cần phải có một sự so sánh sát
thực nhất. Chúng ta phải thấy rằng: bài học kinh nghiệm của vô vàn các công ty,
các tập đoàn kinh tế trên thế giới: ngoài những yếu tố cần thiết khác, nền móng văn
hóa trong môi trờng làm việc của họ đã giúp họ phát triển thịnh vợng hay suy sụp
thảm bại. Thí dụ điển hình tích cực, đó là đất nớc Nhật Bản. Vì sao đất nớc Nhật lại
phát triển nhanh chóng đến nh vậy trong đầu thế kỷ XX và vẫn phát triển mạnh cho
đến nay. Trong khi tài nguyên của họ không thể dồi dào tơng xứng với sự phát triển
đó.
Họ đã có một cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật ? Họ đã có những mô hình đào
tạo nhân lực một cách hợp lý, đồng bộ, toàn diện và hiệu quả nhất? Họ đã xúc tiến
nhanh chóng kết hợp hài hoà sự phát triển đến chóng mặt nền kinh tế học thế giới
12
Phát huy vai trò của VHDN trong quá trình đổi mới
hiện đại với nguồn nhân lực của họ? Có rất nhiều giả thuyết có thể nó đều đúng.
Tuy nhiên, chúng ta sẽ rất thiếu sót khi không nhận xét đến cái văn hoá công ty
của họ. Sự phát triển tột bậc của Nhật Bản, đó là sự kết hợp của mọi tinh hoa quản
lý với mô týp hợp lý. Văn hóa công ty của họ thật đáng tự hào và rất cần thiết phải
học hỏi. Và có ngời đã từng nói, đó là văn hoá gia đình . Tất nhiên, văn hoá gia
đình ở đây không nên hiểu là nét văn hoá trong phạm vi gia đình hạn hẹp, mà đó là
hình ảnh chứa đầy sự đoàn kết, đùm bọc lẫn nhau giữa mọi ngời trong công ty.
Họ đã khai thác triệt để cái gọi là văn hoá gia đình huyền bí này bằng những nhà
lãnh đạo, những nhà quản lý tài ba có phơng pháp luận đúng đắn và thế giới quan
rộng lớn. Đơn giản rằng, môi trờng làm việc của bất kỳ công ty, nhà xởng nào cũng
tạo ra cho nhân viên có t tởng thoải mái, an toàn nhất để rồi họ làm việc cống hiến
tối đa có thể. Vì vậy, mục tiêu đặt ra của các nhà quản lý về kinh tế lẫn các mặt
khác đều đạt hiệu quả. Rõ ràng là họ đã tự giác cống hiến cả đời cho sự thành công
của công ty mà ngay cả họ và công ty đã gửi gắm vào nhau.
Văn hóa PVFC nhìn một cách bao quát thì cũng không khác gì các văn hoá
công ty khác? Có thể văn hoá qua đồng phục, phong trào văn hoá, văn nghệ, thể dục
thể thao, văn hoá qua cách ứng xử , tác phong trong công việc Tất cả những điểm
nổi bật của tính văn hoá đó cũng có thể khẳng định là văn hoá PVFC. Mặc nhiên,
chúng ta không phủ nhận những phong trào cổ vũ trên mà chúng ta cần gộp chúng
lại và kết hợp với cá tính của từng ấy con ngời trong công ty thì mới có đợc nét văn
hoá PVFC tơng đối hoàn chỉnh. Mỗi một con ngời trong PVFC đều có cá tính và
hợp lại tạo thành văn hoá công ty đặc trng nhất. Môi trờng làm việc đã tạo ra sự
cống hiến hết mình trong công việc. Mỗi nhân viên đều cảm thấy gần gũi, tự tin khi
làm việc cùng nhau. Đó chính là văn hoá gia đình PVFC .
Xuất phát từ nhận thức đó, ban lãnh đạo và toàn thể cán bộ nhân viên Công
ty Tài chính Dầu khí đã thống nhất xây dựng Quy ớc văn hoá PVFC và cam kết
thực hiện tốt quy ớc này, phấn đấu đa PVFC thành một công ty phát triển vững chắc
và có văn hoá.
13
Phát huy vai trò của VHDN trong quá trình đổi mới
Quy ớc văn hoá PVFC chính là chuẩn mực mà chúng ta sẽ xoay quanh chúng
để có hành vi ứng xử. Con ngời lao động ở bất cứ vị trí nào, tôn trọng họ ra sao, tạo
môi trờng làm việc văn minh, hiện đại và tạo động lực cho họ phát triển cũng là thể
hiện văn hoá PVFC.
Sau một thời gian thực hiện quy ớc văn hoá PVFC, bớc đầu đã thể hiện đợc
một số nét đẹp về văn hoá công ty. Những quy ớc trong giao tiếp qua điện thoại,
quy ớc giao tiếp với khách hàng, hay nh quy ớc trong hội họp, lễ cới hỏi đều đợc
các cán bộ nhân viên tuân thủ thực hiện tạo nên những hình ảnh đẹp về con ngời
cũng nh công ty PVFC.
Những nét văn hoá đẹp mà PVFC đã xây dựng trong 4 năm qua còn là một
nền văn hoá kinh doanh, trong đó bao trùm cả đạo đức kinh doanh, kinh doanh
không mang tính chất chụp giật mà biến đối thủ cạnh tranh của mình thành đối
tác kinh doanh, hợp tác với bạn hàng và đối tác trên nguyên tắc cởi mở, bình đẳng
cùng phát triển.
Ngoài một nền văn hoá kinh doanh, PVFC còn có một nền văn hoá tổ
chức.Tất cả CBCNV khi làm việc đều mặc đồng phục và đeo biển tên, xây dựng
một bức tờng truyền thống mang đậm nét văn hoá riêng của PVFC. Văn hoá đời
sống nội tâm, tham gia các hoạt động từ thiện, tổ chức bữa ăn tra tăng cờng và đảm
bảo sức khoẻ cho CBCNV, đẩy mạnh phong trào văn hoá văn nghệ, thể thao giúp
cho các đồng nghiệp gần gũi nhau hơn, tạo động lực làm việc cho các thành viên
trong công ty.
Tuy nhiên, những điều này còn mang tính ớc lệ và hình thức. Bên cạnh những
nét đẹp trong ứng xử giao tiếp thì vẫn có một bộ phận những cá nhân vẫn có những
hành động thiếu văn hoá. ở đây phải sử dụng từ văn hoá trong ngoặc kép bởi vì
những cá nhân này có thể bên ngoài vẫn xử sự với mọi ngời xung quanh theo đúng
quy ớc văn hoá mà công ty đã đa ra. Khác chăng ở đây là phần tính cách bên trong
mỗi con ngời. Sự thiếu văn hoá thể hiện ở tính đố kỵ, tính lờng biếng, thiếu đoàn kết
trong nội bộ nhóm hoặc cả tổ chức. Thêm vào đó, lại có những con ngời đặt lợi ích
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét