Tiểu luận triết học
Phần I: Mở đầu
Trong lịch sử triết học Mác - Lênin khái niệm vật chất đợc hiểu là tất cả
những gì tồn tại khách quan tức là những sự tồn tại của nó không phụ thuộc vào
ý thức của con ngời, không phụ thuộc vào quan niệm của con ngời. Theo đó thì
vật chất là vô cùng vô tận, là không có giới hạn, nó tồn tại giữa vô lợng các hình
thức khác nhau, có thể là những tồn tại mà con ngời đã biết hoặc là những tồn
tại mà con ngời cha biết. Đó là những vật chất tự nhiên hoặc là những tồn tại
của vật chất trong đời sống xã hội. Vật chất tồn tại vô cùng lớn ví dụ nh thiên
hà, hoặc vô cùng bé là những hạt cơ bản. Đó có thể là những tồn tại mà ngời ta
trực tiếp giác quan đợc nhng cũng có thể là những tồn tại mà không thể trực tiếp
giác quan đợc nhng nó là tồn tại khách quan. Vật chất với t cách là tồn tại khách
quan thì không tồn tại cảm tính có nghĩa là con ngời không thể dùng giác quan
để nhận biệt nhng vật chất với t cách là những biểu hiện tồn tại cụ thể dới những
hình thức nhất định thì nó tồn tại cảm tính. Thông qua đó thì con ngời mới nhận
thức đợc về nó. Khi nhắc tới vật chất ta không thể nhắc tới vận động, thời gian
và không gian là các phạm trù liên quan tới sự tồn tại vật chất. Theo quan điểm
trớc Mác thì vật chất chỉ là sự chuyển dịch vị trí các vật thể trong không gian và
thời gian. Đó là một quan niệm rất hạn chế vì nó không bao quát hết mọi hình
thức của thế giới. Còn trong triết học Mác thì khái niệm vận động đợc bao quát
hơn: vận động là toàn bộ những sự thay đổi nói chung.Thế giới vật chất là vô
cùng vô tận, do đó sự vận động của vật chất cũng biểu hiện dới vô lợng các
hình thức, phơng thức khác nhau. Cho đến tận ngày nay trình độ khoa học phát
triển thì con ngời đã khám phá và vận dụng 5 hình thức vận dụng sau: Vận động
vật lý, vận động cơ giới, vận động sinh vật, vận động xã hội, vận động hoá. 5
hình thức vận động trên không tồn tại biệt lập mà nó có mối quan hệ ảnh hởng
lẫn nhau, chuyển hoá cho nhau do đó vận động đóng vai trò là phơng thức của
vật chất, nó là phơng thức để vật chất không ngừng phát triển. Còn không gian
và thời gian thì lại là hai hình thức tồn tại cơ bản của mỗi tồn tại vật chất.
1
Tiểu luận triết học
Để viết bài tiểu luận triết học em xin chọn đề tài: "Quan điểm của Mác -
Ănghen về vật chất".
Do kiến thức và tầm hiểu biết còn hạn chế nên bài viết của em không
tránh khỏi sai sót rất mong đợc cô giáo xem xét và góp ý kiến cho bài tiểu luận
của em đợc hoàn thiện hơn.
Em xin chân thành cảm ơn!
2
Tiểu luận triết học
Phần II: Nội dung
I. Vật chất và các hình thức tồn tại của nó
1. Phạm trù vật chất.
Vật chất với t cách là phạm trù triết học đã có lịch sử khoảng 2500 năm.
Ngay từ lúc mới ra đời xung quanh phạm trù vật chất đã diễn ra cuộc đấu tranh
không khoan nhợng giữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm. Đồng thời,
giống nh mọi phạm trù khác, phạm trù vật chất có quá trình phát sinh và phát
trỉên gắn liền với hoạt động thực tiễn của con ngời và với sự hiểu biết của con
ngời về thế giới tự nhiên.
Theo quan điểm của chủ nghĩa duy tâm thì thực thể của thế giới tự nhiên
của thế giới, cơ sở của mọi tồn tại là một bảng nguyên tinh thần nào đó, có thể
là "ý chí" của thợng đé, "ý niệm tuyệt đối" vv chẳng hạn, Platôn nhà triết học
duy tâm khách quan lớn nhất thời cổ cho rằng vật chất bắt nguồ từ "ý niệm", sự
vật cảm tính là cái bóng của "ý niệm". Mặt khác, ông tỏ ra căm thù căm thù chủ
nghĩa duy vật, kết tội các nhà duy vật, nhất là các môn đồ của Đemô out là vị
thần - một tội kết án tử hình theo luật của Aten thời bấy giờ, và đã đốt hết tác
phẩm của Đêmôrit. Hêghen nhà duy tâm khách quan tâm của triết học cổ điển
Đức cho rằng "vật chất là do ý niệm tuyệt đối sinh ra". Mặt khác, ông có thái độ
thiên lịch đối với chủ nghĩa duy vật, đã cố tình xuyên tạc, vu khống triết học
duy vật của Heraclit và Êpiquya. Béccli đã hệ thống hoá một số quan điểm của
chủ nghĩa duy tâm chủ quan đa ra một số công thức chung:"tồ tại tức là đợc tri
giác". ý nghĩa của công thức là mọi sự tồn tại trong chừng mực con ngời cảm
thấy chúng, cái gì ngoài tri giác là không tồn tại, không có chủ thẻ thì không có
khách thể công thức này đã phủ nhận khách quan sự tồn tại của vật chất, kể cả
con ngời, tất yếu dẫn tới chủ nghĩa duy ngã, nghĩa là ngoài cái tôi ra thì không
có cái gì hết.
Vào thời kỳ cổ đại các nhà triết học duy vật đã đồng nhất vật chất nói
chung là những dạng cụ thể của nó, tức là những vật thể hữu hình cảm tính đang
tồn tại ở thế giới bên ngoài. ở Trung Hoa thời cổ đại, các nhà duy vật coi khí là
3
Tiểu luận triết học
thực thể của thế giới ở ấn Độ thời cổ đại phái Ngaya - Vaisếika coi nguyên tử là
thực thể của thế giới ở Hy Lạp cổ đại, Talet coi thực thể của thế giới là nws
Anaximen coi thự thể ấy là khí Hêraclit coi thực thể ấy là lửa. Phủ nhận quan
điểm thực thể của thế giới là một chất cụ thể, Ămpêđoclơ đã coi thực thể và
không khí Anaximanctrơ cho rằng thực thể về thế giới là một bản nguyên tử
không xác định về chất, vô tận về mặt lợng, đó là Apeirôn. Đỉnh cao của t tởng
duy vật cổ đại về vật là thuyết nguyên tử của Lơxip, và Đêmôgrip Nguyên tử
là các phần tử cực nhỏ, cứng không thể xâm nhập đợc không cảm giác đợc.
Nguyên tử có nhiều loại sự kết hợp hoặc tách rời nguyên tử theo trật tự khác
nhau của không gian tạo nên toàn bộ thế giới. Thuyết nguyên tử còn mang tính
chất phác nhng phỏng đoán thiên tài ấy về cấu tạo vật chất đã có ý nghĩa định h-
ớng đối với sự phảt triển khoa học nói chung đặc biệt là vật lý học khi phát hiện
ra sự tồn tại hiện thực của nguyên tử.
2. Theo quan niệm về vật chất thời cận đại Tây âu.
Từ thời kỳ Phục Hng, đặc biệt là thời kỳ cận đại thế kỷ XVII - XVIII,
khoa học tự nhiên thực nghiệm Châu Âu phát triển khá mạnh. Chủ nghĩa duy
vật nói chung và phạm trù vật chất nói riêng đã có bớc phát triển mới chứa đựng
nhiều yếu tố biện chứng. Mở đầu thời kỳ này lần đầu tiên Copecnich chứng
minh mặt trời là trung tâm đã làm đảo lộn truyền thuyết của kinh thánh và quan
điểm thần học về thế giới. Phranxi Bêcơn coi thế giới vật chất tồn tại khách
quan, vật chất là tổng hợp các hạt, coi tự nhiên là tổng hợp của những vật thể có
chất lợng muôn màu, muôn vẻ coi vận động là một thuộc tính không tách rời
khỏi vật chất Pierơ Gat xăng đi phát triển học thuyết nguyên tử cổ đại và cho
rằng thế giới gồm những nguyên tử có đặc tính tuyệt đối nh tính kiên cố và tính
không thể thông qua. Đêcáctơ trong học thuyết vật lý duy vật của mình đã xuất
phát từ vật chất vận động để giải thích thế giới. Xpinôza cho rằng chỉ có tự
nhiên là tồn tại, tự nhiên là nguyên nhân tự nó, để tồ tại thì tự nhiên chẳng cần
cái gì khác. Ông cho rằng thực thể là thống nhất còn vật hữu hạn thì nhiều vô kể
.Vào thế kỷ XVIII các nhà duy vật Pháp đã phát triển phạm trù vật chất lên một
bớc mới. Điđrô cho rằng, trong vũ trụ, trong con ngời, trong mọi sự vật chỉ chỉ
4
Tiểu luận triết học
có thực thể duy nhất là vật chất vật chất là nguyên nhân duy nhất của máy móc
về vân động, ông nêu lên t tởng biện chứng rằng bản tính cố hữu của vật chất là
vận động, vận động là năng lực sống động của vật chất vận động có cả ở vật
chất đang vận động lẫn đứng yên. Ông coi quá trình vận động và phát triển của
vật chất, giới tự nhiên sẽ chọn lọc những gì giúp cho ngày càng hoàn thiện,
đồng thời đào thải những vật không thích nghi Honbach khẳng định rằng tự
nhiên là nguyên nhân đầu tiên của vạn vật. Vật chất theo honbach đó là tất cả
những gì tác động bằng cách nào đó vào cảm giác của chúng ta tuy vậy
khoahọc thời kỳ này chỉ có cơ học cổ điển phát triển nhất, còn các ngành khoa
học khác nh vật lý học, hoá học, sin học, địa chất học còn ở trình độ thấp khoa
học lúc này chủ yếu dừng lại ở trình độ su tập mô tả. Tơng ứng với trình độ trên
của khoa học thì quan điểm thống nhất trong triết học và khoa học tự nhiên thời
bấy giờ đó đã chi phối triết học về vật chất. Ngời ta giải thích mọi hiện tợng tự
nhiên bằng sự tác động qua lại của lực hấp dẫn và lực đẩy củacác phân tử vật t,
theo đó các phần tử của các phân tử vật thể, theo đó các phần tử của vật trong
quá trình vận động là bất biến còn cái thay đổi chỉ là trạng thái không gianvà
tập hợp của chúng. Mọi phân biệt về chất giữa vật thể đều bị quy giảm về sự
phân biệt về lợng, mọi sự vận động đều bị quy giảm về sự phân biệt về lợng, sự
dịch chuyển vị trí trong không gian, mọi hiện tợng phức tạp đều bị quy về cái
giản đơn mà từ đó chúng đợc thành thành. Niềm tin vào các chân lý trong cơ
học Niutơn đã khiến các nhà khoa học đồng nhất vật chất với khối lợng, coi vận
động của vật chất chỉ là biểu hiện của vật động cơ học, nguồn gốc vận động
nằm ngoài vật chất. Kế thừa quan điểm nguyên tử luận cổ đại, các nhà triết học
duy vật cận đại vẫn coi nguyên tử là phần tử nhỏ nhất, không thể phân chia đợc,
tách rời nguyên tử với vận động, không gian với thời gian.v.v
Đến cuối thế XIX đầu thế kỷ XX khi xuất hiện những phát minh mới trong
khoa học tự nhiên con ngời mới có những hiểu biết căn bản hơn sâu sắc hơn về
nguyên tử. Năm 1895 Ronghen phát hiện ra tia X, một loại máy điện từ có bớc
sóng từ 0,01 đến 100.10
-8
cm. Năm 1896 Beccơren đã phát hiện ra hiện tợng
phóng xạ, đã bác bỏ quan niệm về sự bất biến của nguyên tử. Năm 1897 Jonson
5
Tiểu luận triết học
phát hiện ra điện tử và chứng minh đợc điện tử là một trong những thành phần
cấu tạo nên nguyên tử. Nhờ phát minh này, lần đầu tiên trong khoa học sự tồn
tại hiện thực của nguyên tử đã đợc chứng minh bằng thực nghiệm. Năm 1901,
Kauyman đã chứng minh đợc khối lợng của điện tử không phải là khối lợng
tĩnh, mà là khối lợng thay đổi theo tốc độ vận động của điện tử. Những phát
hiện đó là bớc tiến mới của loài ngời trong việc nhận thức và làm chủ giới tự
nhiên nó bác bó quan niệm siêu hình về vật chất. Những quan niệm đơng thời
về thế giới hạn tột cùng của vật chất là nguyên tử hoặc khối lợng đã sụp đổ trớc
khoa học. Vấn đề là ở chỗ trong nhận thức lúc đó các hạt điện tích và trờng điện
từ là cái gì đó phi vật chất. Đây chính là mảnh đất để chủ nghĩa duy tâm lợi
dụng những ngời theo chủ nghĩa duy vật đã biến mất, nền tảng của chủ nghĩa
duy vật đã sụp đổ chính trong hoàn cảnh nh vậy Lênin đã khái quát những thành
tựu của khoa học tự nhiên và chỉ rõ rằng vật chất không bị tiêu tan,
II. Quan niệm về vật chất trong triết học Mác - lênin cho rằng vật chất
không bị tiêu tan.
Cái bị tiêu tan bị bác bỏ chính là giới hạn hiểu biết trớc đấy về vật chất, là
quan điểm siêu hành máy móc trong nhận thức khoa học cho rằng giới tự nhiên
là có tận cùng về cấu trúc, rằng giới hạn cuối cùng bất biến của giới tự nhiên là
nguyên tử hoặc khối lợng. Từ đó Lênin kết luận "điện tử cũng vô cùng vô tận
nh nguyên tử, tự nhiên là vô tận". Đồng thời Lênin chỉ rõ ràng sự thay thế một
số khái niệm này bằng một số khái niệm khác trong nhận thức về thế giới chỉ
chứng tỏ khoa học, sự phản ánh hiện thực khách quan cứ hoàn thiện mãi lên,
chính tỏ sự hiểu biết của con ngời ngày càng sâu sắc, theo nghĩa ấy mà nói thì
vật lý họcn lúc đó đang trải qua bớc khủng hoảng trởng thành và nguyên nhân
của sự khủng hoảng đó nằm ngay trong bớc nhảy vọt của nhận thức con ngời
khi chuyển từ thế giới vĩ mô sang thế giới vi mô. Trên cơ sở phân tích ấy Lênin
đa ra định nghĩa về phạm trù vật chất, một định nghĩa mà cho tới nay các khoa
học hiện đại vẫn thừa nhận.
1. Định nghĩa về vật chất của Lênin.
6
Tiểu luận triết học
Theo Lênin vật chất là một phạm trù rộng đến cùng cực, rộng nhất mà cho
đến nay thực ra nhận thức luận vẫn cha vợt quá quá đợc. Khi định nghĩa phạm
trù này không thể quy nó về vật thể hoặc một thuộc tính cụ thể nào đó, cũng
không thể quy về phạm trù cụ thể rộng hơn vì đến nay cha có phạm trù nào rộng
hơn phạm trù vật chất. Do vậy chỉ có thể định nghĩa phạm trù vật chất trong
quan hệ với ý thức, phạm trù đối lập với nó và trong quan hệ ấy, vật chất là tính
thứ nhất ý thức là tính thứ hai. Bằng phơng pháp nh vậy định nghĩa phạm trù vật
chất của Lênin đợc diễn đạt nh sau:
"Vật chất là một phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách quan đợc
đem lại cho con ngời trong cảm giác, đợc cảm giác của chúng ta chép lại chụp
lại, phản ánh và tồn tại khong lệ thuộc vào cảm giác".
ở định nghĩa trên Lênin phân biệt hai vấn đề quan trọng: Trớc hết cần
phân biệt vật chất với t cách là phạm trù triết học với các quan niệm của khoa
học tự nhiên về cấu tạo và những thuộc tính cụ thể của đối tợng các dạng vật
chất khác nhau. Vật chất với t cách là phạm trù triết học nó chỉ vật chất nói
chung, vô hạn, vô tận không sinh ra, không mất đi, còn các đối tợng các dạng
vật chất khoa học cụ thể nghiên cứu đều có giới hạn nó sinh ra và mất đi để
chuyển hoá thành cái khác. Vì vậy, không thể đồng nhất vật chất nói chung với
những dạng cụ thể của vật chát nh các nhà duy vật trọng lịch sử cổ đại, cận đại
đã làm.
Thứ hai là trong nhận thức luận, khi vật chất đối lập với ý thức, cái quan
trọng để nhận biết vật chất chính là những thuộc tính khách quan khách quan
theo Lênin là "cái đang tồn tại độc lập với loài ngời với cảm giá của con ngời".
Trong đời sống xã hội "vật chất là cái tồn tại xã hội không phụ thuộc vào ý thức
xã hội của con ngời". Về mặt nhận thức luận thì khái niệm vật chất không có gì
khác hơn". Thực tại khách quan tồn tại độc lập với ý thức con ngời và đợc ý
thức con ngời phản ánh".
Nh vậy định nghĩa phạm trù vật chất của Lênin bao gồm những nội dung
cơ bản sau đây:
7
Tiểu luận triết học
- Vất chất là cái tồn tại khách quan bên ngoài ý thức và không phụ thuộc
vào ý thức, bất kể sự tồn tại ấy con ngời nhận đã nhận thức đợc hay cha nhận
thức đợc.
- Vật chất là cái gây nên cảm giác con của con ngời khi gián tiếp hoặc trực
tiếp tác động lên giác quan của con ngời.
-Cảm giác, t duy ý thức chỉ là sự phản ánh của vật chất.
Với những nội dung cơ bản trên phạm trù vật chất trong định nghĩa của
Lênin có nhiều ý nghĩa to lớn.
Khi khẳng định vật chất là thực tại khách quan đợc đem lại cho con ngời
trong cảm giác "tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác". Lênin đã thừa nhận rằng
trong nhận thức luận, vật chất là tính thứ nhất, là nguồn gốc khách quan của
cảm giác ý thức. Và khi khẳng định vật chất là cái mà chúng ta chép lại, chụp
lại, phản ánh. Lênin muốn nhấn mạnh rằng bằng những hơng thức nhận thức
khác nhau con ngời có thể nhận thức đợc thế giới vật chất. Nh vậy, định nghĩa
vật chất của Lênin đã bác bỏ thuyết không thể biết, đã khắc phục đã khắc phục
đợc những khiếm khuyết trong các quan điểm siêu hình máy móc về vật chất.
Đồng thời định nghĩa vật chất của Lênin còn có ý nghĩa định hớng đối với khoa
học cụ thể trong việc tìm kiếm các dạng hoặc các hình thức mới của vật thể
trong thế giới.
Khi nhận thức đợc hiện tợng đời sống xã hội, định nghĩa vật chất của
Lênin cho phép xác định cái gì là vật chất trong lĩnh vực xã hội từ đó giúp các
nhà khoa học có cơ sở lý luận để giải thích những nguyên nhân cuối cùng của
biến cố xã hoịo, những nguyên nhân thuộc về sự vận động của phơng thức sản
xuất trên cơ sở ấy ngời ta có thể tìm ra các phơng án tối u để thúc đẩy xã hội
phát triển.
2. Vật chất và vận dụng
Trong triết học bàn về phạm trù vật chất luôn gắn liền với việc phải bàn
về tới các phạm trù liên quan tới sự tồn tại của nó. Đó là phạm trù vận động
không gian và thời gian. Đó là phạm trù vận động không gian và thời gian.
Những phạm trù trên xuất hiện sớm trong lịch sử triết học.
8
Tiểu luận triết học
Cùng với thời gian, nội dung của các phạm trù trên đã đợc làm phong phú
hơn, sâu sắc hơn nhờ sự phát triển của các khoa học cụ thể. Khác với khoa học
chuyên biệt, triết học không nghiên cứu những biểu hiện cụ thể của các phơng
thức tồn tại của vật chất mà chỉ làm sáng tỏ một số đặc trng phổ quát nhất của
cuộc vận động của vật chất trong không gian và thời gian.
Trớc hết ta cần xem khái niệm vận động là gì. Theo quan điểm của chủ
nghĩa duy vật biện chứng, vận động không chỉ là sự thay đổi vị trí trong không
gian (hình thức vận động thấp, giản đơn của vật chất) mà theo định nghĩa chung
"vận động là mọi sự biến đổi nói chung. Ph.Anghen viết: "vận động hiểu theo
nghĩa chung nhất( ) bao gồm tấ cả mọi sự thay đổi (theo) và quá trình diễn ra
trong vũ trụ, kể từ sự thay đổi vị trí đơn giản cho đến t duy"
1
.
Khi định nghĩa vận động là sự biến đổi nói chung thì vận động là "thuộc
tính cố hữu của vật chất" là phơng thức tồn tại của vật chất"
2
. Điều này có nghĩa
là vật chất tồn tại bằng cách vận động. Trong vận động và thông qua vận động
mà các dạng vật chất biểu hiện bộc lộ sự tồn tại của mình chỉ rõ mình là cái gì.
Không thể có vật chất mà không có vận động. Một khi chúng ta nhận thức đợc
những hình thức vận động của vật chất thì chúng ta nhận thức đợc bản thân vật
chất.
Với tính cách là thuộc tính cố hữu của vật chất, theo quan điểm của triết
học Mác Lênin vận động là sự tự thân vận động của vật chất đợc tạo nên từ sự
tác động lẫn nhau của các thành tố nội tại trong cấu trúc vật chất. Quan điểm
này đối lập với quan điểm duy tâm hoạc siêu hình về vận động. Những ngời
theo quan điểm duy tâm hoặc siêu hình không đi tìm nguồn gốc của vận động ở
bên trong bản thân của sự vật, mà đi tìm nguồn gốc ở ngoài sự vật. Quan điểm
sự tự thân vận động của vật chất đã đợc chứng minh bởi những thành tựu của
khoa học tự nhiên và ngày càng những phát kiến mới của khoa học tự nhiên
hiện đại càng khẳng định quan điểm đó.
Vật chất là vô hạn, vô tận không sinh ra không mất đi mà vận động là
thuộc tính không thể tách rời vật chất nên bản thân sự vận động cũng không thể
21, 2
C.Mác và Angen: Toàn tập NXB Chính trị quốc gia - Hà Nội
9
Tiểu luận triết học
tách rời vật chất nên bản thân sự vận động cũng không thể bị mất đi hoặc sáng
tạo ra. Kết luận này của triết học Mác Lênin đã đợc khẳng định bởi định luật
bảo toàn và chuyển hoá năng lợng theo định luật này, vận động, của vật chất đ-
ợc bảo toàn cả về mặt lợng và chất. Nếu một hình thức vận động nào đó của sự
vật bị mất đi thì tất yếu sẽ nảy sinh một hình thức vận động khác thay thế nó.
Các hình thức vận động chuyển hoá lẫn nhau, còn vận động của vật chất thì
vĩnh viễn, tồn tại cùng với sự tồn tại vĩnh viễn của vật chất. Thuyết tơng đối và
một số lý thuyết vật lý khác của Anhxtanh có bàn đến sự phụ thuộc lẫn nhau
giữa khối lợng và năng lợng (E - mc
2
), hay quy luật tơng đơng giữa khối lợng
biến thành năng lợng quy luật này là bằng chứng mới của khoa học tự nhiên về
sự thống nhất của vật chất và vận động cũng nh tính không thể sáng tạo ra và
tiêu diệt đợc của vật chất và vận động. Bằng chứng ấy đã phủ định quan điểm
của thuyết duy năng ra đời vào cuối thế kỷ XIX trong một bộ phận các nhà
khoa học tự nhiên đã quy tất cả những hiện tợng thiên nhiên thành những biến
thể khác nhau của năng lợng không có cơ sở vật chất. Đồng thời, bằng chứng ấy
cũng phủ định quan điểm của một số nhà triết học duy tâm muốn tách rời vận
động ra khỏi vật chất, thay thế khái niệm vật chất bằng khái niệm năng lợng.
Dựa trên những thành tựu của khoa học thời đại mình. PhAnghen đã phân
chia vận động thành 5 hình thức cơ bản. Từ đó cho đến nay khoa học hiện đại
đã phát hiện ra những hình thức tổ chức vật chất mới, do đó đã phát hiện ra
những hình thức mới của vận động. Chẳng hạn, khoa học đã chia hình thức vận
động của vật chất thành ba nhóm tơng ứng với ba lĩnh vực của thế giới vật chất
là nhóm thế giới vô sinh, nhóm hữu sinh và xã hội. Đồng thời khoa học còn
phát triển và bổ sung về các hình thức vận động cơ bản nh vấn đề quan hệ giữa
vận động cơ học và vật lý, giữa vật lý và hoá học, bản chất của vận động sinh
học, mối quan hệ giữa quá trình vật chất và tinh thần trong đời sống xã hội v.v
Tuy nhiên cách phân loại phổ biến, chung nhất cho đến nay vẫn là chia (hình
thức) vận động thành năm hình thức cơ bản sau:
1. Vận động cơ học: sự di chuyển vị trí của các vật thể trong không gian.
10
Tiểu luận triết học
2. Vận đông vật lý: Vận động của các phân tử, các hạt cơ bản, vận động
điện tử, các quá trình nhiệt điện
3. Vận động hoá học: vận động của các nguyên tử, các quá trình hoá hợp
và phân giải các chất.
4. Vận động sinh học: Trao đổi chất giữa cơ thể sống và môi trờng.
5. Vận động xã hội: Sự thay đổi, thay thế các quá trình xã hội của các
hình thái kinh tế xã hội.
Đối với sự phân loại vận động của vật chất thành 5 hình thức xác định nh
trên, cần chú ý nguyên tắc quan hệ giữa chúng là:
Các hình thức vận động nói trên khác nhau về chất. Từ vận động cơ học
đến vận động xã hội khác nhau về trình độ của sự vận động, những trình độ này
tơng ứng với trình độ của các kết cấu vật chất.
Các hình thức vận đọng cao dựa trên cơ sở các hình thức vận động thấp,
bao hàm trong nó tất cả các hình thức vận động thấp hơn. Trong khi đó, các
hình thức vận động thấp không có khả năng bao hàm các hình thức vận động ở
trình độ cao hơn. Bởi vậy, mọi sự quy giảm các hình thức vận động thấp đều là
sai lầm.
Trong sự tồn tại của mình, mỗi sự vật có thể gắn liền với nhiều hình thức
vận động khác nhau. Tuy nhiên bản thân tồn tại của sự vật đó bao giờ cũng đặc
trng bằng những hình thức vận động cơ bản. Ví dụ trong cơ thể sinh vật có các
hình thức vận động khác nhau nh vận động cơ học, vận động vật lý, vận động
hoá học, vận động sinh học, nhng hình thức vận động sinh học mới là đặc trng
cơ bản của (loài ngời) sinh vật. Vận động xã hội là hình thức đặc trng cho hoạt
động của con ngời.
Chính bằng sự phân loại các hình thức vận động cơ bản, Ph.Anghen đã
đặt cơ sở cho sự phân loại các khoa học tơng ứng đối với nghiên cứu của chúng
và chỉ ra cơ sở của khuynh hớng phân ngành và hợp ngành của các khoa học.
Ngoài ra t tởng về sự khác nhau về chất và thống nhất của các hình thức vận
động cơ bản còn là cơ sở để chống lại khuynh hớng sai lầm trong nhận thức là
quy hình thức vận động cao vào các hình thức vận động thấp và ngợc lại. Ví dụ
11
Tiểu luận triết học
từ giữa thế kỷ XIX, những ngời theo chủ nghĩa Đacuyn xã hội" muốn quy vận
động vật chất thành vận động sinh học, xem con ngời nh một sinh vật thông th-
ờng giải thích hoạt động của xã hội loài ngời trong phạm vi tác động của quy
luật sinh học là đấu tranh để sinh tồn. Họ cho rằng đấu tranh để sinh tồn dẫn
đến tiêu diệt lẫn nhau trong xã hội loài ngời là một hiện tợng tự nhiên. Về cơ
bản, chủ nghĩa "Đacuyn xã hội" là một học thuyết phản động nó đã cực đoan
hoá và làm méo mó học thuyết tiến hoá của Đacuyn. Nguyên nhân chính tạo ra
sai lầm này là những ngời theo học thuyết đó không thấy đợc sự khác nhau về
trình độ giữa vận động sinh học và vận động xã hội, họ quy giản một cách gợng
ép vận động xã hội về vận động sinh học.
Khi triết học Mác Lênin khẳng định thế giới vật chất tồn tại trong sự vận
động vĩnh cửu của nó thì điều đó không có nghĩa là phủ nhận hiện tợng đứng im
của thế giới vật chất. Trái lại triết học Mác - Lênin thừa nhận rằng, quá trình
vận động không ngừng của thế giới vật chất chẳng những không loại trừ mà còn
bao hàm trong nó hiện tợng đứng im tơng đối, không có hiện tợng đứng im tơng
đối thì không có sự vật nào tồn tại đợc. "Trong vận động của các thiên thể, có
vận động trong cân bằng và có vận động trong vận động. Nhng bất kỳ vận động
tơng đối riêng biệt nào ( ) cũng đều có xu h ớng khôi phục lại sự đứng yên t-
ơng đối của các vật thể khả năng cân bằng tạm thời là những điều kiện chủ yếu
của sự phân hoá của vật chất.
Đặc điểm cơ bản của hiện tợng đứng im tơng đối (hay trạng thái cân bằng
tạm thời của sự vật trong quá trình vận động của nó) là trớc hết hiện tợng đứng
im tơng đối chỉ xảy ra trong một mối quan hệ nhất định chứ không phải trong
mọi mối quan hệ cùng một lúc. Ta nói con tàu đứng im là trong mối quan hệ
bến cảng, còn so với mặt trời và các thiên thể khác thì nó vận động theo sự vận
động của quả đất. Thứ hai, đứng im chỉ xảy ra với một hình thái vận động trong
một lúc nào đó, chứ không phải với mọi hình thức vận động trong cùng một lúc.
Ta nói con tàu đứng im là nói vận động cơ học, nhng ngay lúc đó thì vận động
vật lý, vận động hoá học cứ diễn ra trong bản thân nó. Thứ ba, đứng im chỉ biểu
hiện trạng thái vận động của nó, đó là vận động trong thăng bằng trong sự ổn
12
Tiểu luận triết học
định tơng đối biểu hiện thành một sự vật, một cây, một con trong khi nó còn
là nó cha bị phân hoá thành cái khác. Chính nhờ trạng thái ổn định đó mà sự vật
thực hiện đợc di chuyển hoá tiếp theo, không có đứng im tơng đối thì không có
sự vật nào cả. Do đó đứng im còn đợc biểu hiện nh một quá trình vận động
trong phạm vi chất của sự vật còn ổn định, cha thay đổi. Thứ t, là vận dộng ổn
định nào đó, còn vận động nói chung tức là sự tác động qua lại lẫn nhau giữa sự
vật và hiện tợng làm cho tất cả không ngừng biến đổi. Vì thế đứng im chỉ là một
hiện tợng tạm thời. Ph.Anghen chỉ rõ: "vận động riêng biệt có xu hớng chuyển
thành cân bằng, vận động toàn bộ phá hoại sự cân bằng riêng biệt" và "mọi sự
cân bằng chỉ là tơng đối và tạm thời".
3. Không gian và thời gian
Trong triết học Mác Lênin cùng với phạm trù vận động thì không gian và
thời gian là những phạm trù đặc trng cho phơng thức tồn tại của vật chất.
VI.Lênin đã nhận xét rằng: "trong thế giới không có gì ngoài vật chất đang vận
động và vật chất đang vận động không thể vận động ở đâu ngoài thời gian và
không gian"
1
.
Trong lịch sử triết học khái niệm thời gian và không gian là những phạm
trù xuất hiện rất sớm. Ngay thời xa xa ngời ta đã hiểu rằng bất kỳ khách thể vật
chất nào đều chiếm một vị trí nhất định ở một khung cảnh nhất định trong tơng
quan về mặt kích thớc so với khách thể. Các hình thức tồn tại nh vậy của vật thể
đợc gọi là không gian. Bên cạnh các quan hệ không gian, sự tồn tại của các
khách thể vật chất còn đợc biều hiện ở mức độ tồn tại lâu dài hay mau chóng
của hiện tợng ở mức độ tồn tại lâu dài hay mau chóng của hiện tợng ở sự kế tiếp
trớc sau của các giai đoạn vận động. Những thuộc tính này đợc đặc trng bằng
phạm trù thời gian.
Tuy vậy trong lịch sử triết học xung quanh các phạm trù không gian và
thời gian đã từng có rất nhiều vấn đề gây tranh cãi, trong đó điều quan tâm trớc
hết là không gian và thời gian có hiện thực không hay đó chỉ là những trừu tợng
đơn thuần chỉ tồn tại trong ý thức của con ngời. Những ngời theo chủ nghĩa duy
1
VI.Lênin toàn tập, NXB Tiến bộ Matxcơva
13
Tiểu luận triết học
tâm phủ nhận tính khách quan của không gian và thời gian. Chẳng hạn Beccơli
và Hium con thời gian và không gian chỉ là nội dung của ý thức cá nhân. Cantơ
coi không gian và thời gian chỉ là hình thức của sự trực quan của con ngời chứ
không phải là thực tại khách quan.
Vào thế kỷ XVII - XVIII các nhà duy vật siêu hình tập trung phân tích
các khách thể vĩ mô, vận động trong tốc độ thông thờng nên đã tách rời không
gian và thời gian với vật chất. Niutơn cho rằng không gian và thời gian là những
thực thể đạc biệt không gắn bó gì với nhau và tồn tại độc lập bên cạnh vật chất
còn tơng tự nh các vật tồn tại độc lập bên cạnh nhau.
Trên cơ sở các thành tựu của khoa học và thực tiễn, chủ nghĩa duy vật
biện chứng cho rằng không gian và thời gian là những hình thức tồn tại khách
quan của vật chất. Không gian và thời gian gắn bó hết sức chặt chẽ với nhau và
gắn liền với vật chất, là phơng thức tồn tại của vật chất. Điều đó có nghĩa là
không có một dạng vật chất nào tồn tại ở bên ngoài không gian và thời gian.
Ngợc lại, cũng không thể có thời gian và không gian nào ở ngoài vật chất.
Ph.Angen viết: "các hình thức cơ bản của mọi tồn tại là không gian và thời gian,
tồn tại ngoài thời gian thì cũng vô lý nh tồn tại ngoài không gian"
1
. Lênin cho
rằng để chống lại mọi chủ nghĩa tín ngỡng và chủ nghĩa duy tâm thì phải "thừa
nhận một cách dứt khoát kiên quyết rằng những khái niệm đang phát triển của
chúng ta về không gian và thời gian đều phản ánh thời gian và không gian thực
tại khách quan, kinh nghiệm của chúng ta và nhận thức của chúng ta ngày càng
thích ứng với không gian và thời gian khách quan, ngày càng phản ánh đúng
đắn hơn và sâu sắc hơn"
2
.
Quan điểm của triết học duy vật biện chứng nh trên đợc xác nhận bởi
những thành tựu khoa học tự nhiên. Chẳng hạn Lôbatxépxki trong hình học phi
Ơcơlit của mình, bằng con đờng hớng vào bản thân thực tại và vào bản thân của
sự vật ông đã nêu lên định đề thứ 5 khác với Ơcơlit rằng: "Qua một điểm ở
ngoài đờng thẳng ngời ta có thể kẻ không phải là một mà ít nhất là hai đờng
thẳng song song với đờng thẳng đó". Sự phát triển của hình học phi Ơcơlit đã
1
Các Mác và Anghen: Toàn tập, NXB Chính trị quốc gia Hà Nội 1994
2
VI.Lênin: toàn tập, Nxb Tiến bộ, Matxcơva. 1980
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét